Hệ thống cấp chứng chỉ TVET Việt Nam trong kỷ nguyên chuyển dịch xanh
Khảo sát và phân tích các phương pháp, hệ thống cấp chứng chỉ cho chương trình TVET mô-đun và toàn phần tại Việt Nam liên quan đến năng lượng, hiệu quả năng lượng và công nghệ xanh.
Nhóm chuyên gia:viện nghiên cứu và phát triển châu á (AMDI)Cơ quan tiếp nhận:Đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam
Lưu ý
Trang web này trình bày các kết quả nghiên cứu sơ bộ nhằm phục vụ Hội thảo tham vấn và xác nhận kết quả nghiên cứu. Các phát hiện và nhận định trong báo chưa phải là kết luận cuối cùng và chỉ được sử dụng nội bộ cho mục đích xác nhận, trao đổi và thảo luận tại Hội thảo. Kính đề nghị đại biểu không sao chép, trích dẫn, công bố hoặc chia sẻ tài liệu và các kết quả nghiên cứu dưới bất kỳ hình thức nào. Báo cáo cuối cùng sau khi được hoàn thiện sẽ được gửi tới các đại biểu qua e-mail.
Tuyên bố miễn trừ trách nhiệm
Báo cáo này được thực hiện trong khuôn khổ hoạt động “Khảo sát và phân tích các phương pháp và hệ thống chứng chỉ cho các chương trình GDNN mô-đun và toàn phần tại Việt Nam liên quan đến năng lượng, hiệu quả năng lượng và công nghệ xanh” với sự tài trợ của Đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam. Các phân tích, nhận định và khuyến nghị trong báo cáo được xây dựng trên cơ sở các nguồn thông tin và bằng chứng được thu thập trong phạm vi nghiên cứu. Nội dung báo cáo phản ánh kết quả phân tích của Nhóm nghiên cứu và không nhất thiết thể hiện quan điểm chính thức của Đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam hoặc của các cơ quan, tổ chức và cá nhân tham gia cung cấp thông tin cho nghiên cứu.
Thông tin trong báo cáo được trình bày theo tình trạng và mức độ xác minh tại thời điểm nghiên cứu. Đối với các văn bản pháp luật, chính sách, CTĐT có thể tiếp tục được sửa đổi hoặc cập nhật, người sử dụng báo cáo cần tham chiếu nguồn chính thức khi sử dụng cho các mục đích pháp lý hoặc ra quyết định. Nhóm nghiên cứu, Đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam và các tổ chức, cá nhân liên quan không chịu trách nhiệm về những tác động do việc sử dụng thông tin, kết quả từ báo cáo này.
Bản quyền và sử dụng báo cáo
Báo cáo được xây dựng phục vụ mục đích nghiên cứu, tham khảo chính sách và hỗ trợ trao đổi giữa các bên liên quan về các phương pháp và hệ thống đào tạo, đánh giá và cấp văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận kỹ năng nghề tại Việt Nam. Việc trích dẫn, sử dụng hoặc phổ biến nội dung của báo cáo cần ghi rõ nguồn. Đối với các tài liệu, dữ liệu và nội dung của bên thứ ba được sử dụng trong báo cáo, quyền sở hữu và các điều kiện sử dụng tương ứng thuộc về chủ thể của tài liệu đó.
Lời cảm ơn
Nhóm nghiên cứu Viện Quản lý và Phát triển châu Á (AMDI) trân trọng cảm ơn Đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam đã hỗ trợ và phối hợp trong quá trình thực hiện nghiên cứu. Chúng tôi cũng chân thành cảm ơn các cơ quan QLNN, cơ sở GDNN, doanh nghiệp, hiệp hội, tổ chức quốc tế, chuyên gia, người học và người lao động đã dành thời gian chia sẻ thông tin, kinh nghiệm và những góc nhìn thực tiễn quan trọng để hoàn thiện báo cáo.
Mặc dù Nhóm nghiên cứu đã nỗ lực bảo đảm tính đầy đủ, chính xác và khách quan của nghiên cứu, song do thời gian thực hiện và nguồn lực có hạn, đặc biệt trong bối cảnh hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đang có nhiều thay đổi nhanh chóng, báo cáo không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế nhất định. Nhóm nghiên cứu rất mong nhận được sự quan tâm, góp ý và chia sẻ của quý độc giả để tiếp tục hoàn thiện và nâng cao chất lượng nghiên cứu.
"Giới thiệu và bối cảnh nghiên cứu"
SETTING THE SCENE
Giới thiệu và bối cảnh nghiên cứu
Kỹ năng nghề trong chuyển đổi xanh
Năng lượng
Công nghệ xanh
Kỹ năng nghề
Thách thức: Đào tạo và công nhận kỹ năng cần thích ứng với những thay đổi của công nghệ, sản xuất và thị trường lao động.
Hệ sinh thái công nhận kỹ năng nghề
Người học và người lao động
Cơ sở GDNN
Doanh nghiệp
Các tổ chức khác
Văn bằng · Chứng chỉ · Chứng nhận
Các khía cạnh được nghiên cứu
01
Nhận diện hệ thống
Các hình thức đào tạo và cấp chứng nhận
02
Phân tích vai trò
Trách nhiệm của các bên liên quan
03
Xem xét khả năng công nhận
Sử dụng và chuyển đổi kết quả giữa các hệ thống
BỐI CẢNH 01
Phát triển kỹ năng nghề trong chuyển đổi xanh
Sự phát triển của công nghệ, thay đổi trong quy trình sản xuất và các tiêu chuẩn nghề nghiệp mới đang làm gia tăng yêu cầu về chất lượng và khả năng thích ứng của lực lượng lao động. Người lao động không chỉ cần được đào tạo ban đầu mà còn phải liên tục cập nhật và nâng cao kỹ năng.
Nhu cầu kỹ năng trong lĩnh vực năng lượng
Yêu cầu về hiệu quả năng lượng và công nghệ xanh
Nhu cầu học tập và nâng cao kỹ năng suốt đời
Vai trò của việc công nhận kỹ năng đã tích lũy
Công nhận kỹ năng nghề giúp ghi nhận năng lực đã tích lũy và cung cấp thông tin về trình độ của người lao động.
TRỌNG TÂM NGHIÊN CỨU
VẤN ĐỀ 02
Nhiều hệ thống, nhiều hình thức công nhận
Tại Việt Nam, hoạt động đào tạo, đánh giá và cấp văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận được triển khai trong nhiều khuôn khổ khác nhau. Ngoài hệ thống giáo dục nghề nghiệp và đánh giá kỹ năng nghề quốc gia, doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp, tổ chức đào tạo chuyên ngành và đối tác quốc tế cũng tham gia phát triển và công nhận kỹ năng.
Hệ thống giáo dục nghề nghiệp
Hệ thống đánh giá kỹ năng nghề quốc gia
Doanh nghiệp và hiệp hội nghề nghiệp
Tổ chức đào tạo và đối tác quốc tế
Làm rõ mối quan hệ giữa các hệ thống là bước quan trọng để hiểu thực tiễn công nhận kỹ năng nghề.
VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
MỤC TIÊU 03
Khảo sát và phân tích hệ thống cấp chứng chỉ
Với sự hỗ trợ của Đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam, nhóm chuyên gia AMDI thực hiện nghiên cứu nhằm xây dựng bức tranh có hệ thống về các phương pháp và hình thức công nhận kết quả học tập, kỹ năng nghề đã tích lũy, tập trung vào các lĩnh vực liên quan đến năng lượng, hiệu quả năng lượng và công nghệ xanh.
Nhận diện các hệ thống và hình thức công nhận
Làm rõ vai trò và trách nhiệm của các bên
Phân tích quy trình đào tạo, đánh giá và cấp chứng nhận
Xem xét khả năng công nhận và chuyển đổi kết quả
01Rà soát chính sách
02Thu thập thông tin
03Phân tích thực tiễn
Sự cần thiết tiến hành nghiên cứu
Giáo dục nghề nghiệp (GDNN) và phát triển kỹ năng nghề có vai trò quan trọng trong việc mở rộng cơ hội học tập, trang bị kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, tạo nền tảng để người học tham gia thị trường lao động, tiếp tục học tập và phát triển nghề nghiệp trong suốt cuộc đời. Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh đổi mới GDNN, nâng cao chất lượng đào tạo và thúc đẩy học tập suốt đời, việc phát triển các chương trình đào tạo (CTĐT) có chất lượng, linh hoạt và phù hợp với nhu cầu của người học ngày càng trở nên cần thiết. Đồng thời, chuyển đổi xanh, chuyển dịch năng lượng và sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang làm thay đổi yêu cầu năng lực nghề nghiệp, đặc biệt trong các lĩnh vực hệ thống điện và lưới điện, năng lượng tái tạo, phương tiện giao thông điện, hạ tầng sạc xe điện và tự động hóa. Những thay đổi này không chỉ đòi hỏi đào tạo đội ngũ nhân lực mới mà còn đặt ra nhu cầu cập nhật, nâng cao và chuyển đổi kỹ năng đối với những người đang làm việc. Do đó, học tập và phát triển kỹ năng nghề cần được xem là một quá trình liên tục, gắn kết giữa giáo dục ban đầu, phát triển nghề nghiệp và học tập suốt đời.
Kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp được hình thành và phát triển thông qua nhiều con đường khác nhau. Bên cạnh các CTĐT toàn phần theo trình độ trong hệ thống GDNN, người học có thể tích lũy kiến thức, kỹ năng thông qua các mô-đun, khóa học ngắn hạn, CTĐT tại doanh nghiệp, chương trình theo tiêu chuẩn của hãng công nghệ hoặc tổ chức quốc tế, cũng như quá trình thực hành và tích lũy kinh nghiệm tại nơi làm việc. Tương ứng với những hình thức học tập này, các phương pháp đánh giá và hệ thống cấp văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận (VB–CC–CN) cũng được tổ chức theo các khuôn khổ khác nhau, bao gồm (i) hệ thống GDNN, (ii) hệ thống đánh giá kỹ năng nghề quốc gia và (iii) hệ thống chứng nhận gắn với thị trường lao động. Mỗi hệ thống có mục đích, phạm vi năng lực, tiêu chuẩn đánh giá, cơ chế bảo đảm chất lượng và thẩm quyền cấp khác nhau. Sự đa dạng này vừa tạo thêm cơ hội để người học và người lao động phát triển, ghi nhận năng lực, vừa đặt ra yêu cầu kết nối các hình thức học tập và kết quả đánh giá nhằm hỗ trợ những lộ trình học tập, phát triển nghề nghiệp linh hoạt hơn.
Tuy nhiên, mối quan hệ giữa đào tạo - đánh giá - cấp VB–CC–CN - công nhận kết quả học tập trong nội bộ một hệ thống hoặc giữa các hệ thống rất đa dạng và phức tạp. Việc một cá nhân đã được đào tạo, đánh giá hoặc cấp VB–CC–CN trong một hệ thống không đồng nghĩa với việc kết quả đó mặc nhiên được tổ chức khác công nhận để tuyển dụng, bố trí công việc, miễn trừ mô-đun, chuyển đổi tín chỉ hoặc tiếp tục học tập. Ngược lại, những năng lực hình thành thông qua học tập tại nơi làm việc và kinh nghiệm nghề nghiệp có thể chưa được thể hiện bằng VB–CC–CN nhưng vẫn có khả năng được xem xét, đánh giá và công nhận khi đáp ứng yêu cầu tương ứng. Vì vậy, vấn đề đặt ra không chỉ là những kết quả học tập và kỹ năng nghề được đánh giá, ghi nhận bằng hình thức nào, mà còn là chúng được xác minh, tin cậy, công nhận và sử dụng đến đâu trong hệ thống giáo dục, đào tạo và thị trường lao động.
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về thực trạng hệ thống GDNN và hoạt động học tập tại doanh nghiệp ở Việt Nam, các nghiên cứu chuyên sâu về mối quan hệ giữa đào tạo, đánh giá, cấp VB–CC–CN và công nhận kết quả học tập, kỹ năng nghề đã tích lũy còn hạn chế; thông tin và bằng chứng thực tiễn về các vấn đề này vẫn phân tán và chưa được tổng hợp đầy đủ. Khoảng trống bằng chứng này càng đáng quan tâm trong bối cảnh Việt Nam đang triển khai nhiều quy định mới về GDNN, đánh giá kỹ năng nghề và công nhận kết quả học tập. Do đó, cần có nghiên cứu mang tính hệ thống nhằm làm rõ cách thức các kết quả học tập và kỹ năng nghề được đánh giá, xác nhận, công nhận và sử dụng trong thực tiễn, đặc biệt là khả năng kết nối trong nội bộ mỗi hệ thống và giữa các hệ thống. Những bằng chứng này sẽ góp phần xác định các điều kiện thuận lợi, rào cản và yêu cầu triển khai, qua đó cung cấp cơ sở cho việc hoàn thiện chính sách và phát triển các lộ trình học tập, phát triển nghề nghiệp linh hoạt hơn.
Từ những vấn đề trên, việc nghiên cứu lập bản đồ và phân tích các phương pháp, hệ thống đào tạo, đánh giá và cấp VB–CC–CN kỹ năng nghề tại Việt Nam là cần thiết nhằm cung cấp bức tranh tổng thể và bằng chứng thực tiễn về đặc điểm, cơ chế vận hành và mối quan hệ giữa các hệ thống. Trên cơ sở đó, nghiên cứu góp phần làm rõ những cơ hội và thách thức trong việc nâng cao chất lượng, độ tin cậy và khả năng công nhận, sử dụng kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy; đồng thời cung cấp cơ sở cho đối thoại chính sách, tăng cường hợp tác giữa các cơ sở GDNN, doanh nghiệp và các bên liên quan, hướng tới phát triển những lộ trình học tập linh hoạt, hỗ trợ học tập suốt đời và đáp ứng yêu cầu phát triển kỹ năng nghề trong bối cảnh chuyển đổi xanh.
Mục đích và mục tiêu của nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu là cung cấp những hiểu biết dựa trên bằng chứng và có giá trị thực tiễn về các phương pháp và hệ thống đào tạo, đánh giá và cấp VB-CC-CN kỹ năng nghề tại Việt Nam, qua đó hỗ trợ cải cách, đối thoại chính sách và phát triển GDNN đáp ứng nhu cầu thị trường lao động. Nghiên cứu chú trọng tính minh bạch, độ tin cậy, giá trị sử dụng của các kết quả được cấp và khả năng kết nối với học tập suốt đời, phát triển nghề nghiệp, đặc biệt trong các lĩnh vực năng lượng, hiệu quả năng lượng và công nghệ xanh. Kết quả phục vụ đối thoại chính sách và hợp tác trong Chương trình SSC giai đoạn III giữa Bộ GDĐT/Cục GDNN-GDTX, cơ sở GDNN, người sử dụng lao động, hiệp hội doanh nghiệp, đối tác phát triển và các bên liên quan.
Mục tiêu của nghiên cứu
Trên cơ sở Điều khoản tham chiếu, mục tiêu chung của nghiên cứu là cung cấp bức tranh tổng quan có hệ thống và phân tích chuyên sâu về các phương pháp và hệ thống đào tạo, đánh giá và cấp VB-CC-CN kỹ năng nghề đang được áp dụng trong GDNN và các hoạt động phát triển kỹ năng có liên quan tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu bao gồm CTĐT toàn phần, mô-đun, khóa học ngắn hạn, đào tạo tại doanh nghiệp, học tập tại nơi làm việc và kinh nghiệm nghề nghiệp. Nghiên cứu làm rõ đặc điểm, cách thức tổ chức và vận hành, cơ chế bảo đảm chất lượng và vai trò của các bên liên quan; đồng thời phân tích thực trạng công nhận và sử dụng kết quả học tập, kỹ năng nghề đã tích lũy trong từng hệ thống và giữa các hệ thống, cùng những yếu tố thúc đẩy hoặc cản trở quá trình này. Trên cơ sở đó, nghiên cứu xác định những cơ hội, thách thức và hàm ý thực tiễn nhằm hỗ trợ nâng cao chất lượng GDNN, phát triển các lộ trình học tập linh hoạt, học tập suốt đời và phát triển nghề nghiệp, đặc biệt trong các lĩnh vực năng lượng, hiệu quả năng lượng và công nghệ xanh.
Trên cơ sở mục tiêu chung, các mục tiêu cụ thể bao gồm:
Mục tiêu 1. Nhận diện, phân loại và mô tả các phương pháp, hệ thống đào tạo, đánh giá và cấp VB-CC-CN kỹ năng nghề, cùng vai trò của các bên liên quan.
Xác định các nhóm VB-CC-CN và các phương pháp, hệ thống dẫn tới việc cấp những kết quả này; mô tả mục đích, đối tượng, tiêu chuẩn áp dụng, lĩnh vực ngành nghề, chủ thể cấp và phạm vi sử dụng. Phân tích các lộ trình đào tạo, đánh giá dẫn tới cấp một hoặc nhiều VB-CC-CN; cơ chế bảo đảm chất lượng; cũng như vai trò và sự tham gia thực tế của các bên liên quan trong xây dựng tiêu chuẩn, phát triển chương trình, tổ chức đào tạo, đánh giá, cấp và quản lý kết quả. Việc lập bản đồ bao quát cả kết quả được cấp sau khi hoàn thành CTĐT và kết quả được cấp trên cơ sở đánh giá kỹ năng nghề đã tích lũy.
Mục tiêu 2. Phân tích thực trạng công nhận và sử dụng VB-CC-CN, kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy trong từng hệ thống và giữa các hệ thống.
Khảo sát mức độ nhận biết, tin cậy, chấp nhận và sử dụng VB-CC-CN của cơ sở GDNN, doanh nghiệp, người học, người tốt nghiệp và người lao động trong tuyển dụng, bố trí công việc, tiếp tục học tập và phát triển nghề nghiệp. Làm rõ cách thức cung cấp, chia sẻ và tiếp cận thông tin về VB-CC-CN, cũng như khả năng xác minh và sử dụng những thông tin này. Đồng thời, xem xét thực tiễn ghi nhận, đánh giá và công nhận kết quả hình thành từ CTĐT chính quy, mô-đun, khóa học ngắn hạn, đào tạo tại doanh nghiệp, học tập tại nơi làm việc và kinh nghiệm nghề nghiệp; phân tích các lộ trình học tập liên thông, tích lũy, miễn trừ và chuyển đổi kết quả học tập, trong đó phân biệt việc sử dụng VB-CC-CN làm minh chứng với việc chính thức công nhận kết quả hoặc xác định tương đương giữa các chương trình, hệ thống.
Mục tiêu 3. Phân tích các yếu tố thúc đẩy hoặc cản trở việc công nhận và sử dụng kết quả học tập, kỹ năng nghề đã tích lũy trong từng hệ thống và giữa các hệ thống.
Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến việc công nhận và sử dụng kết quả, bao gồm sự tương thích giữa các tiêu chuẩn và khả năng đối sánh năng lực; phương thức đánh giá, cơ chế bảo đảm chất lượng và mức độ tin cậy giữa các chủ thể; tính đầy đủ, minh bạch và khả năng xác minh thông tin, minh chứng; động lực, lợi ích và nguồn lực tham gia của cơ sở GDNN, doanh nghiệp, người học và người lao động; cũng như điều kiện thể chế, năng lực tổ chức và các công cụ triển khai. Trên cơ sở đối chiếu các trường hợp thực tiễn, làm rõ những yếu tố giải thích sự khác biệt về mức độ công nhận và sử dụng kết quả giữa các tổ chức, hệ thống; đồng thời nhận diện những điều kiện thuận lợi, rào cản và thực tiễn tốt có thể hỗ trợ tăng cường công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy.
Mục tiêu 4. Phân tích hàm ý thực tiễn của các cải cách pháp luật và những thay đổi về nhu cầu kỹ năng đối với hoạt động đào tạo, đánh giá, cấp VB-CC-CN và công nhận kết quả học tập, kỹ năng nghề đã tích lũy.
Xem xét những cơ hội, thách thức và yêu cầu triển khai đặt ra từ các quy định pháp luật mới về GDNN, đánh giá, cấp VB-CC-CN, công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, trong đó có Thông tư số 10/2026/TT-BGDĐT và các quy định liên quan. Làm rõ quan điểm, mức độ sẵn sàng, trách nhiệm và những điều kiện cần thiết đối với cơ sở GDNN, doanh nghiệp, cơ quan quản lý và các bên liên quan trong việc áp dụng các cơ chế mới, đặc biệt về bảo đảm chất lượng đánh giá, công nhận kỹ năng nghề đã tích lũy và phát triển các lộ trình học tập linh hoạt. Đồng thời, xem xét sự phù hợp của các phương pháp đào tạo, đánh giá và chứng nhận hiện có với những yêu cầu kỹ năng đang thay đổi; từ đó rút ra các hàm ý và khuyến nghị có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng GDNN, tăng cường tính minh bạch và độ tin cậy của VB-CC-CN, hỗ trợ học tập suốt đời và phát triển nghề nghiệp trong các lĩnh vực năng lượng, hiệu quả năng lượng và công nghệ xanh.
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung
Nghiên cứu tập trung vào các phương pháp và hệ thống đào tạo, đánh giá và cấp VB-CC-CN kỹ năng nghề tại Việt Nam, được lập bản đồ theo ba nhóm: (1) VB-CC-CN gắn với hệ thống GDNN; (2) chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; và (3) chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận gắn với hệ thống thị trường lao động. Các nhóm này là khung phân loại phục vụ nghiên cứu, không hàm ý ba hệ thống hoàn toàn tách biệt. Nội dung nghiên cứu bao gồm mục đích, đối tượng, tiêu chuẩn áp dụng, chương trình và lộ trình đào tạo, phương thức đánh giá, điều kiện và thẩm quyền cấp VB-CC-CN, cơ chế bảo đảm chất lượng, cung cấp và chia sẻ thông tin, mức độ nhận biết, tin cậy và giá trị sử dụng của các kết quả được cấp. Bên cạnh việc lập bản đồ các phương pháp và hệ thống nêu trên, nghiên cứu xem xét cách thức kết quả học tập và kỹ năng nghề hình thành từ CTĐT chính quy, mô-đun, khóa học ngắn hạn, đào tạo tại doanh nghiệp, học tập tại nơi làm việc và kinh nghiệm nghề nghiệp được ghi nhận, đánh giá, công nhận và sử dụng trong thực tiễn. Trong đó, việc cấp VB-CC-CN được phân biệt với việc cơ sở đào tạo, doanh nghiệp hoặc chủ thể có thẩm quyền tiếp nhận và công nhận các kết quả đã tích lũy cho những mục đích cụ thể, bao gồm tiếp tục học tập, liên thông, miễn trừ hoặc chuyển đổi kết quả học tập, tuyển dụng và phát triển nghề nghiệp. Khả năng công nhận và sử dụng kết quả trong từng hệ thống và giữa các hệ thống được xem xét trên cơ sở các quy định hiện hành và bằng chứng thực tiễn thu thập được.
Đối với chứng chỉ, chứng nhận theo tiêu chuẩn quốc tế hoặc do tổ chức nước ngoài cung cấp tại Việt Nam, nghiên cứu chỉ xem xét việc triển khai và sử dụng trong GDNN, thị trường lao động Việt Nam. Bên cạnh đó, nghiên cứu không xem xét vấn đề công nhận tương đương văn bằng giữa Việt Nam và các quốc gia khác, thỏa thuận công nhận lẫn nhau cấp khu vực hoặc quốc tế, hay công nhận kỹ năng phục vụ dịch chuyển lao động xuyên biên giới; không xem xét các kỳ thi tay nghề, hội thi kỹ năng nghề cấp quốc gia, khu vực hoặc thế giới.
Phạm vi lĩnh vực ngành nghề
Nghiên cứu chỉ tập trung vào các lĩnh vực có liên quan trực tiếp đến chuyển đổi xanh, chuyển dịch năng lượng và nhu cầu phát triển kỹ năng nghề tại Việt Nam, bao gồm các nhóm lĩnh vực ưu tiên: (1) hệ thống điện và lưới điện; (2) năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió và điện mặt trời; (3) phương tiện giao thông điện, tập trung vào công nghệ và kỹ thuật phương tiện; (4) tự động hóa và điều khiển số (gắn với hiệu quả năng lượng). Ngoài các lĩnh vực ưu tiên, nghiên cứu có thể tham chiếu một số trường hợp thuộc lĩnh vực khác để làm rõ đặc điểm của các hệ thống VB-CC-CN khi cần thiết.
Phạm vi đối tượng khảo sát
Nghiên cứu tập trung vào các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc xây dựng chính sách, tổ chức đào tạo, đánh giá, công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy, cấp và sử dụng VB-CC-CN. Các nhóm đối tượng bao gồm cơ quan quản lý nhà nước (QLNN); cơ sở GDNN, chủ yếu là các trường cao đẳng; doanh nghiệp; các đơn vị cung cấp dịch vụ đào tạo, đánh giá và chứng nhận; hiệp hội, tổ chức đại diện doanh nghiệp; các tổ chức quốc tế, đối tác phát triển và chuyên gia có liên quan. Phạm vi khảo sát được lựa chọn có chủ đích, không nhằm bảo đảm tính đại diện thống kê cho toàn bộ cơ sở GDNN, doanh nghiệp hoặc các tổ chức cấp VB-CC-CN tại Việt Nam.
Phạm vi thời gian
Nghiên cứu xem xét các chính sách, quy định và thực tiễn đào tạo, đánh giá, công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy, cấp và sử dụng VB-CC-CN trong giai đoạn từ năm 2023 đến thời điểm thực hiện nghiên cứu năm 2026, trong đó đặc biệt tập trung vào những thay đổi trong giai đoạn 2025–2026. Đây là giai đoạn Việt Nam tiến hành đổi mới mạnh mẽ về thể chế và tổ chức quản lý GDNN, với việc ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục năm 2025, Luật GDNN năm 2025, và Luật Việc làm năm 2025, cùng hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành. Do tính chất phức tạp của hệ thống văn bản pháp lý - thực tiễn trong giai đoạn chuyển tiếp, nghiên cứu sẽ phân biệt giữa những quy định mới được ban hành, các cơ chế đang trong quá trình triển khai và thực tiễn đã/đang được áp dụng.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu tại chỗ nhằm thu thập, tổng hợp và phân tích thông tin thứ cấp về các phương pháp và hệ thống đào tạo, đánh giá và cấp VB-CC-CN kỹ năng nghề tại Việt Nam, cùng việc đánh giá, công nhận và sử dụng kết quả học tập, kỹ năng nghề trong từng hệ thống và giữa các hệ thống. Nguồn tài liệu được chia thành ba nhóm chính: (1) các chủ trương, chính sách của Đảng và văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là những quy định về GDNN, phát triển kỹ năng nghề, văn bằng, chứng chỉ, đào tạo, đánh giá, công nhận và chuyển đổi kết quả học tập; (2) các tài liệu, thông tin được công bố trên website chính thức của cơ quan QLNN, cơ sở GDNN, doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp, tổ chức đào tạo, đánh giá và cấp chứng nhận, bao gồm thông tin về CTĐT, tiêu chuẩn áp dụng, hình thức đánh giá, loại VB-CC-CN được cấp và phạm vi sử dụng; và (3) các báo cáo, nghiên cứu và tài liệu về kinh nghiệm quốc tế nhằm cung cấp cơ sở tham khảo về hệ thống cấp VB-CC-CN, phát triển kỹ năng, đánh giá và công nhận kết quả học tập. Quá trình nghiên cứu tài liệu được thực hiện thông qua tìm kiếm, lựa chọn, phân loại, trích xuất và tổng hợp thông tin theo các nội dung nghiên cứu, đồng thời chú trọng kiểm tra nguồn gốc, thời điểm ban hành hoặc cập nhật và mức độ tin cậy của tài liệu. Thông tin thứ cấp được đối chiếu với dữ liệu phỏng vấn sâu để bổ sung, làm rõ và xác minh những vấn đề được ghi nhận; trong đó có sự phân biệt giữa quy định pháp luật, thông tin do tổ chức công bố và thực tiễn triển khai được xác nhận qua khảo sát.
Tài liệu về chủ trương, chính sách của Đảng và văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước
Nhóm tài liệu thứ nhất bao gồm các nghị quyết, chỉ thị, kết luận và văn bản định hướng chính sách của Đảng; các luật, nghị định, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, thông tư và những văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến GDNN, phát triển kỹ năng nghề, giáo dục thường xuyên và thị trường lao động. Việc rà soát tập trung vào các quy định về hệ thống giáo dục quốc dân, khung trình độ quốc gia, khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia, tổ chức và quản lý đào tạo, các loại văn bằng, chứng chỉ, tiêu chuẩn kỹ năng nghề, tổ chức đánh giá và cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, cũng như các cơ chế tích lũy, công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, năng lực nghề nghiệp. Nghiên cứu xem xét các văn bản trong mối quan hệ với hệ thống pháp luật hiện hành, chú trọng những thay đổi từ năm 2025 đến năm 2026 khi các luật mới về giáo dục, GDNN và việc làm được ban hành cùng những văn bản hướng dẫn thi hành. Đối với mỗi quy định có liên quan, Nhóm nghiên cứu phân biệt thời điểm ban hành, thời điểm có hiệu lực, phạm vi điều chỉnh và các quy định chuyển tiếp, đồng thời đối chiếu những nội dung được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế. Việc phân tích nhóm tài liệu này nhằm làm rõ khuôn khổ thể chế và pháp lý điều chỉnh các hoạt động đào tạo, đánh giá, cấp VB-CC-CN và công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy, đồng thời cung cấp căn cứ để đối chiếu với những thông tin về thực tiễn triển khai được thu thập từ các bên liên quan.
Tài liệu và thông tin được công bố trên các website
Nhóm tài liệu thứ hai bao gồm thông tin được công bố trên website và các kênh thông tin chính thức của cơ quan QLNN, cơ sở GDNN, doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp, tổ chức đào tạo, đánh giá và cấp chứng nhận trong nước hoặc quốc tế. Đây là nguồn tài liệu được sử dụng để nhận diện các CTĐT, hoạt động đánh giá kỹ năng và những hình thức VB-CC-CN đang được giới thiệu, cung cấp hoặc áp dụng trong các lĩnh vực ngành nghề thuộc phạm vi nghiên cứu. Các thông tin được tìm kiếm và trích xuất bao gồm tên chương trình, ngành nghề hoặc lĩnh vực đào tạo; đối tượng tham gia; nội dung, thời lượng và hình thức đào tạo; tiêu chuẩn kỹ năng hoặc chuẩn đầu ra được áp dụng; phương thức kiểm tra, đánh giá; tổ chức đào tạo, tổ chức đánh giá và tổ chức cấp VB-CC-CN; tên gọi, hình thức và phạm vi sử dụng của kết quả được cấp. Đối với các CTĐT theo tiêu chuẩn của doanh nghiệp hoặc tổ chức quốc tế, việc rà soát còn chú trọng xác định chủ thể xây dựng tiêu chuẩn, cơ chế ủy quyền tổ chức đào tạo hoặc đánh giá và mối quan hệ giữa đơn vị cung cấp khóa học với tổ chức cấp chứng nhận.
Việc lựa chọn và sử dụng tài liệu trực tuyến ưu tiên các nguồn chính thức, có thể xác định được cơ quan hoặc tổ chức công bố, nội dung và thời điểm cập nhật. Nhóm nghiên cứu ghi nhận đường dẫn nguồn để phục vụ đối chiếu và kiểm tra lại thông tin khi cần thiết. Đặc biệt, các thông tin quảng bá khóa học, giới thiệu dịch vụ hoặc mô tả các loại chứng chỉ được cấp trên website không được mặc nhiên coi là bằng chứng xác nhận chương trình đang hoạt động, đã có người hoàn thành hoặc chứng chỉ đã được cấp trên thực tế. Những thông tin chưa rõ về thẩm quyền cấp, tiêu chuẩn áp dụng, giá trị sử dụng hoặc tình trạng triển khai được tiếp tục đối chiếu với các tài liệu liên quan và thông tin phỏng vấn. Cách tiếp cận này giúp phân biệt giữa nội dung được tổ chức công bố, các điều kiện được quy định và thực tiễn thực hiện.
Tài liệu về kinh nghiệm và thực tiễn quốc tế
Nhóm tài liệu thứ ba bao gồm các báo cáo nghiên cứu, hướng dẫn kỹ thuật, tài liệu chính sách và tài liệu tổng kết kinh nghiệm quốc tế liên quan đến hệ thống trình độ, chứng chỉ nghề nghiệp, tiêu chuẩn kỹ năng, đánh giá năng lực, công nhận kết quả học tập đã tích lũy và phát triển kỹ năng nghề. Các tài liệu được tham khảo chủ yếu từ những tổ chức quốc tế có hoạt động nghiên cứu và hỗ trợ chính sách trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo và thị trường lao động như ILO, UNESCO, OECD, Ngân hàng Thế giới, cùng các tổ chức và đối tác phát triển có chuyên môn liên quan. Nội dung rà soát tập trung vào những cách tiếp cận đối với việc phân loại văn bằng, chứng chỉ và chứng nhận; tổ chức đánh giá và xác nhận năng lực nghề nghiệp; công nhận kết quả học tập chính quy, không chính quy và phi chính thức; phát triển các CTĐT theo mô-đun; cũng như các cơ chế hỗ trợ học tập suốt đời và nâng cao kỹ năng của người lao động. Đối với các lĩnh vực liên quan đến chuyển đổi xanh và chuyển dịch năng lượng, nghiên cứu cũng tham khảo tài liệu quốc tế về yêu cầu kỹ năng, tiêu chuẩn nghề nghiệp và những mô hình đào tạo, chứng nhận chuyên ngành.
Việc tham khảo kinh nghiệm quốc tế chủ yếu nhằm cung cấp cơ sở khái niệm, cách tiếp cận và thông tin đối chiếu để hiểu rõ hơn các phương pháp đào tạo, đánh giá, cấp VB-CC-CN và các cơ chế công nhận, sử dụng kết quả học tập, kỹ năng nghề đã tích lũy. Các mô hình và thực tiễn quốc tế được xem xét trong bối cảnh thể chế, hệ thống giáo dục và thị trường lao động nơi chúng được triển khai, không mặc nhiên được coi là có thể áp dụng trực tiếp hoặc có giá trị tương đương tại Việt Nam. Phù hợp với phạm vi nghiên cứu, việc rà soát không đi sâu vào cơ chế công nhận tương đương VB-CC-CN giữa Việt Nam với các quốc gia khác, các thỏa thuận công nhận lẫn nhau trong khu vực ASEAN hoặc các cơ chế công nhận kỹ năng phục vụ di cư lao động quốc tế.
Quy trình rà soát, tổng hợp và đối chiếu tài liệu
Quá trình nghiên cứu tài liệu được thực hiện theo các bước tìm kiếm và xác định nguồn; sàng lọc tài liệu theo mức độ liên quan, tính cập nhật và độ tin cậy; phân loại theo nhóm nguồn và nội dung nghiên cứu; trích xuất, tổng hợp và đối chiếu thông tin. Đối với các văn bản chính sách, pháp luật, trọng tâm là xác định quy định hiện hành và những thay đổi có liên quan đến các hệ thống VB-CC-CN. Đối với tài liệu trên website, trọng tâm là nhận diện những hình thức đào tạo, đánh giá, cấp và sử dụng VB-CC-CN, đồng thời kiểm tra tính xác thực và tình trạng triển khai của thông tin được công bố. Đối với tài liệu quốc tế, trọng tâm là tổng hợp các khái niệm, cách tiếp cận và kinh nghiệm có giá trị tham khảo. Thông tin từ ba nhóm tài liệu được tổ chức theo các nội dung phân tích của nghiên cứu, bao gồm đặc điểm của các hệ thống VB-CC-CN, cách thức vận hành, các bên liên quan, mức độ công nhận và những yếu tố có liên quan. Trong quá trình phân tích, Nhóm nghiên cứu đối chiếu thông tin tài liệu với kết quả phỏng vấn sâu, ghi nhận những điểm thống nhất, khác biệt hoặc chưa đủ bằng chứng xác nhận. Đặc biệt, trong bối cảnh hệ thống pháp luật về GDNN và phát triển kỹ năng nghề có nhiều thay đổi trong giai đoạn 2025–2026, việc kiểm tra tính hiệu lực và cập nhật của văn bản được chú trọng nhằm tránh nhầm lẫn giữa các quy định trước đây, quy định mới ban hành và thực tiễn triển khai tại thời điểm khảo sát.
Phỏng vấn sâu
Người tham gia phỏng vấn sâu được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp với chọn mẫu quả bóng tuyết, nhằm tiếp cận các nhóm chủ thể có vai trò, kinh nghiệm và hiểu biết trực tiếp về hoạt động đào tạo, đánh giá, cấp VB-CC-CN, công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy và kỹ năng nghề nghiệp tại Việt Nam. Ban đầu, Nhóm nghiên cứu xác định các nhóm bên liên quan, lập danh sách những cơ quan, tổ chức và cá nhân phù hợp với phạm vi nghiên cứu, sau đó chủ động liên hệ và mời tham gia phỏng vấn. Trong quá trình thu thập dữ liệu, thông qua các cuộc phỏng vấn và liên hệ ban đầu, Nhóm nghiên cứu tiếp tục xác định, tiếp cận thêm những cá nhân và tổ chức có thông tin liên quan, từng bước mở rộng mẫu để làm rõ các vấn đề phát sinh và bổ sung những góc nhìn còn thiếu. Danh sách khảo sát gồm 45 người thuộc bảy nhóm được mã hóa, bao gồm 17 đại diện cơ sở GDNN, 11 đại diện doanh nghiệp, 4 đại diện đơn vị đào tạo, 4 đại diện cơ quan nhà nước, 3 đại diện hiệp hội trong nước, 6 đại diện tổ chức quốc tế và 1 chuyên gia thuộc cơ sở giáo dục đại học. Người tham gia đảm nhiệm nhiều vị trí công tác khác nhau, từ lãnh đạo, cán bộ quản lý đào tạo, chuyên gia kỹ thuật, nhân sự và phát triển nguồn nhân lực đến cán bộ phụ trách chính sách, bảo đảm chất lượng, hợp tác doanh nghiệp và các chương trình phát triển quốc tế. Cách tiếp cận này tạo điều kiện thu thập thông tin từ nhiều góc độ quản lý, cung cấp đào tạo, đánh giá năng lực và sử dụng lao động, phù hợp với tính đa dạng của các hệ thống VB-CC-CN và phạm vi ngành nghề được nghiên cứu.
Bảng 1. Mô tả người tham gia phỏng vấn sâu
Nhóm đối tượng
Mã
Số người
Tỷ lệ
Cơ sở GDNN
CĐ
17
37,8%
Doanh nghiệp
DN
11
24,4%
Đơn vị đào tạo
TT
4
8,9%
Cơ quan nhà nước
NN
4
8,9%
Hiệp hội
HH
3
6,7%
Tổ chức quốc tế
QT
6
13,3%
Chuyên gia
CG
1
2,2%
Tổng cộng
45
100,0%
Chi tiết về người tham gia phỏng vấn sâu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất, kết hợp giữa chọn mẫu có chủ đích và chọn mẫu quả bóng tuyết. Trong giai đoạn đầu, việc lựa chọn người tham gia được thực hiện có chủ đích trên cơ sở vai trò của cơ quan, tổ chức trong các hoạt động đào tạo, đánh giá, cấp VB-CC-CN, công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy; mức độ liên quan đến những lĩnh vực ngành nghề ưu tiên; cũng như kinh nghiệm chuyên môn và khả năng cung cấp thông tin của cá nhân được lựa chọn. Các nhóm đối tượng được xác định bao gồm cơ quan QLNN, cơ sở GDNN, doanh nghiệp, đơn vị đào tạo, hiệp hội nghề nghiệp, tổ chức quốc tế và chuyên gia có chuyên môn liên quan.
Quá trình lựa chọn người tham gia được triển khai theo hướng kết hợp giữa kế hoạch ban đầu và điều chỉnh linh hoạt trong quá trình khảo sát. Trước hết, Nhóm nghiên cứu xác định các nhóm bên liên quan và lập danh sách những cơ quan, tổ chức có hoạt động phù hợp với phạm vi nghiên cứu, trong đó chú trọng các cơ sở GDNN đào tạo những ngành nghề ưu tiên, doanh nghiệp đang sử dụng hoặc phát triển nhân lực kỹ thuật, các tổ chức cung cấp đào tạo và chứng nhận nghề nghiệp, hiệp hội ngành nghề, cơ quan QLNN và đối tác phát triển quốc tế. Trên cơ sở danh sách này, Nhóm nghiên cứu liên hệ với các đầu mối phù hợp để giới thiệu nghiên cứu, xác định người có khả năng cung cấp thông tin và thống nhất việc tham gia phỏng vấn. Sau các cuộc phỏng vấn và liên hệ ban đầu, phương pháp chọn mẫu quả bóng tuyết được sử dụng để tiếp tục nhận diện các cá nhân, tổ chức hoặc mô hình có liên quan thông qua thông tin, giới thiệu và gợi ý từ những người đã tiếp cận. Những đầu mối mới được xem xét về mức độ phù hợp với nội dung nghiên cứu trước khi tiếp tục liên hệ, qua đó mở rộng dần phạm vi thu thập thông tin và hỗ trợ làm rõ những vấn đề chưa được phản ánh đầy đủ trong các cuộc phỏng vấn trước đó. Việc thu thập dữ liệu được kết thúc khi nghiên cứu đạt tới tình trạng bão hoà dữ liệu, có nghĩa là khi các cuộc phỏng vấn mới không giúp thu thập thêm dữ liệu mới.
Theo danh sách tổng hợp, có 45 người tham gia được phân thành bảy nhóm đối tượng. Nhóm cơ sở GDNN có 17 người, chiếm tỷ trọng lớn nhất, bao gồm lãnh đạo trường, trưởng hoặc phó phòng đào tạo, trưởng khoa chuyên môn, cán bộ phụ trách khảo thí và bảo đảm chất lượng, hợp tác doanh nghiệp và phát triển chương trình. Nhóm doanh nghiệp có 11 người, giữ các vị trí quản lý, kỹ thuật, nhân sự, đào tạo và vận hành tại những doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực ô tô điện, điện, năng lượng tái tạo, điện lạnh, xây dựng và công nghệ. Bốn người thuộc nhóm đơn vị đào tạo có kinh nghiệm liên quan đến đào tạo an toàn lao động, đào tạo kỹ thuật, công nghệ và các hoạt động đào tạo chuyên ngành. Nhóm cơ quan nhà nước có 4 người, chủ yếu công tác trong những đơn vị liên quan đến quản lý GDNN, phát triển kỹ năng nghề, nghiên cứu chính sách và bảo đảm chất lượng. Bên cạnh đó, nghiên cứu có sự tham gia của 3 đại diện hiệp hội nghề nghiệp và tổ chức đại diện doanh nghiệp, 6 đại diện các tổ chức quốc tế hoặc chương trình hợp tác phát triển, cùng 1 chuyên gia thuộc cơ sở giáo dục đại học có chuyên môn về quản lý năng lượng. Thành phần này phản ánh sự đa dạng về vị trí công tác, phạm vi chuyên môn và môi trường hoạt động của người tham gia phỏng vấn.
Danh sách người tham gia bao phủ nhiều lĩnh vực có liên quan đến phạm vi nghiên cứu, bao gồm hệ thống điện và năng lượng, năng lượng tái tạo, công nghệ ô tô, điện lạnh và điều hòa không khí, tự động hóa, cơ khí, xây dựng và an toàn lao động. Trong nhóm cơ sở GDNN, người tham gia có kinh nghiệm trực tiếp về tổ chức CTĐT, quản lý kết quả học tập, khảo thí, bảo đảm chất lượng và hợp tác với doanh nghiệp. Ở nhóm doanh nghiệp, người tham gia có hiểu biết về yêu cầu kỹ năng của vị trí việc làm, các hoạt động đào tạo kỹ thuật, đào tạo nội bộ, phát triển nhân lực và những tiêu chuẩn nghề nghiệp được áp dụng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đại diện các đơn vị đào tạo cung cấp góc nhìn về tổ chức các khóa đào tạo chuyên ngành, trong khi các cơ quan QLNN, hiệp hội và tổ chức quốc tế bổ sung thông tin về chính sách, tiêu chuẩn kỹ năng nghề, phát triển ngành nghề, hợp tác đào tạo và các chương trình hỗ trợ kỹ thuật. Sự kết hợp giữa các nhóm đối tượng này tạo điều kiện xem xét những vấn đề nghiên cứu từ các góc độ thể chế, tổ chức đào tạo và sử dụng lao động, thay vì chỉ dựa vào thông tin từ một nhóm chủ thể riêng lẻ.
Việc kết hợp chọn mẫu có chủ đích với chọn mẫu quả bóng tuyết phù hợp với đặc điểm của nghiên cứu định tính, nhất là khi các hoạt động đào tạo, đánh giá và cấp VB-CC-CN được thực hiện bởi nhiều loại hình tổ chức, trong khi thông tin về một số chương trình và cơ chế chứng nhận chưa được tổng hợp tập trung. Chọn mẫu có chủ đích giúp bảo đảm sự tham gia của những nhóm chủ thể và lĩnh vực được xác định ngay từ đầu, còn chọn mẫu quả bóng tuyết hỗ trợ tiếp cận thêm các nguồn thông tin chuyên biệt được nhận diện trong quá trình khảo sát. Tuy nhiên, do người tham gia không được lựa chọn bằng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên, cơ cấu mẫu có thể chịu ảnh hưởng của khả năng tiếp cận, mạng lưới liên hệ và mức độ sẵn sàng tham gia phỏng vấn của từng cơ quan, tổ chức. Vì vậy, kết quả phỏng vấn được sử dụng để phân tích và đối chiếu các kinh nghiệm, mô hình và vấn đề được ghi nhận trong phạm vi nghiên cứu, không nhằm suy rộng về mặt thống kê cho toàn bộ hệ thống GDNN, doanh nghiệp hoặc các tổ chức đào tạo, chứng nhận tại Việt Nam.
Thông tin thu thập từ các cuộc phỏng vấn sâu được tổng hợp và phân tích theo các chủ đề chính của nghiên cứu, bao gồm đặc điểm của các hệ thống VB-CC-CN, cách thức tổ chức đào tạo, đánh giá và cấp VB-CC-CN, vai trò của các bên liên quan, mức độ công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy và sử dụng kết quả được công nhận, cùng những yếu tố ảnh hưởng đến thực tiễn triển khai. Dữ liệu được phân loại theo nhóm đối tượng phỏng vấn, gồm cơ quan QLNN, cơ sở GDNN, doanh nghiệp, đơn vị đào tạo, hiệp hội nghề nghiệp, tổ chức quốc tế và chuyên gia, nhằm nhận diện những điểm tương đồng, khác biệt và các góc nhìn đặc thù giữa các nhóm chủ thể. Các thông tin và ví dụ thực tiễn được xem xét trong bối cảnh cụ thể của từng cơ quan, tổ chức, đồng thời đối chiếu giữa các cuộc phỏng vấn và với kết quả nghiên cứu tài liệu, thảo luận nhóm để bổ sung, làm rõ hoặc xác minh những nội dung chưa thống nhất. Trong quá trình tổng hợp, Nhóm nghiên cứu chú trọng phân biệt giữa quy định pháp luật, thực tiễn đã được triển khai và nhận định của người tham gia, đồng thời ghi nhận những trường hợp có ý kiến khác nhau hoặc chưa đủ bằng chứng xác nhận.
Thảo luận nhóm
Nghiên cứu sử dụng phương pháp thảo luận nhóm tập trung nhằm thu thập thông tin từ góc nhìn của người học và người đã tốt nghiệp GDNN về quá trình tham gia đào tạo, đánh giá, cấp và sử dụng VB-CC-CN, cũng như việc phát triển và công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy. Hoạt động thảo luận nhóm được thiết kế với hai nhóm đối tượng gồm 10 sinh viên đang theo học các ngành Kỹ thuật điện lạnh và Công nghệ Ô tô của 1 trường cao đẳng khu vực miền Bắc, và 5 cựu sinh viên đã tốt nghiệp các ngành Điện công nghiệp, Năng lượng mặt trời, Kỹ thuật điện lạnh tại các trường cao đẳng khu vực miền Trung. Người tham gia được lựa chọn có chủ đích nhằm phản ánh những trải nghiệm khác nhau giữa người đang trong quá trình đào tạo và người đã hoàn thành chương trình, đồng thời bảo đảm sự đa dạng nhất định về ngành nghề, cơ sở đào tạo và bối cảnh học tập/làm việc. Nội dung thảo luận tập trung vào trải nghiệm học tập, hoạt động thực hành và thực tập tại doanh nghiệp, các loại VB-CC-CN được tiếp cận hoặc được cấp, nhận thức về giá trị sử dụng của VB-CC-CN, nhu cầu đào tạo bổ sung và khả năng sử dụng kết quả học tập, kỹ năng đã tích lũy. Thông tin từ các cuộc thảo luận nhóm được tổng hợp, phân tích và đối chiếu với dữ liệu phỏng vấn sâu và nghiên cứu tài liệu, nhằm bổ sung góc nhìn của người học và người tốt nghiệp bên cạnh những nhận định từ cơ quan quản lý, cơ sở GDNN, doanh nghiệp và các tổ chức liên quan.
Xem thêm về nghiên cứu sử dụng phương pháp thảo luận nhóm
Nghiên cứu tổ chức thu thập thông tin thông qua thảo luận nhóm tập trung với hai nhóm đối tượng là sinh viên đang theo học và cựu sinh viên đã hoàn thành chương trình GDNN. Người tham gia được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích, dựa trên tình trạng học tập hoặc tốt nghiệp, ngành nghề đào tạo và khả năng chia sẻ những trải nghiệm liên quan đến nội dung nghiên cứu. Nhóm sinh viên gồm 10 người đang theo học tại một trường cao đẳng ở khu vực miền Bắc, trong đó có 5 sinh viên thuộc Khoa Điện – Điện tử và 5 sinh viên thuộc Khoa Công nghệ Ô tô. Nhóm cựu sinh viên gồm 5 người đã tốt nghiệp các ngành Điện công nghiệp, Năng lượng mặt trời, Kỹ thuật điện lạnh tại các trường cao đẳng khu vực miền Trung. Cơ cấu này tạo ra sự đa dạng nhất định về ngành đào tạo, địa bàn và giai đoạn phát triển nghề nghiệp, đồng thời cho phép tiếp cận những trải nghiệm khác nhau giữa quá trình học tập tại trường và giai đoạn sau tốt nghiệp.
Thảo luận nhóm được định hướng bằng các câu hỏi mở, khuyến khích người tham gia chia sẻ kinh nghiệm, nhận thức và những tình huống thực tế liên quan đến quá trình đào tạo, đánh giá và sử dụng VB-CC-CN. Đối với sinh viên đang theo học, nội dung tập trung vào các CTĐT, hoạt động thực hành, thực tập tại doanh nghiệp, hình thức kiểm tra và đánh giá kết quả học tập, những loại VB-CC-CN mà người học được giới thiệu hoặc có cơ hội tiếp cận, cũng như nhận thức của sinh viên về yêu cầu kỹ năng nghề nghiệp. Đối với cựu sinh viên, nội dung chú trọng hơn đến trải nghiệm chuyển tiếp từ học tập sang việc làm, mức độ sử dụng kiến thức và kỹ năng đã được đào tạo, vai trò của VB-CC-CN trong tuyển dụng và công việc, hoạt động đào tạo bổ sung tại doanh nghiệp và những hình thức ghi nhận kỹ năng sau tốt nghiệp. Việc sử dụng câu hỏi mở và trao đổi giữa những người tham gia tạo điều kiện ghi nhận cả những trải nghiệm tương đồng và những khác biệt về nhận thức, nhu cầu và điều kiện phát triển kỹ năng.
Thông tin thu thập từ thảo luận nhóm được tổng hợp theo các chủ đề nghiên cứu, đặc biệt là trải nghiệm của người học đối với các hình thức đào tạo, đánh giá, cấp VB-CC-CN và khả năng sử dụng kết quả học tập trong thực tiễn. Dữ liệu của hai nhóm được xem xét trong mối liên hệ với tình trạng học tập hoặc tốt nghiệp, nhằm phân biệt giữa những nhận thức, kỳ vọng của sinh viên đang theo học và kinh nghiệm thực tế của người đã tốt nghiệp. Các nội dung thu thập được tiếp tục đối chiếu với kết quả phỏng vấn sâu đại diện cơ sở GDNN, doanh nghiệp, đơn vị đào tạo và các bên liên quan để bổ sung hoặc làm rõ những thông tin từ góc độ người cung cấp và người sử dụng kết quả đào tạo. Do số lượng người tham gia tương đối nhỏ và được lựa chọn có chủ đích, kết quả thảo luận nhóm được sử dụng như bằng chứng định tính phản ánh trải nghiệm và quan điểm của những người tham gia, không nhằm suy rộng thành đánh giá chung cho toàn bộ người học và người tốt nghiệp GDNN.
Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu tuân thủ các nguyên tắc đạo đức trong nghiên cứu xã hội, bao gồm việc bảo đảm sự tự nguyện tham gia, quyền riêng tư và bảo mật thông tin của người tham gia. Trước khi tiến hành phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, Nhóm nghiên cứu đã cung cấp thông tin về mục đích nghiên cứu, nội dung thu thập dữ liệu, cách thức sử dụng thông tin và quyền từ chối hoặc rút lui khỏi nghiên cứu mà không bị ảnh hưởng. Người tham gia được yêu cầu đồng ý tham gia và ký vào mẫu đồng ý tham gia nghiên cứu (informed consent) trước khi bắt đầu. Dữ liệu thu thập được xử lý và lưu trữ một cách bảo mật, chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu và báo cáo kết quả tổng hợp, không tiết lộ danh tính cá nhân hoặc thông tin nhận dạng của người tham gia.Nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích của người tham gia, bảo đảm các nguyên tắc tự nguyện, đồng thuận, bảo mật thông tin, trung thực và khách quan trong thu thập, phân tích và sử dụng dữ liệu. Người tham gia phỏng vấn được cung cấp thông tin về mục đích, nội dung và phương thức thực hiện nghiên cứu để quyết định việc tham gia và chia sẻ thông tin; việc ghi âm và sử dụng những thông tin có khả năng nhận diện cá nhân hoặc tổ chức được thực hiện trên cơ sở sự đồng ý của người cung cấp. Dữ liệu phỏng vấn được quản lý theo nguyên tắc bảo mật, sử dụng trong phạm vi nghiên cứu và hạn chế khả năng nhận diện người tham gia thông qua mã hóa hoặc ẩn danh khi trình bày kết quả, trừ trường hợp đã xin phép và được cho phép công khai. Trong quá trình phân tích, Nhóm nghiên cứu quan tâm phản ánh trung thực ý kiến của các nhóm bên liên quan, phân biệt giữa thông tin được cung cấp, bằng chứng từ tài liệu và nhận định phân tích; không quy kết quan điểm cá nhân thành quan điểm chính thức của cơ quan, tổ chức nếu chưa có căn cứ xác nhận. Việc tổng hợp và công bố kết quả được thực hiện với sự cân nhắc về quyền riêng tư, tính nhạy cảm của thông tin và những tác động có thể phát sinh đối với người tham gia và các tổ chức liên quan.
Sự tự nguyện, đồng thuận và quyền của người tham gia
Nghiên cứu đề cao nguyên tắc tham gia tự nguyện và tôn trọng quyền tự quyết của những cá nhân được mời phỏng vấn. Trong quá trình tiếp cận, người tham gia cần được thông tin đầy đủ về mục đích nghiên cứu, các nội dung dự kiến trao đổi, phương thức tổ chức phỏng vấn và cách thức sử dụng những thông tin được cung cấp. Việc đồng ý tham gia nghiên cứu không đồng nghĩa với nghĩa vụ phải trả lời toàn bộ câu hỏi hoặc cung cấp những thông tin mà cá nhân không có thẩm quyền chia sẻ. Người tham gia có quyền từ chối trả lời những câu hỏi cụ thể, đề nghị không ghi âm hoặc dừng cuộc phỏng vấn. Đối với các cuộc phỏng vấn liên quan đến cơ quan QLNN, doanh nghiệp và tổ chức quốc tế, Nhóm nghiên cứu làm rõ, phân biệt giữa việc cá nhân chia sẻ thông tin trên cơ sở hiểu biết, kinh nghiệm nghề nghiệp với việc cung cấp ý kiến chính thức đại diện cho tổ chức. Sự tham gia của một cá nhân vì vậy không được mặc nhiên diễn giải là sự xác nhận hoặc đồng thuận của cơ quan, tổ chức nơi người đó công tác đối với các kết quả và nhận định của báo cáo.
Bảo mật thông tin và bảo vệ danh tính người tham gia
Do nghiên cứu thu thập thông tin từ nhiều nhóm chủ thể có chức năng, trách nhiệm và lợi ích khác nhau, việc bảo mật và sử dụng thông tin được cân nhắc phù hợp với đặc điểm của từng nguồn dữ liệu. Khi trình bày kết quả, người tham gia được nhận diện thông qua mã đối tượng thay vì sử dụng trực tiếp họ tên, chức danh hoặc các thông tin cá nhân khác. Các mã được tổ chức theo nhóm đối tượng, chẳng hạn cơ sở GDNN, doanh nghiệp, cơ quan QLNN, hiệp hội, đơn vị đào tạo và tổ chức quốc tế, nhằm hỗ trợ truy xuất nguồn thông tin trong quá trình phân tích nhưng hạn chế khả năng nhận diện cá nhân trong báo cáo. Tuy nhiên, việc sử dụng mã không đồng nghĩa với ẩn danh hoàn toàn, đặc biệt đối với những người giữ vị trí chuyên môn đặc thù hoặc thuộc các tổ chức có số lượng đầu mối hạn chế. Vì vậy, bên cạnh việc mã hóa, Nhóm nghiên cứu còn làm mờ hoặc không công bố những chi tiết có thể khiến người đọc xác định được danh tính người trả lời hoặc những thông tin nhạy cảm của tổ chức, trừ trường hợp được người có thẩm quyền cho phép. Danh sách thông tin nhận diện và bảng đối chiếu mã người tham gia được Nhóm nghiên cứu quản lý riêng với dữ liệu phân tích.
Ghi âm, lưu trữ và sử dụng dữ liệu nghiên cứu
Việc ghi âm phỏng vấn được thực hiện khi có sự đồng thuận của người tham gia, nhằm hỗ trợ ghi nhận đầy đủ nội dung trao đổi và nâng cao độ chính xác của quá trình xử lý, phân tích dữ liệu. Dữ liệu ghi âm, ghi chép, bản chuyển lời nói thành văn bản và các tài liệu do người tham gia cung cấp được lưu trữ có kiểm soát, giới hạn quyền truy cập đối với những thành viên có trách nhiệm trong Nhóm nghiên cứu và sử dụng đúng phạm vi đã thông báo. Trong trường hợp người tham gia yêu cầu không ghi âm, thông tin chỉ được ghi nhận bằng hình thức ghi chép. Các dữ liệu chứa thông tin cá nhân, thông tin kinh doanh, quy trình kỹ thuật hoặc tài liệu nội bộ của tổ chức được xem xét về mức độ nhạy cảm trước khi sử dụng trong báo cáo. Việc trích dẫn nguyên văn nội dung phỏng vấn cũng bảo đảm không làm thay đổi ý nghĩa phát biểu, đồng thời hạn chế những chi tiết có khả năng nhận diện hoặc gây bất lợi không cần thiết cho người cung cấp thông tin. Thời hạn lưu trữ, phạm vi chia sẻ và phương thức xử lý dữ liệu sau khi kết thúc nghiên cứu cũng tuân thủ các thỏa thuận với người tham gia, yêu cầu của Đại sứ quán và những quy định pháp luật có liên quan.
Tính trung thực, khách quan và trách nhiệm trong phân tích dữ liệu
Nhóm nghiên cứu bảo đảm tính trung thực trong việc ghi nhận, phân loại, đối chiếu và diễn giải thông tin thu thập được. Do dữ liệu phỏng vấn phản ánh kinh nghiệm và nhận định của những cá nhân ở các vị trí khác nhau, các ý kiến có thể không hoàn toàn thống nhất, kể cả khi liên quan đến cùng một quy định, CTĐT hoặc cơ chế cấp VB-CC-CN. Những khác biệt này được ghi nhận và xem xét trên cơ sở bối cảnh, vai trò và mức độ hiểu biết của người cung cấp, thay vì chỉ lựa chọn các thông tin phù hợp với giả định ban đầu của nghiên cứu. Đối với các nhận định liên quan đến quy định pháp luật, tính hợp lệ của văn bằng, chứng chỉ, chất lượng đào tạo hoặc mức độ công nhận giữa các hệ thống, thông tin phỏng vấn cần được đối chiếu với văn bản, tài liệu hoặc nguồn bằng chứng phù hợp khi có thể. Báo cáo nghiên cứu có sự phân biệt giữa nội dung được xác nhận bằng bằng chứng, thông tin do người tham gia phản ánh và nhận định tổng hợp của Nhóm nghiên cứu. Việc chưa tìm thấy bằng chứng hoặc chưa được người tham gia đề cập không được mặc nhiên diễn giải là một hoạt động, cơ chế hoặc thực tiễn không tồn tại.
Tổng hợp, sử dụng và công bố kết quả nghiên cứu
Việc sử dụng và công bố kết quả nghiên cứu bảo đảm sự cân bằng giữa yêu cầu minh bạch về bằng chứng với trách nhiệm bảo vệ người tham gia và các tổ chức cung cấp thông tin. Khi tổng hợp dữ liệu, Nhóm nghiên cứu trình bày rõ nguồn thông tin, phạm vi khảo sát và những giới hạn của phương pháp nghiên cứu, tránh suy rộng các phát hiện định tính thành nhận định đại diện cho toàn bộ hệ thống GDNN hoặc thị trường lao động Việt Nam. Những ví dụ thực tiễn từ cơ sở đào tạo, doanh nghiệp hoặc tổ chức quốc tế được lựa chọn để minh họa phản ánh đúng bối cảnh và nội dung thông tin đã thu thập, không gây hiểu nhầm về mức độ phổ biến hoặc tính điển hình của trường hợp. Báo cáo cũng phân biệt rõ các kết quả nghiên cứu với quan điểm của cơ quan, tổ chức tài trợ hoặc những bên đã tham gia cung cấp thông tin, trừ khi có sự xác nhận chính thức về nội dung đó.
Hạn chế của nghiên cứu
Mặc dù đã kết hợp nhiều phương pháp thu thập dữ liệu và tiếp cận nhiều bên liên quan, nghiên cứu vẫn có một số hạn chế cần được xem xét khi diễn giải và sử dụng kết quả. Thứ nhất, do thời gian và nguồn lực thực hiện có hạn, nghiên cứu chỉ tập trung vào một số lĩnh vực ngành nghề ưu tiên đã được xác định trong phạm vi nghiên cứu, chưa bao quát toàn bộ các ngành nghề tại Việt Nam. Thứ hai, việc lựa chọn người tham gia phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp chọn mẫu quả bóng tuyết có thể chịu ảnh hưởng của mạng lưới liên hệ, khả năng tiếp cận và sự sẵn sàng tham gia của các tổ chức; vì vậy, kết quả nghiên cứu không mang tính đại diện thống kê và không có khả năng suy rộng cho toàn bộ hệ thống. Thứ ba, một phần dữ liệu được thu thập từ phỏng vấn, thông tin do các tổ chức cung cấp và tài liệu công bố trên website, nên có thể chịu ảnh hưởng của nhận thức chủ quan, mức độ đầy đủ của thông tin và những khác biệt giữa nội dung được công bố với thực tiễn triển khai; một số trường hợp chưa có đủ bằng chứng độc lập để xác minh toàn diện. Thứ tư, nghiên cứu được thực hiện trong bối cảnh hệ thống chính sách, pháp luật về GDNN và phát triển kỹ năng nghề đang thay đổi nhanh chóng, đặc biệt trong năm 2026, khiến việc đánh giá thực tiễn áp dụng và tác động của một số quy định mới còn hạn chế. Cuối cùng, nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp định tính, chưa thực hiện khảo sát định lượng trên diện rộng hoặc đánh giá trực tiếp chất lượng và giá trị của từng loại VB-CC-CN trên thị trường lao động. Do đó, các kết quả và nhận định của nghiên cứu cần được hiểu trong phạm vi những trường hợp, nguồn thông tin và bằng chứng đã thu thập, đồng thời phân biệt giữa thực tiễn được xác nhận, thông tin do các bên liên quan phản ánh và những vấn đề chưa có đủ cơ sở để kết luận.
Các khái niệm liên quan
Nhóm các khái niệm về văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận và dữ liệu học tập
Văn bằng
Văn bằng là văn bản thể hiện dưới dạng giấy hoặc số được cấp cho người học khi tốt nghiệp trung học phổ thông; người học hoàn thành chương trình giáo dục, CTĐT và đạt chuẩn đầu ra của trình độ tương ứng trong GDNN, giáo dục đại học theo quy định của pháp luật. Văn bằng gồm: bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, bằng trung học nghề, bằng trung cấp, bằng cao đẳng, bằng cử nhân, bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ và văn bằng CTĐT chuyên sâu của một số ngành, lĩnh vực đặc thù.
i
Khoản 1, Khoản 2 Điều 12 Luật Giáo dục số 43/2019/QH14 (sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 123/2025/QH15); Khoản 1 Điều 2 Quy chế văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân ban hành kèm theo Thông tư số 10/2026/TT-BGDĐT
Chứng chỉ
Chứng chỉ là văn bản thể hiện dưới dạng giấy hoặc số được cấp cho người học để xác nhận kết quả học tập sau khi được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, nghề nghiệp hoặc cấp cho người học dự thi lấy chứng chỉ theo quy định.i
Điều 24, Điều 26 Luật Việc làm số 74/2025/QH15; Khoản 1 Điều 22, Điều 25 Nghị định số 138/2026/NĐ-CP
Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia là chứng chỉ được cấp cho người lao động đạt yêu cầu tại các kỳ đánh giá kỹ năng nghề quốc gia theo từng nghề và từng bậc trình độ kỹ năng nghề (gồm 05 bậc tương ứng với Khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia). Chứng chỉ xác nhận năng lực thực hiện công việc và là căn cứ để người học được ưu tiên tuyển dụng, xếp lương, xét công nhận tín chỉ hoặc miễn trừ một số môn học, học phần khi tham gia các CTĐT nghề nghiệp và giáo dục đại học.i
Khoản 1, Khoản 2 Điều 12 Luật Giáo dục số 43/2019/QH14 (sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 123/2025/QH15); Khoản 1 Điều 2 Quy chế văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân ban hành kèm theo Thông tư số 10/2026/TT-BGDĐT
Chứng chỉ đào tạo (trong GDNN)
Chứng chỉ đào tạo là chứng chỉ do người đứng đầu cơ sở đào tạo cấp cho người học sau khi học hết một CTĐT nghề khác (ngoài sơ cấp, trung cấp, cao đẳng) và đáp ứng đủ các điều kiện theo yêu cầu của CTĐT.i
Điểm đ Khoản 3 Điều 6 Luật GDNN số 124/2025/QH15; Điểm đ Khoản 1 Điều 11 Quy chế đào tạo trong GDNN ban hành kèm theo Thông tư số 79/2026/TT-BGDĐT
Giấy chứng nhận hoàn thành chương trình trung học nghề
Là văn bản cấp cho người học học hết chương trình giáo dục trung học nghề không dự thi tốt nghiệp hoặc thi tốt nghiệp không đạt yêu cầu; được sử dụng để đăng ký dự thi lấy bằng trung học nghề hoặc sử dụng trong trường hợp cụ thể theo quy định.i
Điểm c Khoản 3 Điều 6 Luật GDNN số 124/2025/QH15; Điểm c Khoản 1 Điều 11 Quy chế đào tạo trong GDNN ban hành kèm theo Thông tư số 79/2026/TT-BGDĐT
Chứng nhận (danh từ)
Chứng nhận được sử dụng với tư cách là danh từ chỉ văn bản giấy hoặc số ghi nhận việc tham gia, hoàn thành nội dung học tập, đào tạo hoặc đáp ứng yêu cầu đánh giá về kỹ năng nghề ngoài hệ thống văn bằng, chứng chỉ được pháp luật quy định.
Dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời
Là dữ liệu ghi nhận toàn bộ quá trình học tập của người học trong hệ thống giáo dục quốc dân, được tạo lập theo chuẩn định dạng mở do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định, có giá trị sử dụng thay thế hoặc tương đương các văn bản giấy về giáo dục cấp cho người học.i
Khoản 4 Điều 3 Nghị định số 88/2026/NĐ-CP quy định quản lý dữ liệu giáo dục và đào tạo
Nhóm các khái niệm về liên thông, công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích luỹ, chuyển đổi và miễn trừ tín chỉ
Liên thông trong giáo dục
Liên thông trong giáo dục là việc người học sử dụng kết quả học tập đã có để tiếp tục học tập ở các cấp học, trình độ khác cùng ngành, nghề đào tạo hoặc khi chuyển sang ngành, nghề, hình thức giáo dục và trình độ đào tạo khác phù hợp với yêu cầu nội dung tương ứng.
i
Khoản 1 Điều 10 Luật Giáo dục số 43/2019/QH14 (sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 123/2025/QH15)
Đào tạo liên thông
Đào tạo liên thông là việc người học sử dụng kết quả học tập đã tích lũy để tiếp tục học tập trong cùng trình độ đào tạo hoặc ở trình độ đào tạo khác nhằm đạt chuẩn đầu ra của CTĐT. Bao gồm: liên thông giữa các trình độ đào tạo và liên thông trong cùng trình độ đào tạo.
i
Khoản 2 Điều 2, Điều 4 Thông tư số 52/2026/TT-BGDĐT.
Kết quả học tập
Là kiến thức, kỹ năng, năng lực, kết quả học tập hoặc kinh nghiệm đã tích lũy mà người học đạt được sau khi hoàn thành một học phần, môn học, mô-đun, CTĐT.
i
Khoản 5 Điều 2 Thông tư số 52/2026/TT-BGDĐT
Công nhận kết quả học tập
Là việc cơ sở giáo dục đánh giá và công nhận kiến thức, kỹ năng, năng lực, kết quả học tập hoặc kinh nghiệm đã tích lũy của người học để miễn trừ hoặc chuyển đổi một phần yêu cầu học tập của CTĐT.
i
Khoản 1 Điều 2 Thông tư số 52/2026/TT-BGDĐT
Chuyển đổi tín chỉ
Là việc cơ sở giáo dục xác định giá trị tương đương của kết quả học tập đã được công nhận để thay thế một phần hoặc toàn bộ yêu cầu học tập của CTĐT.i
Khoản 3 Điều 2 Thông tư số 52/2026/TT-BGDĐT
Là việc người học không phải học hoặc không phải tham gia đánh giá học phần, môn học, mô-đun đã được công nhận đáp ứng chuẩn đầu ra tương đương theo quy định của cơ sở giáo dục. Kết quả môn học, mô-đun được miễn trừ được bảo lưu, tính vào khối lượng học tập và điểm trung bình tích lũy của khóa học.
i
Khoản 6 Điều 2 Thông tư số 52/2026/TT-BGDĐT; Khoản 2 Điều 11, Khoản 2 Điều 19, Điều 37 Thông tư số 79/2026/TT-BGDĐT
Bảo lưu kết quả học tập
Là việc cơ sở đào tạo giữ nguyên kết quả các môn học, mô-đun mà người học đã hoàn thành đạt yêu cầu trong thời gian người học tạm dừng CTĐT. Kết quả học tập bảo lưu được tính khi đánh giá kết quả học tập và xét công nhận tốt nghiệp khi người học quay trở lại học tập.
i
Khoản 4 Điều 2 Thông tư số 52/2026/TT-BGDĐT
Liên thông trong giáo dục
Liên thông trong giáo dục là việc người học sử dụng kết quả học tập đã có để tiếp tục học tập ở các cấp học, trình độ khác cùng ngành, nghề đào tạo hoặc khi chuyển sang ngành, nghề, hình thức giáo dục và trình độ đào tạo khác phù hợp với yêu cầu nội dung tương ứng.
i
Khoản 1 Điều 13 Thông tư số 79/2026/TT-BGDĐT
Nhóm các khái niệm về phát triển kỹ năng nghề
Kỹ năng nghề
Là khả năng thực hiện các công việc cụ thể trong một lĩnh vực hoặc ngành nghề nhất định, được hình thành thông qua quá trình học tập, rèn luyện và kinh nghiệm thực tế.
i
Khoản 1 Điều 10 Luật Giáo dục số 43/2019/QH14 (sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 123/2025/QH15)
Kỹ năng nghề
Là năng lực thực hiện công việc của người lao động, được thể hiện qua việc vận dụng hiệu quả kiến thức, kỹ năng, năng lực tổ chức công việc và thái độ nghề nghiệp trong bối cảnh, điều kiện cụ thể để đạt được kết quả công việc đáp ứng yêu cầu của tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và thị trường lao động
i
Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 138/2026/NĐ-CP
Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia
Là yêu cầu về kiến thức chuyên môn, kỹ thuật, năng lực thực hành và khả năng ứng dụng mà người lao động cần phải có để thực hiện công việc theo từng bậc trình độ kỹ năng của từng nghề.
i
Khoản 3 Điều 2 Luật Việc làm số 74/2025/QH15
Khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia
Là khung phân loại các bậc trình độ kỹ năng nghề từ bậc một đến bậc năm dựa trên sự mô tả theo các tiêu chí thực hiện các công việc về: tính chất, mức độ, phạm vi, tình huống phải thực hiện; mức độ linh hoạt, ứng dụng khoa học, công nghệ và sáng tạo; sự phối hợp và trách nhiệm trong thực hiện các công việc.
i
Khoản 1 Điều 23 Luật Việc làm số 74/2025/QH15; Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 138/2026/NĐ-CP
Phát triển kỹ năng nghề
Là tổng thể các hoạt động nhằm chuẩn hóa, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gồm: xây dựng, cập nhật tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia; đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề; tổ chức đánh giá, công nhận và cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia cho người lao động.
i
Điều 22 Luật Việc làm số 74/2025/QH15; Điều 4, Điều 7 Nghị định số 138/2026/NĐ-CP
Bối cảnh giáo dục nghề nghiệp và phát triển kỹ năng nghề tại Việt Nam
Thực trạng dân số, lao động, việc làm và vấn đề lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ tại Việt Nam
Dân số
Việt Nam có quy mô dân số lớn, đang trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng nhưng đồng thời đối mặt với quá trình già hóa dân số nhanh. Sự chuyển đổi nhân khẩu học này đặt ra yêu cầu vừa phát triển kỹ năng cho lực lượng lao động trẻ, vừa tạo điều kiện để người lao động ở các độ tuổi khác nhau tiếp tục cập nhật, nâng cao và chuyển đổi kỹ năng. Trong bối cảnh đó, việc phát triển các CTĐT ban đầu, đào tạo lại, đào tạo nâng cao kỹ năng và thúc đẩy cơ chế công nhận kết quả học tập, kỹ năng nghề đã tích lũy có vai trò quan trọng trong việc duy trì khả năng có việc làm, kéo dài thời gian tham gia thị trường lao động và thúc đẩy học tập suốt đời.
Xem chi tiết về thực trạng dân số và già hóa dân số
Việt Nam hiện có quy mô dân số lớn và đang trong giai đoạn chuyển đổi nhân khẩu học với những cơ hội và thách thức đan xen đối với phát triển nguồn nhân lực. Theo Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA), dân số Việt Nam năm 2025 ước đạt khoảng 101,6 triệu người, trong đó nhóm dân số từ 15–64 tuổi chiếm 68%, nhóm dưới 15 tuổi chiếm 23% và nhóm từ 65 tuổi trở lên chiếm 9%. Cơ cấu dân số này cho thấy Việt Nam vẫn đang có nguồn cung lao động tiềm năng tương đối lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất, thu hút đầu tư và mở rộng các ngành công nghiệp, dịch vụ. Tuy nhiên, lợi thế về quy mô dân số không tự động chuyển hóa thành lợi thế về chất lượng nguồn nhân lực, mà phụ thuộc đáng kể vào khả năng trang bị, phát triển, sử dụng và liên tục cập nhật kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động.
Đồng thời, Việt Nam đang đối mặt với quá trình già hóa dân số diễn ra nhanh chóng. Theo UNFPA, tỷ lệ sinh của Việt Nam năm 2025 ước ở mức 1,9 con/phụ nữ, trong khi tỷ trọng người cao tuổi tiếp tục tăng. UNFPA dự báo trong khoảng một thập kỷ tới, số người từ 60 tuổi trở lên có thể chiếm hơn một phần năm dân số. Sự chuyển đổi này đặt ra yêu cầu không chỉ nâng cao chất lượng đào tạo đối với những người mới gia nhập thị trường lao động mà còn phải chú trọng đào tạo lại, đào tạo nâng cao, công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy và phát triển những lộ trình học tập linh hoạt cho lực lượng lao động hiện có. Do vậy, việc phát triển các CTĐT ngắn hạn, mô-đun độc lập và cơ chế công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy có ý nghĩa ngày càng quan trọng đối với duy trì khả năng có việc làm bền vững và thúc đẩy học tập suốt đời.
Thị trường lao động, việc làm
Thị trường lao động Việt Nam có quy mô lớn và tiếp tục mở rộng về số lượng người tham gia. Cơ cấu việc làm đang tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng vai trò của khu vực công nghiệp và dịch vụ. Tỷ trọng lao động phi chính thức vẫn ở mức cao, đặt ra thách thức đối với việc tăng cường đào tạo chính quy, đào tạo tại doanh nghiệp. Vì vậy, việc mở rộng các hình thức đánh giá kỹ năng, công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy có thể góp phần tạo thêm cơ hội học tập, phát triển nghề nghiệp và dịch chuyển việc làm cho những nhóm lao động chưa được tiếp cận đầy đủ với các CTĐT cấp văn bằng, chứng chỉ.
Xem chi tiết về Thị trường lao động, việc làm
Thị trường lao động Việt Nam có quy mô lớn và tiếp tục mở rộng về số lượng người tham gia. Theo Cục Thống kê, trong quý III năm 2026, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt gần 54,1 triệu người, tăng khoảng 709,7 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Số người có việc làm đạt gần 53,0 triệu người, tăng 706,4 nghìn người so với cùng kỳ. Tính chung chín tháng đầu năm 2026, lực lượng lao động đạt 53,8 triệu người và số người có việc làm đạt 52,7 triệu người. Những số liệu này cho thấy Việt Nam tiếp tục có nguồn nhân lực tương đối dồi dào, đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, phát triển sản xuất công nghiệp và cung ứng dịch vụ.
Cơ cấu việc làm đang tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng vai trò của khu vực công nghiệp và dịch vụ. Trong quý III năm 2026, dịch vụ chiếm 41,0% tổng số lao động có việc làm, công nghiệp và xây dựng chiếm 33,9%, còn nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 25,1%. So với cùng kỳ năm trước, lao động trong khu vực công nghiệp và xây dựng tăng khoảng 394 nghìn người, khu vực dịch vụ tăng khoảng 350 nghìn người. Xu hướng chuyển dịch này làm gia tăng nhu cầu về kỹ năng kỹ thuật, vận hành thiết bị, bảo trì, tự động hóa, quản lý chất lượng và những năng lực chuyên môn gắn với các quy trình sản xuất, kinh doanh hiện đại. Đối với những lĩnh vực ưu tiên của nghiên cứu như hệ thống điện và lưới điện, năng lượng tái tạo, phương tiện điện, hiệu quả năng lượng trong công trình, tự động hóa và cơ khí – hàn, yêu cầu phát triển kỹ năng không chỉ liên quan đến mở rộng quy mô đào tạo ban đầu mà còn bao gồm cập nhật kỹ năng, đào tạo lại và đáp ứng các tiêu chuẩn nghề nghiệp, kỹ thuật, an toàn ngày càng chuyên biệt và khắt khe.
Một đặc điểm đáng chú ý khác là tỷ trọng lao động phi chính thức vẫn ở mức cao. Trong quý III năm 2026, Việt Nam có khoảng 32,1 triệu người có việc làm phi chính thức, chiếm 60,6% tổng số người có việc làm; tính chung chín tháng đầu năm, tỷ lệ này là 61,5%. Mặc dù tỷ lệ lao động phi chính thức đang có xu hướng giảm, quy mô lớn của nhóm lao động này đặt ra thách thức đối với việc tiếp cận đào tạo chính quy, đào tạo tại doanh nghiệp, đánh giá kỹ năng và công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy. Những người đã hình thành năng lực thông qua kinh nghiệm làm việc, tự học hoặc học nghề tại nơi làm việc có thể chưa có đầy đủ giấy tờ để minh chứng cho năng lực nghề nghiệp. Vì vậy, việc mở rộng các hình thức đánh giá kỹ năng, công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy có thể góp phần tạo thêm cơ hội học tập, phát triển nghề nghiệp và dịch chuyển việc làm cho những nhóm lao động chưa được tiếp cận đầy đủ với các CTĐT cấp văn bằng, chứng chỉ.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo có văn bằng, chứng chỉ
Một trong những thách thức lớn đối với chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam là tỷ lệ lao động đã qua đào tạo có bằng, chứng chỉ còn tương đối thấp so với quy mô lực lượng lao động. Thực trạng này đặt ra yêu cầu vừa mở rộng cơ hội đào tạo và cấp VB-CC-CN có chất lượng, vừa phát triển các cơ chế đánh giá, công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích luỹ và chuyển đổi kết quả học tập thông qua đào tạo chính quy, đào tạo tại doanh nghiệp, các khóa học ngắn hạn và kinh nghiệm nghề nghiệp, nhằm tạo điều kiện cho người lao động tiếp tục học tập, nâng cao trình độ và phát triển kỹ năng nghề mà không phải học lại những nội dung đã đáp ứng yêu cầu.
Xem chi tiết về Tỷ lệ lao động qua đào tạo có văn bằng, chứng chỉ
Theo Cục Thống kê, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ trong quý III năm 2026 đạt 30,4%, tăng 1,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung chín tháng đầu năm 2026, tỷ lệ này đạt 29,9%, tăng 0,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Trong giai đoạn từ quý I năm 2024 đến quý III năm 2026, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ tăng từ 27,8% lên 30,4%, phản ánh xu hướng cải thiện về mức độ tham gia và hoàn thành các hình thức đào tạo có kết quả được ghi nhận bằng văn bằng hoặc chứng chỉ.
Tuy nhiên, chỉ tiêu này đồng thời cho thấy khoảng 69,6% lực lượng lao động trong quý III năm 2026 chưa được thống kê là lao động qua đào tạo có văn bằng, chứng chỉ. Cần lưu ý rằng con số này không đồng nghĩa với việc toàn bộ những người lao động đó chưa được đào tạo hoặc không có kỹ năng nghề. Trên thực tế, người lao động có thể đã tham gia các khóa bồi dưỡng ngắn hạn, đào tạo nội bộ doanh nghiệp, học nghề tại nơi làm việc hoặc tích lũy năng lực thông qua kinh nghiệm thực tế nhưng không có văn bằng, chứng chỉ thuộc phạm vi thống kê. Mặt khác, việc sở hữu bằng hoặc chứng chỉ cũng chưa đủ để khẳng định năng lực của người lao động luôn đáp ứng yêu cầu công việc, nhất là khi công nghệ, quy trình sản xuất và tiêu chuẩn nghề nghiệp liên tục thay đổi.
Thống kê tỷ lệ lao động qua đào tạo có văn bằng, chứng chỉ
Khoảng cách giữa trình độ đào tạo và yêu cầu kỹ năng của nền kinh tế
Chất lượng đào tạo nghề tại Việt Nam đã được quan tâm cải thiện thông qua đổi mới chương trình, phương pháp đào tạo, tăng cường các điều kiện bảo đảm chất lượng và mở rộng hợp tác giữa cơ sở GDNN với doanh nghiệp. Tuy nhiên, các báo cáo quốc tế gần đây tiếp tục ghi nhận những hạn chế về chất lượng và mức độ đáp ứng của hệ thống đào tạo nghề Việt Nam trước nhu cầu kỹ năng của thị trường lao động. Do đó, việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề trong bối cảnh hiện nay cần kết hợp tiếp tục quy mô đào tạo và số lượng văn bằng, chứng chỉ được cấp; đồng thời chú trọng đào tạo năng lực thực tế của người học, mức độ đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp và khả năng cập nhật kỹ năng trong bối cảnh chuyển đổi công nghệ, số hóa và tăng trưởng xanh.
Xem chi tiết về khoảng cách giữa trình độ đào tạo và yêu cầu kỹ năng của nền kinh tế
Một trong những thách thức đối với hệ thống GDNN Việt Nam là mức độ phù hợp giữa nội dung đào tạo và yêu cầu thực tế của công việc. OECD (2025)
i
OECD. (2025). OECD economic surveys: Viet Nam 2025. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/fb37254b-en
nhận định đào tạo nghề còn thiên về lý thuyết và thiếu kinh nghiệm thực hành, đồng thời dẫn lại kết quả nghiên cứu trước đó cho thấy khoảng 43% thanh niên được khảo sát cho rằng nội dung đào tạo không phù hợp với công việc đang đảm nhiệm. OECD cũng nhấn mạnh nhu cầu tăng cường chất lượng GDNN và sự gắn kết giữa đào tạo với yêu cầu kỹ năng của doanh nghiệp. Những nhận định này cho thấy việc nâng cao chất lượng GDNN cần chú trọng năng lực thực hành, khả năng vận dụng kiến thức vào công việc và sự kết hợp giữa học tập tại cơ sở GDNN với học tập tại doanh nghiệp.
Sự không tương thích giữa trình độ giáo dục và yêu cầu công việc cũng là một vấn đề đáng quan tâm trên thị trường lao động Việt Nam. Theo Ngân hàng Thế giới, khoảng 42% người lao động có trình độ giáo dục phù hợp với yêu cầu công việc, trong khi 33% có trình độ thấp hơn và 25% có trình độ cao hơn yêu cầu (World Bank, 2025).
i
World Bank. (2025). Viet Nam rising: Pathways to a high-income future. World Bank.
Bên cạnh đó, tỷ lệ doanh nghiệp xác định lực lượng lao động chưa được đào tạo phù hợp là trở ngại lớn đối với hoạt động kinh doanh tăng từ 9% năm 2009 lên 12% năm 2023; riêng doanh nghiệp xuất khẩu, tỷ lệ này tăng từ 6% lên 20% (OECD, 2025). Các chỉ báo này phản ánh những thách thức về sự phù hợp giữa trình độ, kỹ năng và yêu cầu công việc của lực lượng lao động nói chung, không phải bằng chứng đánh giá trực tiếp chất lượng đào tạo của riêng hệ thống GDNN.
Bên cạnh đào tạo ban đầu, hoạt động đào tạo và phát triển kỹ năng tại doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng cập nhật và nâng cao năng lực nghề nghiệp. Theo số liệu điều tra doanh nghiệp được OECD (2025) tổng hợp, năm 2023 có 8,7% doanh nghiệp Việt Nam thuộc phạm vi khảo sát cung cấp đào tạo chính thức cho người lao động, thấp hơn đáng kể so với Singapore và Philippines, nơi tỷ lệ này vượt 40%. Chỉ tiêu này không phản ánh đầy đủ những hoạt động hướng dẫn, kèm cặp hoặc học tập không chính thức tại nơi làm việc. Tuy nhiên, kết quả cho thấy cần quan tâm hơn đến các hình thức phát triển kỹ năng sau tuyển dụng, đồng thời xem xét khả năng ghi nhận và sử dụng kết quả học tập tại doanh nghiệp để hỗ trợ người lao động tiếp tục nâng cao trình độ và phát triển nghề nghiệp.
Yêu cầu nâng cao chất lượng và sự phù hợp của kỹ năng càng trở nên quan trọng khi Việt Nam hướng tới những hoạt động sản xuất và dịch vụ có giá trị gia tăng cao hơn. Ngân hàng Thế giới nhận định sự phụ thuộc vào lao động có kỹ năng thấp đang trở thành một hạn chế đối với việc nâng cao vị thế của Việt Nam trong các chuỗi giá trị toàn cầu; năm 2022, chỉ khoảng 5% lực lượng lao động trong lĩnh vực chế biến, chế tạo được phân loại là lao động kỹ năng cao (World Bank, 2024).
i
World Bank. (2024). Viet Nam 2045: Trading up in a changing world—Pathways to a high-income future. World Bank. https://hdl.handle.net/10986/42505
Nhu cầu ngày càng tăng đối với nhân lực có kỹ năng, đặc biệt trong các ngành thâm dụng công nghệ, đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển năng lực kỹ thuật và tăng cường khả năng thích ứng của người học, người lao động trong bối cảnh chuyển đổi công nghệ và tăng trưởng xanh.
Nhìn chung, Việt Nam vẫn đang có lợi thế về quy mô dân số và lực lượng lao động, song quá trình già hóa dân số diễn ra nhanh, cơ cấu việc làm tiếp tục chuyển dịch và tỷ trọng lao động phi chính thức còn cao. Mặc dù tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đã tăng lên 30,4% trong quý III năm 2026, phần lớn lực lượng lao động còn lại vẫn chưa có trình độ đào tạo được ghi nhận bằng văn bằng, chứng chỉ trong thống kê chính thức. Bên cạnh đó, trong bối cảnh nhu cầu nhân lực có kỹ năng chuyên môn, kỹ thuật ngày càng gia tăng, các nghiên cứu quốc tế gần đây tiếp tục ghi nhận những hạn chế về sự phù hợp giữa trình độ đào tạo, kỹ năng của người lao động và yêu cầu công việc.
Quá trình chuyển đổi xanh, chuyển dịch năng lượng của Việt Nam và yêu cầu đặt ra đối với thị trường lao động
Quá trình chuyển đổi xanh, chuyển dịch năng lượng của Việt Nam
Quá trình chuyển đổi xanh và chuyển dịch năng lượng đang trở thành một trong những động lực quan trọng định hình sự phát triển kinh tế và thị trường lao động Việt Nam trong những thập kỷ tới. Là quốc gia có tốc độ công nghiệp hóa nhanh, đồng thời chịu nhiều tác động của biến đổi khí hậu, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu kết hợp giữa duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an ninh năng lượng và giảm phát thải khí nhà kính.
Tại Hội nghị COP26 năm 2021, Việt Nam đã đưa ra cam kết...
Tại Hội nghị COP26 năm 2021, Việt Nam đã đưa ra cam kết đạt mức phát thải ròng bằng không vào năm 2050. Trong Đóng góp do quốc gia tự quyết định cập nhật năm 2022, Việt Nam đặt mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính đến năm 2030 ở mức 15,8% so với kịch bản phát triển thông thường bằng nguồn lực trong nước và có thể đạt 43,5% khi có hỗ trợ quốc tế (UNDP, 2025). Tại Việt Nam, chuyển đổi xanh không chỉ là yêu cầu về môi trường mà còn gắn với quá trình điều chỉnh cơ cấu đầu tư, công nghệ, sản xuất và sử dụng nguồn nhân lực trên phạm vi rộng. Quá trình này thúc đẩy sự hình thành các ngành nghề, vị trí việc làm và yêu cầu kỹ năng mới, đồng thời làm thay đổi nội dung và phương thức thực hiện công việc trong nhiều ngành nghề hiện có.
Trong tiến trình đó, chuyển dịch năng lượng giữ vị trí đặc biệt quan trọng để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế và chuyển đổi xanh. Nhu cầu điện tiếp tục gia tăng cùng với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và mở rộng các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Việc đáp ứng nhu cầu điện ngày càng lớn trong khi từng bước giảm phát thải đặt ra yêu cầu đồng thời phát triển các nguồn năng lượng sạch, hiện đại hóa hệ thống truyền tải và phân phối điện, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và bảo đảm tính ổn định, an toàn của hệ thống điện.
Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA)
Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), nhu cầu điện của Việt Nam tăng gần 10% trong năm 2024 và được dự báo tiếp tục tăng khoảng 6% mỗi năm trong giai đoạn 2025–2027 (IEA, 2025a). Việc đáp ứng nhu cầu điện ngày càng lớn trong khi từng bước giảm phát thải đặt ra yêu cầu đồng thời phát triển các nguồn năng lượng sạch, hiện đại hóa hệ thống truyền tải và phân phối điện, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và bảo đảm tính ổn định, an toàn của hệ thống điện. Quy hoạch điện VIII và các định hướng điều chỉnh, triển khai quy hoạch thể hiện sự chuyển dịch này thông qua việc phát triển điện gió, điện mặt trời, hệ thống lưới điện, công nghệ lưu trữ năng lượng và các giải pháp nâng cao hiệu quả năng lượng. Báo cáo Achieving a Net Zero Electricity Sector in Viet Nam của IEA (2024) cũng nhấn mạnh rằng mở rộng năng lượng tái tạo, đầu tư hạ tầng lưới điện và cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng là những thành phần quan trọng trong các lộ trình giảm phát thải của ngành điện Việt Nam. Mặc dù vậy, chuyển dịch năng lượng là quá trình dài hạn và phức tạp, trong đó các nguồn năng lượng truyền thống vẫn tiếp tục giữ vai trò đáng kể trong giai đoạn chuyển tiếp.
Quá trình chuyển dịch này được thúc đẩy thông qua các cơ chế hợp tác quốc tế, tiêu biểu là Quan hệ đối tác chuyển dịch năng lượng công bằng (JETP) được Việt Nam và Nhóm Đối tác quốc tế thiết lập vào tháng 12/2022. JETP đặt mục tiêu huy động nguồn tài chính ban đầu ít nhất 15,5 tỷ USD trong thời gian từ ba đến năm năm để hỗ trợ Việt Nam thực hiện chuyển dịch năng lượng theo hướng phát thải thấp và công bằng. Kế hoạch huy động nguồn lực được công bố năm 2023 xác định các lĩnh vực ưu tiên liên quan đến năng lượng tái tạo, cơ sở hạ tầng điện, sử dụng năng lượng hiệu quả, lưu trữ năng lượng, phương tiện giao thông điện và hỗ trợ những nhóm chịu tác động của quá trình chuyển đổi. Bên cạnh yêu cầu về đầu tư và công nghệ, khuôn khổ hợp tác này cũng đề cập đến đào tạo, đào tạo lại và hỗ trợ phát triển kỹ năng nghề nghiệp, cho thấy yếu tố con người và thị trường lao động là một phần không thể tách rời của chuyển dịch năng lượng công bằng (International Partners Group, 2022; European External Action Service, 2023).
Yêu cầu đặt ra đối với thị trường lao động
Những thay đổi về cơ cấu năng lượng và công nghệ sản xuất trong quá trình chuyển đổi xanh đang tác động đến thị trường lao động trên cả phương diện nhu cầu việc làm và yêu cầu kỹ năng nghề nghiệp. Một mặt, quá trình này làm gia tăng nhu cầu nhân lực trong các lĩnh vực như năng lượng tái tạo, hiệu quả năng lượng, giao thông điện hóa, xây dựng xanh và kinh tế tuần hoàn, qua đó thúc đẩy sự hình thành các vị trí việc làm mới. Mặt khác, việc ứng dụng công nghệ và phương thức sản xuất mới cũng làm thay đổi yêu cầu về kiến thức, kỹ năng và năng lực thực hiện công việc ở nhiều nghề nghiệp hiện có. Những thay đổi này đặt ra yêu cầu không chỉ đào tạo nhân lực cho các vị trí việc làm mới mà còn nâng cao, cập nhật và chuyển đổi kỹ năng cho lực lượng lao động hiện tại, đồng thời hỗ trợ người lao động thích ứng và dịch chuyển giữa các vị trí công việc, ngành nghề và lĩnh vực kinh tế.
Theo báo cáo World Energy Employment 2025 của IEA
Theo báo cáo World Energy Employment 2025 của IEA, ngành năng lượng trên toàn cầu sử dụng khoảng 76 triệu lao động năm 2024, tăng 2,2% so với năm trước, cao hơn tốc độ tăng việc làm chung của nền kinh tế thế giới. Nhu cầu nhân lực tiếp tục gia tăng trong các lĩnh vực phát triển hạ tầng năng lượng, sản xuất và lắp đặt thiết bị, vận hành, bảo trì, truyền tải và phân phối điện. Đồng thời, tình trạng thiếu lao động có kỹ năng phù hợp, đặc biệt đối với các vị trí kỹ thuật ứng dụng như kỹ thuật viên điện, nhân viên đường dây và các nghề kỹ thuật liên quan, đang trở thành một trong những thách thức đối với quá trình mở rộng hạ tầng năng lượng (IEA, 2025b). Đối với Việt Nam, các xu hướng này có liên quan trực tiếp đến sự phát triển của những lĩnh vực như hệ thống điện và lưới điện, năng lượng tái tạo, phương tiện điện, hạ tầng sạc, hiệu quả năng lượng trong công trình, tự động hóa và các ngành nghề kỹ thuật hỗ trợ. Quá trình chuyển đổi không chỉ tạo ra nhu cầu đối với những vị trí việc làm mới mà còn làm thay đổi yêu cầu kiến thức, kỹ năng và điều kiện thực hiện công việc ở nhiều vị trí nghề nghiệp hiện có.
Từ góc độ thị trường lao động, chuyển đổi xanh cũng đặt ra yêu cầu điều chỉnh kỹ năng và hỗ trợ sự dịch chuyển nghề nghiệp của người lao động giữa các ngành, lĩnh vực và vị trí công việc. Nghiên cứu của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) sử dụng dữ liệu điều tra lực lượng lao động Việt Nam giai đoạn 2021–2022 ước tính khoảng 15% việc làm tại Việt Nam thuộc nhóm việc làm xanh theo phương pháp phân loại dựa trên nhiệm vụ công việc. Nghiên cứu cũng cho thấy trình độ giáo dục có liên quan đáng kể đến khả năng chuyển sang việc làm xanh, đồng thời ghi nhận sự khác biệt giữa các nhóm lao động theo giới tính và những đặc điểm cá nhân khác (Duman & Ananian, 2024). Các kết quả này cho thấy tác động của chuyển đổi xanh đối với thị trường lao động không chỉ thể hiện qua sự xuất hiện của những ngành nghề mới, mà còn thông qua sự thay đổi nội dung công việc, yêu cầu kỹ năng và khả năng thích ứng của lực lượng lao động hiện có. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu tăng cường và đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, đào tạo lại, đào tạo nâng cao và các hình thức học tập phù hợp với người lao động ở những giai đoạn khác nhau của quá trình phát triển nghề nghiệp.
Nhìn chung, quá trình chuyển đổi xanh và chuyển dịch năng lượng tại Việt Nam đang diễn ra trong bối cảnh hội tụ của các cam kết khí hậu quốc gia, nhu cầu bảo đảm an ninh năng lượng, xu hướng thay đổi công nghệ và sự mở rộng hợp tác, đầu tư quốc tế. Những chuyển biến này đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống phát triển kỹ năng, đặc biệt trong việc chuẩn bị lực lượng lao động có khả năng đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật, công nghệ, an toàn và hiệu quả năng lượng của nền kinh tế đang chuyển đổi thông qua các hoạt động đào tạo, đào tạo lại, cập nhật kỹ năng.
Cơ sở chính trị và cơ sở pháp lý về giáo dục nghề nghiệp, phát triển kỹ năng nghề
Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và Chiến lược của Nhà nước
Trong những năm gần đây, các văn bản Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng bao gồm Nghị quyết 71-NQ/TW, Chỉ thị 21-CT/TW, Chỉ thị số 37-CT/TW và Chiến lược Phát triển GDNN giai đoạn 2021-2030 tầm nhìn đến 2045 đã tạo nền tảng quan trọng cho quá trình đổi mới toàn diện GDNN, trong đó nhấn mạnh phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng nghề, xây dựng hệ thống giáo dục mở, linh hoạt, liên thông và tăng cường gắn kết đào tạo với nhu cầu của thị trường lao động.
Xem chi tiết về các nghị quyết và chỉ thị của Đảng và chiến lược của Nhà nước
Nghị quyết số 71-NQ/TW xác định GDNN giữ vai trò then chốt trong phát triển lực lượng lao động có kỹ năng cao, đồng thời đặt ra yêu cầu “xây dựng nền giáo dục mở, liên thông”, “thúc đẩy học tập suốt đời” và “tăng cường đào tạo tại doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu của thị trường”. Nghị quyết cũng yêu cầu “đổi mới mạnh mẽ chương trình, phương thức đào tạo, ứng dụng công nghệ, quản trị chất lượng, bảo đảm hiệu quả, thực chất theo các tiêu chuẩn quốc tế. Hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết nhà trường - doanh nghiệp, tăng cường đào tạo tại doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu của thị trường, nhất là đào tạo kỹ năng nghề trong các lĩnh vực công nghệ cao”; “Khuyến khích doanh nghiệp thành lập cơ sở GDNN. Có cơ chế thành lập quỹ đào tạo nhân lực của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp hỗ trợ đào tạo lại, đào tạo nâng cao kỹ năng cho lực lượng lao động”.
Chỉ thị 21-CT/TW đặt ra mục tiêu “phấn đấu đến năm 2030 thu hút 50 - 55% học sinh trung học vào hệ thống GDNN; đào tạo lại, đào tạo thường xuyên cho khoảng 50% lực lượng lao động”; “Đẩy nhanh lộ trình phổ cập nghề cho thanh niên, công nhân, nông dân và người lao động thông qua các hình thức hỗ trợ phù hợp. Tôn vinh người lao động có kỹ năng, tay nghề cao”.
Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 10/7/2024 của Ban Bí thư đã yêu cầu “nâng cao kỹ năng nghề cho học sinh, sinh viên trước khi tham gia thị trường lao động; xây dựng các chính sách hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề cho người lao động, đặc biệt là lao động trong các khu công nghiệp, bộ đội xuất ngũ, người cao tuổi còn đủ sức khỏe có nhu cầu tham gia thị trường lao động”.
Ở cấp độ chiến lược, Chiến lược Phát triển GDNN giai đoạn 2021-2030 tầm nhìn đến 2045 xác định các nhiệm vụ: “Đổi mới quy trình, phương pháp phát triển CTĐT theo hướng mở, linh hoạt, liên thông dựa trên mô-đun, tín chỉ và các quy đổi tương đương, đáp ứng chuẩn đầu ra và khối lượng học tập tối thiểu.”; “Đổi mới, đa dạng phương thức kiểm tra, đánh giá, có sự tham gia và thừa nhận của người sử dụng lao động. Triển khai công nhận kỹ năng, trình độ của người học, người lao động đã tích lũy từ học tập và kinh nghiệm làm việc thực tế ở trong và ngoài nước”; “Tăng cường năng lực hệ thống đánh giá, công nhận và cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia. Thúc đẩy mạnh mẽ phong trào thi kỹ năng nghề ở các cấp”. Nhìn chung, các văn bản chỉ đạo của Đảng và Chiến lược của Nhà nước đã xác lập định hướng đổi mới GDNN theo hướng mở, linh hoạt, liên thông và gắn kết chặt chẽ với thị trường lao động, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện các cơ chế đào tạo, đánh giá, cấp VB-CC-CN, công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy nhằm tạo điều kiện cho người học tích lũy, chuyển đổi kết quả học tập, nâng cao kỹ năng nghề và học tập suốt đời.
QLNN về GDNN và phát triển kỹ năng nghề
Từ năm 2025, hệ thống QLNN về GDNN và phát triển kỹ năng nghề tại Việt Nam đã trải qua những thay đổi quan trọng gắn với quá trình sắp xếp, tinh gọn bộ máy nhà nước và đổi mới quản lý giáo dục. Thay đổi nổi bật là việc chuyển chức năng QLNN về GDNN từ Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội sang Bộ Giáo dục và Đào tạo từ tháng 3/2025, qua đó thống nhất đầu mối quản lý các lĩnh vực giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân, đồng thời đưa nhiệm vụ phát triển kỹ năng nghề vào phạm vi quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Ở cấp trung ương, Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, tiêu chuẩn và các quy định về đào tạo, văn bằng, chứng chỉ, phát triển và đánh giá kỹ năng nghề; ở cấp địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện QLNN trên địa bàn, với Sở Giáo dục và Đào tạo là cơ quan chuyên môn tham mưu và tổ chức thực hiện theo phân cấp. Mục tiêu của mô hình quản lý mới là tăng cường tính thống nhất trong quản lý hệ thống giáo dục, thúc đẩy sự kết nối giữa các trình độ và phương thức đào tạo, đồng thời nâng cao vai trò của địa phương trong phát triển mạng lưới cơ sở GDNN phù hợp với nhu cầu nhân lực. Trong giai đoạn chuyển tiếp, bộ máy tổ chức mới nhanh chóng ổn định, bảo đảm thực hiện hiệu quả chức năng QLNN về GDNN và phát triển kỹ năng nghề.
Theo Nghị định số 37/2025/NĐ-CP ngày 26/02/2025 của Chính phủ
Theo Nghị định số 37/2025/NĐ-CP ngày 26/02/2025 của Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 01/3/2025, Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện chức năng QLNN đối với GDNN và phát triển kỹ năng nghề, bên cạnh các lĩnh vực giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục đại học và giáo dục thường xuyên. Trong lĩnh vực GDNN, Bộ thực hiện nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật; ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các quy định về tổ chức cơ sở đào tạo, chương trình, phương thức đào tạo, tuyển sinh, quản lý đào tạo, văn bằng, chứng chỉ và bảo đảm chất lượng. Đối với phát triển kỹ năng nghề, Bộ có trách nhiệm quy định về đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật và nâng cao kỹ năng nghề cho người lao động; hướng dẫn xây dựng, thẩm định, công bố tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và quy định việc cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia. Bộ cũng thực hiện các nhiệm vụ hướng dẫn, kiểm tra, thống kê, xây dựng cơ sở dữ liệu, hợp tác quốc tế và quản lý các cơ sở đào tạo theo thẩm quyền. Việc tập trung các chức năng này tại Bộ Giáo dục và Đào tạo tạo điều kiện tăng cường sự thống nhất trong quản lý các cấp học, trình độ đào tạo và các lộ trình phát triển kỹ năng nghề nghiệp.
Ở cấp địa phương, Sở Giáo dục và Đào tạo là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, tham mưu và giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng QLNN về GDNN và giáo dục thường xuyên trên địa bàn. Theo Thông tư số 15/2025/TT-BGDĐT ngày 24/7/2025, Sở Giáo dục và Đào tạo có nhiệm vụ tham mưu xây dựng, tổ chức thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển giáo dục; hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra hoạt động của các cơ sở giáo dục thuộc phạm vi quản lý; thực hiện các nhiệm vụ về tổ chức hoạt động đào tạo, quản lý chất lượng, đội ngũ nhà giáo, thống kê và báo cáo theo thẩm quyền. Đối với GDNN, trách nhiệm cụ thể của cơ quan quản lý địa phương còn được xác định thông qua các quy định về phân quyền, phân cấp và phân định thẩm quyền trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, đặc biệt là Nghị định số 142/2025/NĐ-CP, Nghị định số 143/2025/NĐ-CP và Thông tư số 11/2025/TT-BGDĐT. Việc chuyển chức năng quản lý GDNN về Sở Giáo dục và Đào tạo góp phần hình thành đầu mối quản lý giáo dục tương đối thống nhất ở cấp tỉnh, đồng thời đòi hỏi sự phối hợp với các cơ quan phụ trách lao động, việc làm, doanh nghiệp và các ngành kinh tế trong phát triển kỹ năng nghề gắn với nhu cầu địa phương.
Cơ sở pháp lý
Mặc dù diễn ra trong bối cảnh bộ máy quản lý và cơ cấu tổ chức của hệ thống GDNN có nhiều thay đổi, quá trình hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành đã được triển khai tương đối khẩn trương. Việc ban hành Luật GDNN năm 2025, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục và Luật Việc làm năm 2025 đã tạo lập khuôn khổ pháp lý mới về đào tạo, phát triển kỹ năng nghề, cấp văn bằng, chứng chỉ và công nhận kết quả học tập. Ngay sau khi các văn bản Luật mới được ban hành, hàng loạt các văn bản hướng dẫn đã được xây dựng và ban hành nhằm cụ thể hóa các định hướng đổi mới GDNN trong nhiều lĩnh vực như tổ chức và quản lý đào tạo, đa dạng hóa phương thức học tập, tích lũy mô-đun, tín chỉ, công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, cũng như tăng cường tính linh hoạt và sự gắn kết với doanh nghiệp. Những thay đổi này tạo nền tảng cho việc phát triển hệ thống GDNN theo hướng mở, linh hoạt, hỗ trợ học tập suốt đời và tạo điều kiện để người lao động tiếp tục nâng cao kỹ năng, chuyển đổi nghề nghiệp và thích ứng với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội.
Ở cấp độ văn bản luật, Luật Giáo dục 2019
Ở cấp độ văn bản luật, Luật Giáo dục 2019 đã đặt ra quy định về liên thông trong giáo dục. i
Điều 10 Luật Giáo dục 2019
Luật Giáo dục 2025 bổ sung quy định cụ thể về văn bằng, chứng chỉ; i
Điều 12 Luật Giáo dục 2025
Luật GDNN năm 2025 quy định cụ thể về hệ thống văn bằng, chứng chỉ trong GDNN đồng thời lần đầu tiên xác lập cơ sở pháp lý cho việc công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy và chuyển đổi kết quả học tập i
Điều 6 Luật GDNN 2025 được thực hiện trong các trường hợp như a) Kết quả học tập được tích lũy từ một CTĐT; i
Điều 20 Luật GDNN 2025 b) Năng lực nghề nghiệp người học đã tích lũy, được minh chứng bằng chứng chỉ kỹ năng nghề hoặc các hình thức khác phù hợp với nội dung, mục tiêu của mô-đun, môn học tương ứng trong CTĐT . Luật Việc làm 2025 quy định cụ thể hoá về phát triển kỹ năng nghề, bao gồm nội dung, hỗ trợ phát triển kỹ năng nghề, khung trình độ, tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, tổ chức đánh giá kỹ năng nghề quốc gia và quy định về các nghề, công việc yêu cầu phải có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia.
i
Chương V Luật Việc làm 2025
Ở cấp độ văn bản hướng dẫn, trong năm 2026, hàng loạt văn bản như Nghị định hướng dẫn Luật việc làm, các Thông tư hướng dẫn Luật Giáo dục, Luật GDNN tiếp tục cụ thể hoá các quy định về tổ chức và quản lý đào tạo, văn bằng, chứng chỉ, tuyển sinh, liên thông, liên kết và hợp tác trong GDNN, hướng nghiệp và phân luồng trong giáo dục, hệ thống đánh giá kỹ năng nghề quốc gia theo hướng khuyến khích, tạo điều kiện cho việc tổ chức các hình thức đào tạo linh hoạt, công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy, tăng khả năng liên thông và chuyển đổi giữa các trình độ, chương trình và lộ trình học tập, qua đó mở rộng cơ hội học tập suốt đời, nâng cao kỹ năng và đào tạo lại cho người lao động.
Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân
Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân được quy định tại Quyết định số 38/2026/QĐ-TTg ngày 23/7/2026 của Thủ tướng Chính phủ, có hiệu lực từ ngày 07/9/2026, thay thế Quyết định số 1981/QĐ-TTg năm 2016. Khung xác định cấu trúc tổng thể của hệ thống giáo dục quốc dân, bao gồm các cấp học, trình độ đào tạo, loại hình chương trình, các luồng giáo dục và mối quan hệ chuyển tiếp, liên thông giữa các thành phần của hệ thống. Theo đó, hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên, với các chương trình được phân thành chín cấp độ từ 0 đến 8, trên cơ sở mục tiêu, nội dung, yêu cầu đầu vào, kết quả học tập dự kiến và khả năng chuyển tiếp giữa các cấp học, trình độ đào tạo. Trong cấu trúc này, GDNN là một bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân, bao gồm các CTĐT trình độ sơ cấp, trung học nghề, trung cấp, cao đẳng và các CTĐT nghề khác theo quy định.
So với Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân được phê duyệt tại Quyết định số 1981/QĐ-TTg năm 2016, Khung cơ cấu mới ban hành theo Quyết định số 38/2026/QĐ-TTg có những điều chỉnh quan trọng nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật Giáo dục và Luật GDNN năm 2025, đồng thời tăng cường tính thống nhất, linh hoạt và liên thông của hệ thống giáo dục quốc dân. Điểm mới nổi bật là việc bổ sung trình độ trung học nghề, được xếp cùng cấp độ với trung học phổ thông, qua đó mở rộng các hướng lựa chọn học tập và định hướng nghề nghiệp sau trung học cơ sở. Bên cạnh đó, thay vì chủ yếu mô tả cấu trúc theo các cấp học và trình độ đào tạo như Khung năm 2016, Khung năm 2026 quy định rõ hệ thống phân loại chương trình giáo dục thành chín cấp độ, từ 0 đến 8, dựa trên mục tiêu, mức độ phức tạp của nội dung, yêu cầu đầu vào, kết quả học tập dự kiến và khả năng chuyển tiếp; đồng thời bổ sung quy định về mã chương trình, phân loại chương trình và thời gian học tập tiêu chuẩn. Khung mới cũng làm rõ hơn các luồng giáo dục, mối quan hệ chuyển tiếp và liên thông giữa các cấp học, trình độ đào tạo, tạo cơ sở cho việc phát triển những lộ trình học tập đa dạng và kết nối giữa giáo dục phổ thông, GDNN và giáo dục đại học. Những điều chỉnh này thể hiện sự chuyển dịch từ cách tiếp cận chủ yếu xác định cấu trúc hệ thống sang cách tiếp cận chú trọng hơn đến phân loại chương trình, kết quả học tập và các lộ trình phát triển trình độ của người học trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Theo Quyết định số 38/2026/QĐ-TTg
Theo Quyết định số 38/2026/QĐ-TTg, các chương trình giáo dục được phân thành chín cấp độ, từ cấp độ 0 tương ứng với giáo dục mầm non đến cấp độ 8 tương ứng với đào tạo tiến sĩ. Trong đó, cấp độ 1 là giáo dục tiểu học, cấp độ 2 là giáo dục trung học cơ sở, cấp độ 3 bao gồm giáo dục trung học phổ thông và trung học nghề, cấp độ 4 là đào tạo trình độ trung cấp, cấp độ 5 là đào tạo trình độ cao đẳng, cấp độ 6 là đào tạo đại học và các cấp độ 7, 8 lần lượt tương ứng với đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ. Việc đặt giáo dục trung học nghề cùng cấp độ với trung học phổ thông tạo ra hai hướng giáo dục sau trung học cơ sở, hướng tới đáp ứng những nhu cầu và định hướng học tập, nghề nghiệp khác nhau của người học. Đối với GDNN, bên cạnh các CTĐT theo trình độ, hệ thống còn bao gồm đào tạo sơ cấp và các CTĐT nghề khác, góp phần đa dạng hóa thời lượng, nội dung và hình thức đào tạo. Quyết định cũng quy định thời gian học tập tiêu chuẩn đối với các trình độ, trong đó trung học nghề là 3 năm, trung cấp từ 1 đến 2 năm, cao đẳng từ 2 đến 3 năm và sơ cấp từ 3 tháng đến 1 năm. Thời gian học tập tiêu chuẩn được sử dụng làm căn cứ thiết kế chương trình nhưng không thay thế các yêu cầu về chuẩn đầu ra và khối lượng học tập của từng chương trình.
Một nội dung quan trọng của Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân là xác định các luồng giáo dục và định hướng chuyển tiếp giữa các cấp học, trình độ đào tạo, nhằm tạo điều kiện để người học lựa chọn con đường học tập phù hợp với năng lực, nhu cầu và định hướng nghề nghiệp. Sau khi hoàn thành trung học cơ sở, người học có thể tiếp tục theo hướng giáo dục trung học phổ thông hoặc trung học nghề; ở các giai đoạn tiếp theo, người học có thể tham gia những CTĐT ở trình độ cao hơn hoặc các chương trình phù hợp khác theo điều kiện tuyển sinh và quy định liên thông. Khung cơ cấu đồng thời là cơ sở tham chiếu cho việc đối sánh trình độ, xem xét văn bằng, chứng chỉ làm minh chứng để công nhận và chuyển đổi kết quả học tập giữa các cơ sở giáo dục trong nước và quốc tế theo quy định pháp luật và Khung trình độ quốc gia Việt Nam. Việc phân loại các chương trình theo cấp độ, xác định mã chương trình và thời gian học tập tiêu chuẩn cũng góp phần tăng tính thống nhất, minh bạch trong quản lý giáo dục, hỗ trợ định hướng nghề nghiệp, thống kê và so sánh quốc tế. Tuy nhiên, Khung cơ cấu chủ yếu xác lập cấu trúc hệ thống và những nguyên tắc chung về chuyển tiếp, liên thông; việc công nhận, miễn trừ hoặc chuyển đổi kết quả học tập cụ thể vẫn phải tuân thủ các điều kiện và quy định áp dụng đối với từng chương trình, trình độ đào tạo và cơ sở tiếp nhận.
Sơ đồ Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân
Click vào ảnh để xem sơ đồ theo Quyết định 1981/2016/QĐ-TTg
Khung trình độ quốc gia Việt Nam
Khung trình độ quốc gia Việt Nam là hệ thống phân loại, mô tả và chuẩn hóa các trình độ đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân, được thiết lập nhằm tạo ra hệ quy chiếu thống nhất về chuẩn đầu ra, khối lượng học tập và trình độ của người học. Khung được ban hành lần đầu tại Quyết định số 1982/QĐ-TTg năm 2016 và được thay thế, cập nhật bằng Quyết định số 39/2026/QĐ-TTg ngày 23/7/2026, có hiệu lực từ ngày 07/9/2026. Theo quy định mới, Khung gồm tám bậc trình độ, được sắp xếp theo mức độ tăng dần của kiến thức, kỹ năng và mức độ tự chủ, trách nhiệm cá nhân, đồng thời xác định khối lượng học tập tối thiểu tương ứng với từng bậc. Khung là cơ sở để xây dựng chuẩn chương trình, thiết kế và đánh giá CTĐT, bảo đảm chất lượng, tham chiếu và so sánh trình độ, văn bằng, chứng chỉ trong nước và quốc tế; đồng thời hỗ trợ việc công nhận kết quả học tập, liên thông giữa các trình độ đào tạo và phát triển các lộ trình học tập suốt đời. Việc cập nhật Khung năm 2026 theo hướng chú trọng kết quả học tập và năng lực thực tế cũng nhằm tăng cường sự thống nhất giữa GDNN và giáo dục đại học, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và hội nhập quốc tế.
Khung trình độ quốc gia Việt Nam năm 2026 gồm tám bậc
Khung trình độ quốc gia Việt Nam năm 2026 gồm tám bậc, tương ứng với những mức độ năng lực tăng dần từ thực hiện các công việc đơn giản dưới sự giám sát trực tiếp đến giải quyết những nhiệm vụ phức tạp, nghiên cứu và sáng tạo tri thức mới ở trình độ cao nhất. Mỗi bậc được mô tả theo ba thành phần: kiến thức; kỹ năng; mức độ tự chủ và trách nhiệm cá nhân. Trong đó, kiến thức phản ánh phạm vi, chiều sâu và mức độ phức tạp của tri thức mà người học cần nắm vững; kỹ năng thể hiện khả năng vận dụng kiến thức để thực hiện nhiệm vụ, giải quyết vấn đề trong những bối cảnh nghề nghiệp khác nhau; mức độ tự chủ và trách nhiệm thể hiện khả năng làm việc độc lập, chủ động ra quyết định và chịu trách nhiệm đối với kết quả công việc. Các mô tả này mang tính khái quát, áp dụng chung cho các lĩnh vực đào tạo và được cụ thể hóa trong chuẩn chương trình của từng ngành, nghề. Việc xác định bậc trình độ của một CTĐT căn cứ vào chuẩn đầu ra, mức độ phức tạp của năng lực mà người học đạt được và khối lượng học tập tối thiểu theo quy định, thay vì chỉ dựa vào tên gọi chương trình hoặc hình thức tổ chức đào tạo
Trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam, các trình độ đào tạo thuộc GDNN được đặt trong một hệ thống tham chiếu chung với giáo dục đại học. Về cơ bản, các bậc từ 1 đến 3 gắn với các mức độ năng lực nghề nghiệp ban đầu và được phát triển theo hướng tăng dần về tính độc lập, độ phức tạp của công việc và khả năng vận dụng kỹ thuật, công nghệ; bậc 4 và bậc 5 tương ứng với những yêu cầu năng lực ở trình độ trung cấp và cao đẳng. Các bậc 6, 7 và 8 lần lượt thể hiện yêu cầu năng lực ở trình độ đại học, thạc sĩ và tiến sĩ. Cấu trúc này giúp xác định và phân biệt yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, mức độ tự chủ và trách nhiệm giữa các trình độ đào tạo, đồng thời cung cấp cơ sở chung để xây dựng chuẩn đầu ra của các chương trình GDNN. Đối với các CTĐT nghề có thời lượng, phương thức tổ chức hoặc đối tượng người học khác nhau, việc xác định trình độ theo chuẩn đầu ra cũng góp phần làm rõ sự khác biệt giữa mức độ năng lực đạt được và thời gian tham gia đào tạo.
Khung trình độ quốc gia giữ vai trò là hệ quy chiếu trong xây dựng, rà soát và điều chỉnh các chuẩn CTĐT, tổ chức đánh giá kết quả học tập và bảo đảm chất lượng giáo dục. Trên cơ sở yêu cầu của từng bậc trình độ, cơ sở đào tạo cụ thể hóa chuẩn đầu ra, xác định nội dung, phương pháp đào tạo, khối lượng học tập và phương thức đánh giá phù hợp. Đồng thời, việc sử dụng một hệ thống mô tả năng lực chung tạo điều kiện so sánh yêu cầu đầu ra giữa các chương trình, hỗ trợ xem xét công nhận kết quả học tập đã tích lũy và chuyển tiếp giữa những trình độ đào tạo khác nhau. Khung cũng là cơ sở cho việc tham chiếu, đối sánh trình độ và văn bằng, chứng chỉ với các hệ thống trình độ của quốc gia khác. Tuy nhiên, việc một chương trình hoặc văn bằng được xác định ở một bậc trình độ không đồng nghĩa với việc kết quả học tập được tự động công nhận, miễn trừ hoặc chuyển đổi sang chương trình khác; việc công nhận cụ thể vẫn phải căn cứ vào chuẩn đầu ra, nội dung tương ứng, yêu cầu chất lượng và các quy định có liên quan.
So với Khung trình độ quốc gia ban hành năm 2016, Khung năm 2026 tiếp tục duy trì cấu trúc tám bậc trình độ nhưng bổ sung và làm rõ cách tiếp cận dựa trên kết quả học tập, năng lực thực tế và mức độ tự chủ, trách nhiệm của người học. Quy định mới nhấn mạnh tính khái quát của mô tả bậc trình độ, không gắn cứng với tên ngành, nghề, CTĐT hoặc điều kiện đầu vào cụ thể; đồng thời xác định rõ nguyên tắc phân loại chương trình theo chuẩn đầu ra và khối lượng học tập tối thiểu. Nội dung mô tả các bậc trình độ cũng được cập nhật theo yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, kỹ năng số, khả năng thích ứng, đổi mới sáng tạo và giải quyết vấn đề trong môi trường nghề nghiệp hiện đại. Bên cạnh đó, Khung mới làm rõ hơn vai trò tham chiếu, so sánh và công nhận trình độ, văn bằng, chứng chỉ, cũng như mối quan hệ với Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân được ban hành cùng năm. Để bảo đảm tính liên tục trong triển khai, các chương trình giáo dục, CTĐT và chuẩn chương trình đã ban hành trước khi Quyết định số 39/2026/QĐ-TTg có hiệu lực được tiếp tục áp dụng đối với các khóa tuyển sinh trước ngày 01/01/2027.
Khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia
Khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia là hệ thống phân loại và mô tả các bậc trình độ kỹ năng nghề của người lao động, được quy định tại Nghị định số 138/2026/NĐ-CP ngày 07/4/2026 của Chính phủ, trên cơ sở Luật Việc làm năm 2025. Khung gồm 5 bậc trình độ, từ bậc 1 đến bậc 5, được xác định theo tính chất, mức độ phức tạp, phạm vi và điều kiện thực hiện công việc; khả năng vận dụng kiến thức, công nghệ, giải quyết vấn đề và sáng tạo; cũng như mức độ tự chủ, phối hợp và trách nhiệm trong thực hiện công việc. Số bậc kỹ năng được xác định cụ thể đối với từng nghề phụ thuộc vào mức độ phức tạp của nghề đó, không nhất thiết tất cả các nghề đều có đủ năm bậc. Đây là cơ sở để xây dựng, cập nhật và áp dụng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia theo từng nghề, từng bậc trình độ, đồng thời tổ chức đánh giá, công nhận và cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia. Khung cũng được sử dụng làm căn cứ tham chiếu trong đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề, phát triển nghề nghiệp, đánh giá cơ cấu kỹ năng của lực lượng lao động và hỗ trợ công nhận, đối sánh trình độ kỹ năng nghề giữa Việt Nam với các quốc gia khác. Khác với Khung trình độ quốc gia Việt Nam dùng để xác định các bậc trình độ đào tạo và kết quả học tập, Khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia tập trung vào năng lực thực hiện công việc của người lao động, không phụ thuộc trực tiếp vào việc người lao động đã hoàn thành một chương trình đào tạo hoặc được cấp văn bằng ở trình độ nào.
Xem chi tiết mô tả 5 bậc trình độ kỹ năng nghề quốc gia
Khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia được tổ chức thành năm bậc, phản ánh sự gia tăng về độ phức tạp của công việc, phạm vi kiến thức và kỹ năng cần vận dụng, khả năng xử lý các tình huống nghề nghiệp, mức độ độc lập và trách nhiệm đối với kết quả thực hiện công việc.
Bậc 1: 1. Có khả năng thực hiện được các công việc đơn giản, công việc có tính lập lại trong tình huống cố định;
2. Có kiến thức cơ bản về chuyên môn và hiểu biết về hoạt động của nghề ở phạm vi hẹp trong một số lĩnh vực; có khả năng áp dụng kiến thức và hiểu biết để thực hiện công việc theo chỉ dẫn;
3. Có khả năng tiếp nhận, ghi chép và chuyển tải thông tin theo yêu cầu; có khả năng tham gia làm việc theo tổ, nhóm; chịu trách nhiệm một phần đối với kết quả công việc, sản phẩm làm ra.
Bậc 2: 1. Có khả năng thực hiện các công việc thông thường và một số công việc phức tạp trong một số tình huống nhất định;
2. Có kiến thức chuyên môn và hiểu biết về hoạt động của nghề ở phạm vi rộng trong nhiều lĩnh vực; có khả năng áp dụng được kiến thức và hiểu biết để đưa ra giải pháp giải quyết vấn đề chuyên môn kỹ thuật thông thường và một số vấn đề phức tạp nhưng cần có sự chỉ dẫn khi thực hiện công việc;
3. Có khả năng suy xét, phán đoán và giải thích thông tin; tự chủ trong làm việc theo tổ, nhóm và có khả năng làm việc độc lập trong một số trường hợp khi thực hiện công việc; chịu trách nhiệm chủ yếu đối với kết quả công việc, sản phẩm làm ra.
Bậc 3: 1. Có khả năng thực hiện phần lớn các công việc phức tạp, công việc có nhiều sự lựa chọn trong một số tình huống khác nhau;
2. Có kiến thức chuyên môn, kiến thức cơ bản về nguyên lý, lý thuyết và hiểu biết rộng về các hoạt động của nghề trong các lĩnh vực; vận dụng được kiến thức và hiểu biết để thực hiện hướng dẫn, truyền đạt được cho người khác; chẩn đoán, dự báo một số tình huống và đưa ra giải pháp giải quyết, xử lý một số vấn đề chuyên môn kỹ thuật phức tạp và một số yêu cầu của quản lý khi thực hiện công việc;
3. Có khả năng nhận biết, phân tích, dự báo, đánh giá thông tin từ nhiều nguồn khác nhau; tự chủ, làm việc độc lập và hướng dẫn người khác trong tổ nhóm khi thực hiện công việc; chịu trách nhiệm đối với kết quả công việc, sản phẩm làm ra về chất lượng theo tiêu chuẩn quy định và chịu một phần trách nhiệm đối với kết quả công việc, sản phẩm của người khác trong tổ, nhóm làm ra.
Bậc 4: 1. Có khả năng thực hiện hầu hết các công việc phức tạp, công việc có nhiều sự lựa chọn trong nhiều tình huống khác nhau;
2. Có kiến thức chuyên môn sâu, kiến thức về nguyên lý, lý thuyết và hiểu biết sâu, rộng về các hoạt động của nghề trong các lĩnh vực; vận dụng được kiến thức và hiểu biết để thực hiện hướng dẫn, truyền đạt, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề được cho người khác, ứng dụng công nghệ mới, đổi mới sáng tạo và đưa ra giải pháp giải quyết, xử lý vấn đề chuyên môn kỹ thuật phức tạp và các yêu cầu của quản lý khi thực hiện công việc;
3. Có khả năng phân tích, đánh giá thông tin từ nhiều nguồn khác nhau; chẩn đoán, dự báo được những tình huống khác nhau và sử dụng kết quả phân tích đánh giá, chẩn đoán, dự báo để đưa ra ý kiến, kiến nghị cho mục đích quản lý và nghiên cứu; làm việc độc lập và tự chủ cao; có khả năng quản lý, điều hành tổ, nhóm trong quá trình thực hiện công việc; tự chịu trách nhiệm đối với kết quả công việc, sản phẩm làm ra về chất lượng theo tiêu chuẩn quy định và chịu trách nhiệm đối với kết quả công việc, sản phẩm của người khác trong tổ, nhóm làm ra.
Bậc 5: 1. Có khả năng thực hiện các công việc phức tạp, công việc có nhiều sự lựa chọn trong mọi tình huống;
2. Có kiến thức chuyên môn sâu, kiến thức rộng về nguyên lý, lý thuyết và hiểu biết sâu, rộng về các hoạt động của nghề trong các lĩnh vực; vận dụng được kiến thức và hiểu biết để thực hiện hướng dẫn, truyền đạt, bồi dưỡng, đào tạo nâng cao trình độ kỹ năng nghề được cho người khác; có kỹ năng phân tích, suy xét, chẩn đoán, thiết kế, dự báo những tình huống, xu hướng mới, phức tạp, ứng dụng công nghệ mới, đổi mới sáng tạo để đưa ra giải pháp giải quyết, xử lý các vấn đề chuyên môn kỹ thuật phức tạp hoặc yêu cầu của quản lý trong phạm vi rộng khi thực hiện công việc;
3. Có khả năng phân tích, đánh giá thông tin và tổng quát hóa để đưa ra các quan điểm, sáng kiến; làm việc độc lập và tự chủ cao; quản lý, điều hành tổ, nhóm trong quá trình thực hiện công việc; tự chịu trách nhiệm đối với kết quả công việc, sản phẩm làm ra về chất lượng và chịu trách nhiệm đối với kết quả công việc, sản phẩm của tổ, nhóm làm ra bảo đảm thông số kỹ thuật và theo tiêu chuẩn quy định.
(Nguồn: Phụ lục I Nghị định số 138/2026/NĐ-CP)
Xem thêm về khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia
Khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia, tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia là ba thành phần có quan hệ chặt chẽ nhưng thực hiện những chức năng khác nhau. Khung trình độ xác định hệ thống bậc và mô tả yêu cầu năng lực chung; tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia cụ thể hóa những yêu cầu đó đối với từng nghề, từng bậc trình độ; còn chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia là minh chứng được cấp để ghi nhận kết quả đánh giá và công nhận kỹ năng nghề đã tích lũy của người lao động theo quy định. Theo Nghị định số 138/2026/NĐ-CP, tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia của một nghề bao gồm mô tả nghề, danh mục các đơn vị năng lực, mô tả chi tiết từng đơn vị năng lực và các điều kiện cần thiết để thực hiện, đánh giá kỹ năng nghề. Các đơn vị năng lực được phân thành năng lực cơ bản, năng lực chung và năng lực nghề nghiệp chuyên môn, làm căn cứ phát triển bộ công cụ đánh giá kiến thức, kỹ năng thực hành và quy trình an toàn lao động. Người lao động tham gia đánh giá tại tổ chức đủ điều kiện hoạt động đánh giá kỹ năng nghề quốc gia; kết quả đạt yêu cầu là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia tương ứng với nghề và bậc trình độ được đánh giá. Cách tiếp cận này cho phép xác nhận năng lực nghề nghiệp thông qua đánh giá theo tiêu chuẩn, thay vì chỉ căn cứ vào quá trình tham gia hoặc hoàn thành một khóa đào tạo.
Khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia là một công cụ tham chiếu quan trọng trong phát triển kỹ năng nghề của lực lượng lao động, đặc biệt đối với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, nâng bậc kỹ năng và phát triển nghề nghiệp. Việc mô tả yêu cầu năng lực theo từng bậc giúp người lao động và người sử dụng lao động xác định những kỹ năng cần được bổ sung, nâng cao để đáp ứng yêu cầu công việc; đồng thời cung cấp cơ sở tham khảo cho các cơ sở đào tạo khi xây dựng chuẩn chương trình và nội dung đào tạo phù hợp với nhu cầu thị trường lao động. Khung cũng hỗ trợ việc xác định những nghề, công việc có yêu cầu bắt buộc về chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia theo quy định pháp luật, đặc biệt đối với các công việc ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn và sức khỏe của người lao động hoặc cộng đồng. Về quan hệ với hệ thống GDNN, cần phân biệt bậc trình độ kỹ năng nghề quốc gia với bậc trình độ đào tạo trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam: một bên xác định năng lực thực hiện công việc theo tiêu chuẩn nghề nghiệp, bên còn lại xác định yêu cầu về kết quả học tập của CTĐT. Do đó, việc người lao động có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia ở một bậc nhất định không đồng nghĩa với việc được cấp văn bằng GDNN tương ứng hoặc tự động được công nhận, miễn trừ nội dung học tập; các hình thức công nhận, chuyển đổi cụ thể phải tuân thủ quy định pháp luật và yêu cầu của CTĐT tiếp nhận.
Nhìn chung, các chủ trương, chính sách của Đảng và hệ thống văn bản pháp luật mới ban hành đã và đang tạo nền tảng chính trị, pháp lý quan trọng cho việc phát triển một hệ thống GDNN và phát triển kỹ năng nghề theo hướng mở, linh hoạt, liên thông, gắn kết với thị trường lao động và thúc đẩy học tập suốt đời.
Giới thiệu hệ thống GDNN Việt Nam
Mạng lưới cơ sở GDNN
Trong giai đoạn 2025–2026, mạng lưới cơ sở GDNN công lập tại Việt Nam đang trải qua quá trình sắp xếp, tổ chức lại trên quy mô toàn quốc theo định hướng tinh gọn đầu mối, nâng cao hiệu quả quản trị, sử dụng nguồn lực và chất lượng đào tạo. Theo số liệu của Cục GDNNGDTX, số trường cao đẳng, trung cấp công lập giảm từ 423 trường tại thời điểm ngày 01/7/2025 xuống còn 321 trường vào ngày 01/10/2026, tương đương mức giảm 24,1%; trong đó, số trường thuộc bộ, ngành giảm từ 156 xuống 142 trường và số trường thuộc địa phương giảm từ 267 xuống 179 trường. Quá trình sắp xếp được định hướng gắn với chuẩn cơ sở GDNN, yêu cầu bảo đảm chất lượng, duy trì quy mô đào tạo và đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, thay vì chỉ tập trung giảm số lượng cơ sở. Tuy nhiên, do quá trình sắp xếp mới được triển khai trong một thời gian rất ngắn, trong thời gian tới, các cơ sở GDNN vẫn tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy, quản trị sau sáp nhập.
Thực trạng mạng lưới trường cao đẳng và trung cấp công lập sau quá trình sắp xếp, tổ chức lại (giai đoạn 01/07/2026 - 01/10/2026)
(Nguồn: Cục GDNN-GDTX, 2026)
Xem thêm về mạng lưới cơ sở GDNN
Việc sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở GDNN công lập được triển khai trong khuôn khổ chủ trương đổi mới, tinh gọn tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập. Theo Kế hoạch số 06-KH/TW ngày 28/7/2026 thực hiện Kết luận số 76-KL/TW của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, nhiệm vụ đặt ra là chuyển các cơ sở GDNN công lập trực thuộc bộ, ngành về địa phương quản lý, ngoại trừ một số cơ sở thuộc lĩnh vực đặc thù, đồng thời giảm tối thiểu 30% số cơ sở GDNN công lập trước ngày 01/10/2026. Định hướng sắp xếp không chỉ nhằm giảm số lượng đầu mối mà còn hướng tới nâng cao chất lượng đào tạo, hiệu quả quản trị và sử dụng nguồn lực, tăng khả năng đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động. Việc giảm số cơ sở được xác định không đồng nghĩa với giảm quy mô tuyển sinh và đào tạo. Theo đó, quá trình sắp xếp được thực hiện trên nguyên tắc “tinh gọn, hiệu quả, đạt chuẩn”, đồng thời chú trọng duy trì hoạt động đào tạo ổn định, bảo vệ quyền lợi người học và đội ngũ nhà giáo trong quá trình chuyển đổi.Khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia, tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia là ba thành phần có quan hệ chặt chẽ nhưng thực hiện những chức năng khác nhau. Khung trình độ xác định hệ thống bậc và mô tả yêu cầu năng lực chung; tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia cụ thể hóa những yêu cầu đó đối với từng nghề, từng bậc trình độ; còn chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia là minh chứng được cấp để ghi nhận kết quả đánh giá và công nhận kỹ năng nghề đã tích lũy của người lao động theo quy định. Theo Nghị định số 138/2026/NĐ-CP, tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia của một nghề bao gồm mô tả nghề, danh mục các đơn vị năng lực, mô tả chi tiết từng đơn vị năng lực và các điều kiện cần thiết để thực hiện, đánh giá kỹ năng nghề. Các đơn vị năng lực được phân thành năng lực cơ bản, năng lực chung và năng lực nghề nghiệp chuyên môn, làm căn cứ phát triển bộ công cụ đánh giá kiến thức, kỹ năng thực hành và quy trình an toàn lao động. Người lao động tham gia đánh giá tại tổ chức đủ điều kiện hoạt động đánh giá kỹ năng nghề quốc gia; kết quả đạt yêu cầu là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia tương ứng với nghề và bậc trình độ được đánh giá. Cách tiếp cận này cho phép xác nhận năng lực nghề nghiệp thông qua đánh giá theo tiêu chuẩn, thay vì chỉ căn cứ vào quá trình tham gia hoặc hoàn thành một khóa đào tạo.
Theo số liệu được Cục GDNN và Giáo dục thường xuyên tổng hợp, tại thời điểm ngày 01/7/2025, Việt Nam có 423 trường cao đẳng và trung cấp công lập, bao gồm 286 trường cao đẳng và 137 trường trung cấp. Trong đó, 156 trường trực thuộc các bộ, ngành và 267 trường thuộc địa phương quản lý. Đến ngày 01/10/2026, tổng số giảm còn 321 trường, gồm 238 trường cao đẳng và 83 trường trung cấp; trong đó có 142 trường thuộc bộ, ngành và 179 trường thuộc địa phương. Như vậy, trong khoảng 15 tháng, mạng lưới đã giảm 102 trường, tương đương khoảng 24,1% so với thời điểm tháng 7/2025. Mức giảm tập trung chủ yếu ở các cơ sở thuộc địa phương, với 88 trường, trong khi số trường thuộc bộ, ngành giảm 14 trường. Mặc dù số lượng cơ sở đã giảm đáng kể, kết quả này vẫn chưa đạt mục tiêu giảm tối thiểu 30% theo kế hoạch, do đó quá trình rà soát và tổ chức lại mạng lưới tiếp tục được triển khai. Việc sắp xếp bước đầu đã góp phần giảm một số cơ sở có ngành, nghề đào tạo trùng lặp, quy mô nhỏ hoặc hoạt động kém hiệu quả, đồng thời định hướng gắn việc chuyển giao cơ sở về địa phương với quy hoạch phát triển nguồn nhân lực và nhu cầu sử dụng lao động tại chỗ.
Một đặc điểm quan trọng của quá trình tái cấu trúc mạng lưới GDNN là sự thay đổi về cơ quan chủ quản và mô hình tổ chức của các cơ sở công lập. Đối với các trường trực thuộc bộ, ngành, chủ trương chung là chuyển về địa phương quản lý, ngoại trừ những cơ sở được xem xét theo các tiêu chí đặc thù. Nghị quyết số 42/2026/NQ-CP ngày 26/9/2026 xác định sáu lĩnh vực có yêu cầu đặc thù, bao gồm đào tạo giáo viên, pháp luật, sức khỏe, nghệ thuật, thể dục – thể thao và an ninh – quốc phòng, nhằm làm căn cứ lựa chọn phương án sắp xếp phù hợp. Tuy nhiên, việc được xác định thuộc lĩnh vực đặc thù không đồng nghĩa với việc cơ sở đó đương nhiên được giữ nguyên mô hình tổ chức hoặc không phải thực hiện sắp xếp. Bên cạnh việc thay đổi cơ quan quản lý, quá trình sáp nhập và tổ chức lại cũng được yêu cầu gắn với chuẩn cơ sở GDNN ban hành tại Thông tư số 38/2026/TT-BGDĐT, bao gồm 6 điều kiện bảo đảm chất lượng và 10 chỉ số hoạt động. Trong đó có những yêu cầu liên quan đến quy mô tuyển sinh, đội ngũ nhà giáo và tỷ lệ người học tốt nghiệp có việc làm phù hợp. Các cơ sở được thành lập trước ngày 01/01/2026 có thời hạn 60 tháng để đáp ứng chuẩn, đồng thời phải thực hiện tự đánh giá, cập nhật dữ liệu, công khai kết quả và xây dựng lộ trình cải tiến hằng năm. Vì vậy, việc sắp xếp mạng lưới được định hướng kết hợp giữa tổ chức lại cơ sở, kiện toàn bộ máy quản trị và từng bước nâng cao các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo.
Quy mô tuyển sinh, tốt nghiệp
Trong giai đoạn 2021 - 2025, tổng số người học được tuyển sinh vào hệ thống GDNN đạt khoảng 10,45 triệu người. Trong đó, trình độ cao đẳng và trung cấp đạt khoảng 2,05 triệu người; trình độ sơ cấp và các CTĐT nghề dưới ba tháng đạt khoảng 8,4 triệu người. Tổng số người tốt nghiệp trong giai đoạn này đạt khoảng 8,8 triệu người, gồm khoảng 1,5 triệu người tốt nghiệp trình độ cao đẳng, trung cấp và khoảng 7,3 triệu người tốt nghiệp trình độ sơ cấp hoặc các CTĐT nghề dưới ba tháng.
Bảng 2.Số liệu tuyển sinh và tốt nghiệp trong giai đoạn 2021-2025 (Đơn vị: triệu người)
Chỉ tiêu
Tổng số
Cao đẳng, trung cấp
Sơ cấp & đào tạo dưới 3 tháng
Tuyển sinh
10,45
2,05
8,40
Tốt nghiệp
8,80
1,50
7,30
Xem thêm về số liệu tuyển sinh và tốt nghiệp giai đoạn 2021 - 2025
Tính bình quân trong giai đoạn 2021–2025, mỗi năm hệ thống GDNN tuyển sinh khoảng 2,09 triệu người và có khoảng 1,76 triệu người tốt nghiệp. Trong số tuyển sinh hằng năm, khoảng 410 nghìn người theo học trình độ cao đẳng, trung cấp và khoảng 1,68 triệu người theo học trình độ sơ cấp hoặc các CTĐT nghề dưới ba tháng. Số người tốt nghiệp bình quân hằng năm tương ứng khoảng 300 nghìn người ở trình độ cao đẳng, trung cấp và khoảng 1,46 triệu người ở trình độ sơ cấp hoặc các CTĐT nghề dưới ba tháng. Các số liệu cho thấy hệ thống GDNN đã duy trì được quy mô đào tạo tương đối lớn. Tuy nhiên, cơ cấu tuyển sinh và tốt nghiệp vẫn tập trung chủ yếu ở trình độ sơ cấp và các CTĐT ngắn hạn. Đây là đặc điểm cần được xem xét khi đánh giá khả năng cung ứng lực lượng lao động có kỹ năng chuyên sâu, có chứng chỉ và có khả năng đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các thị trường lao động.
"WHAT: LẬP BẢN ĐỒ CÁC NHÓM VĂN BẰNG, CHỨNG CHỈ, CHỨNG NHẬN."
WHAT
Lập bản đồ các nhóm văn bằng, chứng chỉ và chứng nhận
Kết quả rà soát tài liệu, phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm cho thấy các hình thức xác nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích luỹ tại Việt Nam rất đa dạng, tồn tại trong nhiều hệ thống và khuôn khổ tổ chức khác nhau. Để làm rõ bức tranh này, nghiên cứu đã tiến hành lập bản đồ và phân loại các nhóm văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận (VB-CC-CN) theo các tiêu chí về chủ thể cấp, mục đích, phạm vi sử dụng và cơ sở pháp lý.
Hình 5.Bản đồ các nhóm văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận được ghi nhận trong nghiên cứu
Mô tả chung các nhóm văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận
Nhóm 1. Văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận gắn với hệ thống Giáo dục nghề nghiệp
Tiểu nhóm 1.1. Văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận trong hệ thống giáo dục quốc dân được quy định trong Luật Giáo dục, Luật GDNN và các văn bản hướng dẫn liên quan
Tiểu nhóm 1.1 bao gồm các loại văn bằng, chứng chỉ và chứng nhận được quy định trong hệ thống giáo dục quốc dân, do các cơ sở hoạt động GDNN cấp cho người học theo quy định của Luật Giáo dục, Luật GDNN và các văn bản hướng dẫn liên quan.
iĐiều 12 Luật số 123/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục 2019; Điều 11, khoản 1. Văn bằng, chứng chỉ - Thông tư 79/2026/TT-BGDĐT
Việc cấp văn bằng, chứng chỉ, giấy chứng nhận được thực hiện trên cơ sở người học đáp ứng các điều kiện về hoàn thành chương trình, kết quả học tập, đánh giá hoặc tốt nghiệp tương ứng với từng loại hình và trình độ đào tạo. Các hình thức chủ yếu
i Điều 11, khoản 1. Văn bằng, chứng chỉ - Thông tư 79/2026/TT-BGDĐT
bao gồm bằng trung học nghề, bằng trung cấp, bằng cao đẳng, chứng chỉ sơ cấp, chứng chỉ đào tạo đối với các CTĐT nghề khác và giấy chứng nhận hoàn thành chương trình trong những trường hợp được pháp luật quy định.
Loại văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận được cấp
Đối với trình độ cao đẳng, trung cấp: gồm Bằng cao đẳng dành cho người học hết CTĐT trình độ cao đẳng và đủ điều kiện theo quy định; Bằng trung cấp dành cho người học hết CTĐT trình độ cao đẳng và đủ điều kiện theo quy định.
Đối với trình độ sơ cấp và CTĐT nghề khác: gồm Chứng chỉ sơ cấp dành cho người học hết CTĐT trình độ sơ cấp và đủ điều kiện theo quy định;
Đối với CTĐT nghề khác: Chứng chỉ đào tạo nghề dành cho người học hết CTĐT nghề khác và đủ điều kiện theo yêu cầu của chương trình;
Đối với cấp trung học nghề: Bằng trung học nghề dành cho người học hết chương trình giáo dục trung học nghề và thi tốt nghiệp đạt yêu cầu; Giấy chứng nhận hoàn thành chương trình trung học nghề dành cho người học đã hoàn thành chương trình trung học nghề nhưng không dự thi tốt nghiệp hoặc thi tốt nghiệp không đạt yêu cầu.
Ví dụ minh hoạ
Với chương trình đào tạo trình độ cao đẳng, dữ liệu phỏng vấn ghi nhận trong khuôn khổ dự án tài trợ của đối tác phát triển quốc tế, một trường cao đẳng khu vực miền Nam đã đưa vào tuyển sinh 2 ngành đào tạo gắn với chuyển đổi xanh là Công nghệ điện tử, năng lượng và toà nhà và Công nghẹ sưởi ấm và điều hoà không khí (CĐ#1). Ngoài ra, có 2 trường cao đẳng đã và đang hoàn thiện hồ sơ trình Bộ GDĐT cấp phép tuyển sinh cho chương trình đào tạo về Năng lượng tái tạo; sinh viên hoàn thành CTĐT được cấp bằng cao đẳng Năng lượng tái tạo (CĐ#6, CĐ#12).
Với chương trình đào tạo nghề khác, dữ liệu phỏng vấn ghi nhận các trường cao đẳng nghề đã xây dựng các mô-đun chương trình (như lắp đặt điện, năng lượng tái tạo, kỹ thuật lạnh) và chiêu sinh người lao động tự do hoặc sinh viên trường khác có nhu cầu học nâng cao kỹ năng. Kết thúc khóa học, trường tự kiểm tra và cấp chứng chỉ đào tạo thường xuyên/ngắn hạn.
Tiểu nhóm 1.2. Văn bằng của cơ sở GDNN nước ngoài trong khuôn khổ chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài
Tiểu nhóm 1.2 bao gồm các văn bằng trung cấp, cao đẳng do cơ sở GDNN nước ngoài có thẩm quyền cấp cho người học trong khuôn khổ chương trình liên kết đào tạo giữa cơ sở GDNN Việt Nam với cơ sở GDNN nước ngoài. Hoạt động liên kết đào tạo này tuân thủ nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, bảo đảm lợi ích quốc gia, an ninh tư tưởng, văn hóa và tuân thủ các quy định QLNN về GDNN của hai quốc gia. Tùy theo thỏa thuận giữa các bên, người học có thể được cấp văn bằng của cơ sở nước ngoài hoặc đồng thời nhận văn bằng, chứng chỉ của nước ngoài và văn bằng GDNN tương ứng của Việt Nam. Trường hợp chương trình liên kết đào tạo chỉ cấp văn bằng của Việt Nam mà không có văn bằng do phía nước ngoài cấp thì không thuộc phạm vi phân loại của tiểu nhóm này mà được xếp vào Tiểu nhóm 1.1.
Tuy nhiên, theo dữ liệu thống kê từ Cục GDNNGDTX, số lượng chương trình liên kết đào tạo trong GDNN nói chung và trong các lĩnh vực ưu tiên của nghiên cứu này còn rất hạn chế, đa số các trường mới bắt đầu hoặc chuẩn bị triển khai
Ví dụ minh hoạ
Các mô hình liên kết đào tạo có cấu trúc đầu ra khác nhau. Trường hợp đang triển khai được minh họa dưới đây; phương án cấp đồng thời văn bằng Việt Nam và nước ngoài đang được chuẩn bị được trình bày riêng ở Lộ trình 2A.
Tại một trường cao đẳng khu vực miền Bắc, nhà trường đã bắt đầu triển khai chương trình liên kết đào tạo ngành Công nghệ điện khí tự động hoá cũng theo mô hình 1+1+1 với một trường cao đẳng nước ngoài. Sinh viên tốt nghiệp được cấp 1 văn bằng cao đẳng do phía trường nước ngoài cấp (CĐ#17). Trường hợp này minh họa văn bằng do phía nước ngoài cấp, không được sử dụng làm bằng chứng cho lộ trình nhận đồng thời hai văn bằng.
Tiểu nhóm 1.3. Chứng nhận mô-đun/nội dung thuộc CTĐT GDNN
Tiểu nhóm 1.3 bao gồm các chứng nhận kết quả học tập do các cơ sở GDNN cấp cho người học nhằm ghi nhận việc hoàn thành một hoặc một số mô-đun, học phần hoặc khối kiến thức/kỹ năng chuyên biệt nằm trong chương trình đào tạo chính quy (trình độ cao đẳng, trung cấp). Các chứng nhận này là minh chứng cho kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích luỹ theo từng phần, đóng vai trò bổ trợ để ghi nhận tiến độ học tập, chứng minh năng lực nghề nghiệp hoặc làm cơ sở xét công nhận, chuyển đổi và tích lũy tín chỉ; văn bản này không thay thế văn bằng tốt nghiệp chính quy của toàn khóa học và không cấu thành một trình độ đào tạo độc lập trong Khung trình độ quốc gia.
Chứng nhận được cấp chủ yếu tồn tại dưới dạng giấy chứng nhận hoàn thành mô-đun (certificate of module completion) (như mô-đun Bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên; mô-đun kỹ năng số/ứng dụng AI; mô-đun kỹ thuật lắp đặt điều hòa dân dụng/thương mại), hoặc bảng kết quả tích lũy mô-đun/tín chỉ do cơ sở GDNN ban hành. Bên cạnh bản giấy có chữ ký của người đứng đầu cơ sở đào tạo (hoặc trưởng khoa/đơn vị chuyên môn được phân cấp) và đóng dấu của nhà trường, hình thức này ngày càng được số hóa dưới dạng chứng nhận điện tử (e-certificate) cấp tự động qua hệ thống quản lý học tập trực tuyến (LMS) hoặc lưu trên hệ thống phần mềm quản lý đào tạo nội bộ của nhà trường.
Ví dụ minh hoạ
Dữ liệu CĐ#1 cho thấy chứng nhận có thể được cấp cho một mô-đun nằm trong CTĐT chính quy, thay vì cho một chương trình độc lập. Trường hợp cụ thể được tập trung tại Lộ trình 2D để làm rõ quan hệ giữa văn bằng tốt nghiệp và các kết quả bổ trợ.
Nhóm 2. Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia là chứng chỉ được cấp cho người lao động trên cơ sở kết quả đánh giá kỹ năng nghề quốc gia theo tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, nhằm công nhận trình độ kỹ năng nghề đã tích luỹ của người lao cho từng nghề và từng bậc trình độ kỹ năng nghề quốc gia theo Khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia. Hệ thống đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia mở ra một cách tạo điều kiện cho người lao động được công nhận trình độ mà không nhất thiết phải bắt đầu từ việc hoàn thành một CTĐT; tuy nhiên người lao động muốn tham gia đánh giá để được cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia cũng phải đáp ứng các điều kiện theo quy định tại Nghị định 138/2026/NĐ-CP.
Loại chứng chỉ được cấp
Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia gồm 05 bậc, từ bậc 1 đến bậc 5, tương ứng với 05 bậc trình độ kỹ năng nghề của Khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia:
Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia bậc 1;
Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia bậc 2;
Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia bậc 3;
Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia bậc 4;
Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia bậc 5.
Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia được cấp dưới dạng giấy và dạng điện tử. Việc cấp, quản lý, lưu trữ và tra cứu chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia được thực hiện trên môi trường điện tử theo lộ trình chuyển đổi số; áp dụng chữ ký số và chứng thư số theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử và lưu trữ. Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia được cấp dưới dạng điện tử có giá trị pháp lý như chứng chỉ được cấp bằng bản giấyiKhoản 4 Điều 22 Nghị định 138/2026/NĐ-CP.
Nhóm 3. Chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận gắn với hệ thống thị trường lao động
Tiểu nhóm 3.1. Chứng chỉ, thẻ theo pháp luật chuyên ngành
Trong phạm vi nghiên cứu này, chứng chỉ, thẻ theo pháp luật chuyên ngành được hiểu là các hình thức xác nhận được cấp theo quy định của pháp luật chuyên ngành, nhằm ghi nhận việc cá nhân đã hoàn thành chương trình huấn luyện, đáp ứng các yêu cầu về an toàn, kiến thức, kỹ năng, năng lực chuyên môn hoặc các điều kiện cần thiết để thực hiện một công việc, nhiệm vụ hay hoạt động nghề nghiệp cụ thể trong lĩnh vực tương ứng. Việc huấn luyện, đào tạo, đánh giá, sát hạch và cấp các giấy tờ này được thực hiện theo những cơ chế, điều kiện, tiêu chuẩn, thẩm quyền và quy trình do pháp luật chuyên ngành quy định.
Căn cứ vào mục đích và chức năng của các giấy tờ đối với hoạt động nghề nghiệp, nghiên cứu phân biệt hai nhóm chính::
Nhóm thẻ về an toàn nghề nghiệp: Bao gồm thẻ an toàn điện và các hình thức tương tự được cấp theo quy định pháp luật. Các giấy tờ này chủ yếu xác nhận việc người lao động đã được huấn luyện, đáp ứng yêu cầu kiểm tra, sát hạch về an toàn hoặc đạt bậc an toàn tương ứng, nhằm bảo đảm điều kiện an toàn khi thực hiện những công việc được giao.
Nhóm chứng chỉ năng lực chuyên môn theo pháp luật chuyên ngành (chứng chỉ hành nghề): Bao gồm các chứng chỉ được cấp nhằm xác nhận cá nhân đáp ứng yêu cầu về kiến thức, kỹ năng và năng lực thực hiện những nhiệm vụ chuyên môn trong một lĩnh vực cụ thể, chẳng hạn chứng chỉ Quản lý năng lượng và chứng chỉ Kiểm toán viên năng lượng. Các chứng chỉ này tập trung vào năng lực thực hiện chức năng nghề nghiệp chuyên biệt, thay vì chỉ xác nhận việc hoàn thành một chương trình đào tạo thông thường.
Điểm chung của hai nhóm là đều được cấp theo các cơ chế do pháp luật chuyên ngành quy định và gắn với những yêu cầu cụ thể trong hoạt động nghề nghiệp. Tuy nhiên, chúng khác nhau về mục đích xác nhận, nội dung đào tạo và đánh giá, điều kiện cấp cũng như phạm vi sử dụng. Việc được cấp chứng chỉ, chứng nhận hoặc thẻ theo pháp luật chuyên ngành không mặc nhiên đồng nghĩa với việc cá nhân đã đạt một trình độ đào tạo trong hệ thống GDNN hoặc được công nhận tương đương với văn bằng, chứng chỉ của hệ thống này.
Ví dụ minh hoạ
Đối với thẻ an toàn điện, một số trường cao đẳng nghề có trung tâm huấn luyện an toàn được cấp phép tự tổ chức huấn luyện, sát hạch và cấp thẻ an toàn điện cho sinh viên (thuộc nhóm đối tượng công việc có yêu cầu nghiêm ngặt như Nhóm 3). Việc sinh viên trang bị thẻ an toàn điện trước khi ra trường giúp đáp ứng ngay yêu cầu của các doanh nghiệp lớn mà không tốn thời gian đào tạo lại (CĐ7, CG#1). Doanh nghiệp điện lực cho biết họ tự tổ chức huấn luyện, sát hạch và cấp thẻ an toàn điện định kỳ hằng năm cho cán bộ/kỹ thuật viên của mình (DN#8). Cựu sinh viên CSV#4 cho biết được công ty cho đào tạo Thẻ an toàn điện định kỳ, kinh phí đào tạo được chi trả từ nguồn kinh phí của công ty.
Theo người trả lời là cán bộ của một trung tâm đào tạo chứng chỉ quản lý năng lượng và kiểm toán viên năng lượng, hàng năm, các địa phương sẽ công bố danh sách các "Cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm" (nhà máy, xí nghiệp, tòa nhà tiêu thụ điện năng lớn). Tất cả các đơn vị nằm trong danh sách này (không phân biệt doanh nghiệp nhà nước, tư nhân hay FDI) bắt buộc phải có nhân sự phụ trách được đào tạo và có chứng chỉ quản lý năng lượng. Nhu cầu học chứng chỉ này rất ổn định và đều đặn trên thị trường. Chứng chỉ kiểm toán viên năng lượng dành riêng cho đội ngũ kỹ sư, chuyên gia thuộc các đơn vị tư vấn đi khảo sát, đánh giá việc sử dụng năng lượng tại các nhà máy, công trình; nhu cầu đào tạo biến động theo tình hình thực tế của thị trường tư vấn (TT#4).
Nhóm 3. Chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận gắn với hệ thống thị trường lao động
Tiểu nhóm 3.1. Chứng chỉ, thẻ theo pháp luật chuyên ngành
Chứng chỉ, thẻ theo pháp luật chuyên ngành là các hình thức xác nhận được cấp theo quy định của pháp luật chuyên ngành, nhằm ghi nhận việc cá nhân đã hoàn thành chương trình huấn luyện, đáp ứng các yêu cầu về an toàn, kiến thức, kỹ năng, năng lực chuyên môn hoặc các điều kiện cần thiết để thực hiện một công việc, nhiệm vụ hay hoạt động nghề nghiệp cụ thể trong lĩnh vực tương ứng. Việc huấn luyện, đào tạo, đánh giá, sát hạch và cấp các giấy tờ này được thực hiện theo những cơ chế, điều kiện, tiêu chuẩn, thẩm quyền và quy trình do pháp luật chuyên ngành quy định.
Căn cứ vào mục đích và chức năng của các giấy tờ đối với hoạt động nghề nghiệp, nghiên cứu phân biệt hai nhóm chính:
Nhóm thẻ về an toàn nghề nghiệp: Bao gồm thẻ an toàn điện và các hình thức tương tự được cấp theo quy định pháp luật. Các giấy tờ này chủ yếu xác nhận việc người lao động đã được huấn luyện, đáp ứng yêu cầu kiểm tra, sát hạch về an toàn hoặc đạt bậc an toàn tương ứng, nhằm bảo đảm điều kiện an toàn khi thực hiện những công việc được giao.
Nhóm chứng chỉ năng lực chuyên môn theo pháp luật chuyên ngành (chứng chỉ hành nghề): Bao gồm các chứng chỉ được cấp nhằm xác nhận cá nhân đáp ứng yêu cầu về kiến thức, kỹ năng và năng lực thực hiện những nhiệm vụ chuyên môn trong một lĩnh vực cụ thể, chẳng hạn chứng chỉ Quản lý năng lượng và chứng chỉ Kiểm toán viên năng lượng. Các chứng chỉ này tập trung vào năng lực thực hiện chức năng nghề nghiệp chuyên biệt, thay vì chỉ xác nhận việc hoàn thành một chương trình đào tạo thông thường.
Điểm chung của hai nhóm là đều được cấp theo các cơ chế do pháp luật chuyên ngành quy định và gắn với những yêu cầu cụ thể trong hoạt động nghề nghiệp. Tuy nhiên, chúng khác nhau về mục đích xác nhận, nội dung đào tạo và đánh giá, điều kiện cấp cũng như phạm vi sử dụng. Việc được cấp chứng chỉ, chứng nhận hoặc thẻ theo pháp luật chuyên ngành không mặc nhiên đồng nghĩa với việc cá nhân đã đạt một trình độ đào tạo trong hệ thống GDNN hoặc được công nhận tương đương với văn bằng, chứng chỉ của hệ thống này.
Ví dụ minh hoạ
Đối với thẻ an toàn điện, một số trường cao đẳng nghề có trung tâm huấn luyện an toàn được cấp phép tự tổ chức huấn luyện, sát hạch và cấp thẻ an toàn điện cho sinh viên (thuộc nhóm đối tượng công việc có yêu cầu nghiêm ngặt như Nhóm 3). Việc sinh viên trang bị thẻ an toàn điện trước khi ra trường giúp đáp ứng ngay yêu cầu của các doanh nghiệp lớn mà không tốn thời gian đào tạo lại (CĐ7, CG#1). Doanh nghiệp điện lực cho biết họ tự tổ chức huấn luyện, sát hạch và cấp thẻ an toàn điện định kỳ hằng năm cho cán bộ/kỹ thuật viên của mình (DN#8). Cựu sinh viên CSV#4 cho biết được công ty cho đào tạo Thẻ an toàn điện định kỳ, kinh phí đào tạo được chi trả từ nguồn kinh phí của công ty.
Theo người trả lời là cán bộ của một trung tâm đào tạo chứng chỉ quản lý năng lượng và kiểm toán viên năng lượng, hàng năm, các địa phương sẽ công bố danh sách các "Cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm" (nhà máy, xí nghiệp, tòa nhà tiêu thụ điện năng lớn). Tất cả các đơn vị nằm trong danh sách này (không phân biệt doanh nghiệp nhà nước, tư nhân hay FDI) bắt buộc phải có nhân sự phụ trách được đào tạo và có chứng chỉ quản lý năng lượng. Nhu cầu học chứng chỉ này rất ổn định và đều đặn trên thị trường. Chứng chỉ kiểm toán viên năng lượng dành riêng cho đội ngũ kỹ sư, chuyên gia thuộc các đơn vị tư vấn đi khảo sát, đánh giá việc sử dụng năng lượng tại các nhà máy, công trình; nhu cầu đào tạo biến động theo tình hình thực tế của thị trường tư vấn (TT#4).
Tiểu nhóm 3.2. Chứng nhận của doanh nghiệp
Tiểu nhóm 3.2 bao gồm các chứng nhận do doanh nghiệp cấp nhằm ghi nhận kết quả đào tạo hoặc mức độ đáp ứng yêu cầu kỹ năng theo tiêu chuẩn của doanh nghiệp. Việc đào tạo, đánh giá và cấp chứng nhận được tổ chức theo chương trình, tiêu chuẩn và quy chế nội bộ; chứng nhận có thể là kết quả trực tiếp của quá trình này hoặc của đánh giá năng lực đã tích lũy. Minh chứng được doanh nghiệp cấp chủ yếu tồn tại dưới dạng giấy chứng nhận hoàn thành khóa đào tạo, giấy xác nhận hoàn thành thời gian đào tạo/thử việc, giấy chứng nhận vận hành thiết bị hoặc chứng nhận đạt cấp bậc kỹ năng/bậc thợ nội bộ (như chứng nhận kỹ thuật hàn nội bộ, kỹ thuật viên Level 1–3). Phạm vi nội dung được ghi nhận phụ thuộc vào mục tiêu khóa học, tiêu chuẩn áp dụng và kết quả đánh giá. Bên cạnh văn bản giấy, nhiều doanh nghiệp lưu vết kết quả, gắn mã định danh kỹ thuật viên hoặc cập nhật hồ sơ năng lực trên phần mềm quản lý nhân sự/LMS nội bộ sau đánh giá; dữ liệu đó cũng là minh chứng phục vụ công nhận và sử dụng kết quả trong phạm vi tương ứng.
Ví dụ minh hoạ
Theo dữ liệu phỏng vấn từ những người trả lời làm việc trong doanh nghiệp sản xuất và phân phối ô tô tại Việt Nam (trong đó có các dòng xe sử dụng động cơ đốt trong, xe hybrid và xe điện), doanh nghiệp áp dụng hệ thống đào tạo và chứng nhận kỹ thuật viên theo tiêu chuẩn của tập đoàn, với bốn cấp độ năng lực từ cơ bản đến chuyên gia. Để được công nhận ở từng cấp độ, kỹ thuật viên phải hoàn thành nội dung đào tạo và đạt yêu cầu đánh giá lý thuyết, thực hành. Nội dung đào tạo được xây dựng theo mức độ phức tạp tăng dần, từ bảo dưỡng, sửa chữa thông thường đến chẩn đoán các hệ thống điện, điện tử và xử lý sự cố trên các dòng xe sử dụng công nghệ mới. Hệ thống được tổ chức ở hai cấp. Ở cấp công ty tại Việt Nam, doanh nghiệp tổ chức đánh giá, sát hạch và cấp chứng nhận chính thức theo từng cấp độ kỹ thuật viên; đồng thời quản lý hồ sơ đào tạo và kết quả chứng nhận trên hệ thống dữ liệu tập trung của tập đoàn. Ở cấp đại lý, các kỹ thuật viên có kinh nghiệm và đạt cấp độ chứng nhận cao được phân công làm giảng viên nội bộ, trực tiếp đào tạo, kèm cặp và cập nhật kỹ năng cho nhân viên theo nhu cầu thực tế của xưởng dịch vụ. Kết quả các khóa đào tạo tại đại lý được ghi nhận trên hệ thống quản lý nội bộ, nhưng không cấp chứng nhận riêng tương đương với chứng nhận chính thức của công ty (DN#1, DN#3).
Trong lĩnh vực điều hoà không khí, dữ liệu phỏng vấn ghi nhận hệ thống đào tạo và chứng nhận nội bộ của một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và phân phối thiết bị điều hòa không khí tại Việt Nam, bao gồm hệ thống điều hòa dân dụng, thương mại và điều hòa trung tâm, triển khai hệ thống đào tạo và chứng nhận kỹ thuật theo tiêu chuẩn của tập đoàn (DN#5). Hoạt động đào tạo được tổ chức cho nhiều nhóm đối tượng, bao gồm nhân viên doanh nghiệp, kỹ thuật viên tại các trung tâm dịch vụ ủy quyền, đại lý phân phối, kỹ thuật viên lắp đặt trên thị trường và giảng viên của các cơ sở GDNN đối tác. Nội dung đào tạo tập trung vào kỹ thuật lắp đặt, bảo dưỡng, sửa chữa, chẩn đoán sự cố, an toàn kỹ thuật và cập nhật công nghệ sản phẩm.
Tiểu nhóm 3.3. Chứng nhận do cơ sở đào tạo trong nước tự tổ chức theo chuẩn đầu ra/tiêu chuẩn/chương trình của chính cơ sở đào tạo, cấp cho người học bên ngoài
Tiểu nhóm 3.3 bao gồm các chứng nhận ghi nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề sau khóa bồi dưỡng do các cơ sở GDNN, cơ sở tham gia hoạt động GDNN, các trung tâm đào tạo nghề tư nhân hoặc doanh nghiệp (sau đây gọi chung là cơ sở đào tạo) tự thiết kế chương trình, tự ban hành chuẩn đầu ra và chủ động tổ chức tuyển sinh trên thị trường lao động. Dù trên thực tế có thể có nhiều tên gọi khác nhau như “chứng nhận”, “chứng chỉ đào tạo thường xuyên”, “chứng nhận bồi dưỡng kỹ năng nghề” nhưng bản chất của Tiểu nhóm này là chứng nhận hoàn thành khoá bồi dưỡng. Đây là văn bản do chính người đứng đầu cơ sở đào tạo (Hiệu trưởng nhà trường, Giám đốc trung tâm đào tạo hoặc đại diện pháp lý của đơn vị tổ chức) ký ban hành, mang tính chất chứng nhận hoàn thành khoá bồi dưỡng về một chủ đề nhất định. Loại văn bản này không thuộc hệ thống văn bằng, chứng chỉ theo quy định của pháp luật, không có sự đăng ký hay bảo trợ pháp lý từ các hãng sản xuất bên ngoài.
Đặc trưng của tiểu nhóm này là hoạt động đào tạo được mở rộng cho đối tượng người học bên ngoài xã hội; hoàn toàn không bị giới hạn trong phạm vi nhân sự nội bộ (khác Tiểu nhóm 3.2), không tổ chức theo đơn đặt hàng hay hợp đồng may đo riêng biệt của một doanh nghiệp đối tác cụ thể (khác Tiểu nhóm 3.4), và không hoạt động dưới cơ chế ủy quyền hay nhượng quyền đào tạo theo bộ tiêu chuẩn chuẩn hóa của một hãng công nghệ/tổ chức quốc tế bên thứ ba (khác Tiểu nhóm 3.5). Bên cạnh đó, cũng cần phân biệt hình thức chứng nhận này với chứng chỉ đào tạo của CTĐT nghề khác (dưới 3 tháng) thuộc Tiểu nhóm 1.1, mặc dù đều do cơ sở đào tạo có thẩm quyền chủ động xây dựng chương trình và tuyển sinh trong cả hai trường hợp. Theo tiêu chí phân loại của nghiên cứu, đối với chương trình được đăng ký trên hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý GDNN trước khi tuyển sinh và đáp ứng các điều kiện theo quy định, cơ sở đào tạo được cấp chứng chỉ đào tạo nghềiKhoản 1 Điều 20 Luật GDNN số 124/2025/QH15 quy định cơ sở hoạt động GDNN phải đăng ký thông tin CTĐT vào cơ sở dữ liệu chuyên ngành trước khi tuyển sinh, tổ chức đào tạo; trường hợp cơ sở đào tạo tự tổ chức khóa học nhưng không thực hiện thủ tục đăng ký tương ứng thì kết quả hoàn thành khóa học chỉ được ghi nhận bằng giấy chứng nhận do cơ sở đào tạo cấp, thuộc Tiểu nhóm 3.3.
Ví dụ minh hoạ
Giám đốc một doanh nghiệp trong nước hoạt động trong lĩnh vực điện khu vực miền Trung (DN#6) cho biết, doanh nghiệp đã tự xây dựng và tổ chức các CTĐT kỹ thuật chuyên sâu cho người lao động của các doanh nghiệp khác trong ngành năng lượng tái tạo. Nội dung đào tạo bao gồm bảo trì, sửa chữa tua bin điện gió và kiến thức chuyên môn về năng lượng tái tạo, kết hợp giữa lý thuyết và thực hành tại các dự án điện gió đang vận hành. Các khóa đào tạo thường kéo dài từ 2–3 tuần đến 4–5 tuần, tùy theo nội dung và mức độ phức tạp của chương trình, với quy mô khoảng 10–12 học viên mỗi khóa. Hoạt động này đã tiếp nhận nhân sự từ hơn 10 doanh nghiệp khác nhau, chủ yếu thông qua quan hệ hợp tác và nhu cầu đào tạo thực tế của các đối tác, thay vì tuyển sinh đại trà trên thị trường. Sau khi hoàn thành khóa học, học viên được doanh nghiệp tổ chức đào tạo cấp giấy chứng nhận hoàn thành đào tạo học tập, trong đó ghi nhận thời gian và nội dung đã tham gia. Giấy chứng nhận do doanh nghiệp trực tiếp phát hành, ký, đóng dấu và quản lý hồ sơ. Các doanh nghiệp cử nhân sự tham gia ký hợp đồng đào tạo và chi trả kinh phí theo thỏa thuận. Đáng chú ý, việc tổ chức đào tạo cho người lao động bên ngoài đặt ra những thách thức đối với doanh nghiệp, đặc biệt là rủi ro về an toàn lao động và hư hỏng thiết bị khi thực hành trên tua bin đang vận hành, trách nhiệm quản lý học viên và nguy cơ mất nhân sự kỹ thuật có kinh nghiệm. Mặc dù hoạt động đào tạo không mang lại lợi ích tài chính đáng kể so với những rủi ro phải đảm nhận, doanh nghiệp vẫn duy trì các khóa học quy mô nhỏ nhằm chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ các đối tác và đóng góp vào phát triển nguồn nhân lực cho ngành năng lượng tái tạo.
Bên cạnh đó, đại diện doanh nghiệp DN#6 cũng cho biết, khi cần đào tạo chuyên sâu, doanh nghiệp sẽ cử công nhân tới học các khoá đào tạo kỹ thuật chuyên sâu về sửa chữa cánh tua bin điện gió tại một trung tâm đào tạo nước ngoài ở khu vực miền Bắc.
Tiểu nhóm 3.4. Chứng nhận do đơn vị đào tạo cung cấp trong khuôn khổ khoá đào tạo được tổ chức theo đặt hàng của doanh nghiệp
Tiểu nhóm 3.4 bao gồm các chứng nhận ghi nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề do các cơ sở GDNN, cơ sở tham gia GDNN hoặc cơ sở đào tạo độc lập tổ chức và cấp chứng nhận trên cơ sở hợp đồng đào tạo hoặc thỏa thuận hợp tác cụ thể theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp. Đặc trưng của tiểu nhóm này là CTĐT mang tính "may đo" riêng biệt (tailor-made) dựa trên sự phối hợp song phương giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp nhằm đáp ứng đúng chuẩn đầu ra theo yêu cầu thực tế của doanh nghiệp.
Hoạt động đào tạo theo đặt hàng của doanh nghiệp có thể dẫn đến chứng chỉ đào tạo nghề thuộc Tiểu nhóm 1.1 hoặc chứng nhận thuộc Tiểu nhóm 3.4, tùy thuộc vào việc chương trình đó có được đăng ký theo quy định trước khi tuyển sinh hay không. Theo tiêu chí phân loại của nghiên cứu, nếu chương trình được đăng ký trên hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý GDNN và đáp ứng các điều kiện tương ứng, cơ sở đào tạo được cấp chứng chỉ đào tạo nghềiKhoản 1 Điều 20 Luật GDNN số 124/2025/QH15 quy định cơ sở hoạt động GDNN phải đăng ký thông tin CTĐT vào cơ sở dữ liệu chuyên ngành trước khi tuyển sinh, tổ chức đào tạo; ngược lại, nếu khóa học được tổ chức riêng theo thỏa thuận với doanh nghiệp mà không thực hiện thủ tục đăng ký này, cơ sở đào tạo chỉ cấp giấy chứng nhận hoàn thành khóa học theo thỏa thuận và tiêu chuẩn của cơ sở đào tạo và nội bộ doanh nghiệp.
Kết quả học tập được ghi nhận dưới hình thức giấy chứng nhận hoàn thành khóa đào tạo, chứng nhận bồi dưỡng kỹ năng nghề. Trong một số trường hợp, văn bản chứng nhận có thể có sự đồng xác nhận của đại diện doanh nghiệp đặt hàng hoặc đi kèm phiếu đánh giá sát hạch tay nghề theo tiêu chuẩn vị trí việc làm do doanh nghiệp.
Ví dụ minh hoạ
Đại diện một doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong lĩnh vực tư vấn và đào tạo hiệu quả năng lượng (TT#4) chia sẻ, bên cạnh các CTĐT cấp chứng chỉ hành nghề và chứng nhận năng lực theo quy định chuyên ngành, đơn vị còn triển khai các khóa đào tạo kỹ thuật được thiết kế "đo ni đóng giày" theo đơn đặt hàng riêng của từng doanh nghiệp. Nội dung giảng dạy được xây dựng sát với nhu cầu thực tế của nhà máy, tiêu biểu như kỹ thuật vận hành hiệu quả năng lượng trong hệ thống lò hơi nhằm nâng cao tay nghề thực chiến cho đội ngũ kỹ thuật viên. Sau khi hoàn thành khóa học, đơn vị phát hành giấy chứng nhận hoàn thành đào tạo để học viên và doanh nghiệp lưu hồ sơ, phục vụ công tác quản lý và vận hành nội bộ.
Đại diện một trường cao đẳng tại khu vực phía Nam cho biết, nhà trường vận hành một trung tâm đào tạo ngắn hạn chuyên tiếp nhận các đơn đặt hàng riêng từ phía các doanh nghiệp. Khi nhận được yêu cầu, nhà trường sẽ cử chuyên gia đến khảo sát trang thiết bị và điều kiện kỹ thuật tại doanh nghiệp, sau đó hai bên cùng ngồi lại thiết kế một CTĐT theo mô-đun riêng biệt (thời lượng từ 1,5 đến 3 tháng) tập trung vào các kỹ năng chuyên sâu như thiết kế, lắp đặt tủ điện hoặc hệ thống điện năng lượng mặt trời. Kết thúc khóa học, các học viên vượt qua kỳ kiểm tra sát hạch sẽ được nhà trường trực tiếp cấp chứng chỉ/chứng nhận đào tạo ngắn hạn để đáp ứng ngay yêu cầu vị trí việc làm (CĐ#14, CĐ#15).
Đại diện một trường cao đẳng nghề khu vực miền Bắc (CĐ#8, CĐ#9) cho biết, trường phối hợp cùng một tập đoàn lớn (DN#8) để phối hợp tổ chức các khóa đào tạo bồi dưỡng kỹ thuật ngắn hạn theo đơn đặt hàng riêng cho khoảng 500 kỹ thuật viên của tập đoàn. CTĐT tập trung cập nhật kiến thức chuyên sâu và kỹ năng thực hành về hệ thống điện mặt trời áp mái, điện lạnh gió, lắp đặt trạm/truy sạc ô tô điện và dịch vụ kỹ thuật bổ trợ. Sau khi hoàn thành kỳ đánh giá sát hạch, học viên được nhà trường cấp chứng nhận hoàn thành khóa đào tạo.
Tiểu nhóm 3.5. Chứng nhận do đơn vị đào tạo được uỷ quyền tổ chức theo chuẩn đầu ra/tiêu chuẩn/chương trình của doanh nghiệp/tổ chức quốc tế
Tiểu nhóm 3.5 bao gồm các chứng nhận ghi nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề do cơ sở đào tạo chuyên biệt tổ chức sau khi được các tập đoàn công nghệ đa quốc gia, các hãng sản xuất xuất lớn hoặc các tổ chức nghề nghiệp quốc tế chính thức chuyển giao chương trình, thẩm định điều kiện cơ sở vật chất và ủy quyền đào tạo, đánh giá sát hạch. Đặc trưng của tiểu nhóm này là toàn bộ mục tiêu đào tạo, chuẩn đầu ra, học liệu và quy trình đánh giá không do cơ sở đào tạo tự ban hành (khác Tiểu nhóm 3.3), không được may đo riêng theo đơn đặt hàng cục bộ của một doanh nghiệp (khác Tiểu nhóm 3.4), và không do doanh nghiệp tự đào tạo khép kín trong nội bộ (khác Tiểu nhóm 3.2), mà phải tuân thủ nghiệm ngặt theo các tiêu chuẩn toàn cầu hoặc tiêu chuẩn khu vực của doanh nghiệp/tổ chức quốc tế.
Văn bản được cấp chủ yếu tồn tại dưới dạng giấy chứng nhận hoàn thành khóa đào tạo mang thương hiệu của hãng hoặc tổ chức quốc tế (Certificate of Completion), chứng nhận năng lực kỹ thuật viên theo phân cấp bậc thợ/chuẩn hãng, hoặc chứng chỉ an toàn/năng lực kỹ thuật quốc tế được công nhận rộng rãi. Về mặt thẩm quyền, văn bản này có thể được đơn vị ủy quyền cấp độc lập với mã số quản lý định danh học viên trên hệ thống số toàn cầu, hoặc do cơ sở đào tạo và doanh nghiệp/tổ chức ủy quyền đồng ký kết, đóng hai con dấu.
Ví dụ minh hoạ
Đại diện đơn vị phân phối và đối tác của nhà sản xuất thiết bị năng lượng mặt trời quốc tế (DN#4) cho biết, hãng sản xuất thường xuyên phối hợp tổ chức các khóa đào tạo kỹ thuật chuyên sâu về lắp đặt, cài đặt thông số và vận hành an toàn thiết bị inverter/pin lưu trữ. Chương trình tập trung vào việc chuyển giao quy trình kỹ thuật chuẩn nhằm hạn chế rủi ro sự cố và kéo dài tuổi thọ hệ thống theo hướng dẫn, tiêu chuẩn của hãng sản xuất quốc tế. Học viên là kỹ thuật viên của các đối tác, đại lý thi công hoặc sinh viên các trường nghề sau khi trải qua khóa đào tạo thực hành và hoàn thành bài kiểm tra sát hạch sẽ được cấp giấy chứng nhận kỹ thuật viên/đại lý ủy quyền chính thức của hãng.
Đối với các lĩnh vực năng lượng, năng lượng tái tạo và công nghệ xanh, hệ thống chứng chỉ, chứng nhận quốc tế có vai trò đáng chú ý trong việc xác lập các tiêu chuẩn năng lực được công nhận và sử dụng trên thị trường lao động quốc tế. Điển hình là hệ thống tiêu chuẩn đào tạo của Global Wind Organisation (GWO), bao gồm các chương trình về an toàn, kỹ thuật cơ bản và các năng lực chuyên biệt trong ngành điện gió, như Basic Safety Training (BST) – Đào tạo an toàn cơ bản; Basic Technical Training (BTT) – Đào tạo kỹ thuật cơ bản; Advanced Rescue Training (ART) – Đào tạo cứu hộ nâng cao; Enhanced First Aid (EFA) – Đào tạo sơ cứu nâng cao; Control of Hazardous Energies (CoHE) – Kiểm soát các nguồn năng lượng nguy hiểm; Blade Repair (BR) – Đào tạo sửa chữa cánh tuabin gió; Slinger Signaller (SLS) – Đào tạo móc buộc tải và hướng dẫn tín hiệu nâng hạ; và High Voltage (HV) – Đào tạo về điện cao áp. Các chương trình này hướng tới những nhóm năng lực khác nhau, từ an toàn lao động, ứng phó khẩn cấp đến thực hiện các nhiệm vụ kỹ thuật chuyên biệt trong ngành điện gió. Theo DN#9, trung tâm của doanh nghiệp triển khai đào tạo theo tiêu chuẩn của GWO, gồm các mô-đun an toàn như làm việc trên cao, an toàn điện, cứu hộ, sơ cứu và kỹ thuật vận hành, bảo trì tua bin.
Đối với mảng công nghiệp ô tô, đại diện doanh nghiệp (DN#3) cho biết, trung tâm đào tạo của tập đoàn sản xuất và phân phối ô tô lớn trong nước vận hành mô hình đào tạo ủy quyền cho nhiều thương hiệu xe quốc tế. CTĐT được xây dựng hoàn toàn dựa trên khung năng lực chuẩn hóa và tài liệu chuyển giao trực tiếp từ các hãng xe nước ngoài, phân cấp theo từng nấc thang tay nghề (từ kỹ thuật viên sơ cấp đến chuyên gia chẩn đoán). Giảng viên của trung tâm sau khi trải qua các khóa tập huấn và được hãng cấp chứng nhận giảng viên ủy quyền sẽ trực tiếp giảng dạy và sát hạch học viên. Kết thúc khóa học, kỹ thuật viên được cấp chứng nhận ngạch bậc thợ theo tiêu chuẩn của hãng ô tô quốc tế tương ứng, có giá trị sử dụng và được công nhận trên toàn bộ hệ thống đại lý dịch vụ ủy quyền của thương hiệu đó.
Tiểu nhóm 3.6. Xác nhận thực tập/học tập tại doanh nghiệp
Tiểu nhóm 3.6 bao gồm các văn bản xác nhận kết quả học tập thực tế, rèn luyện kỹ năng nghề và trải nghiệm môi trường làm việc của người học tại doanh nghiệp trong khuôn khổ một CTĐT GDNN trình độ cao đẳng, trung cấp. Các văn bản này là minh chứng về việc hoàn thành học phần hoặc mô-đun thực hành nghề nghiệp, thực tập trải nghiệm hoặc thực tập tốt nghiệp diễn ra tại cơ sở sản xuất – kinh doanh; văn bản xác nhận này đóng vai trò bổ trợ thông tin năng lực, không cấu thành một trình độ đào tạo độc lập và không thay thế cho văn bằng chính quy của người học.
Minh chứng được cấp chủ yếu tồn tại dưới dạng giấy xác nhận thời gian/kết quả thực tập, nhận xét đánh giá trong báo cáo/nhật ký thực tập, hoặc phiếu chấm điểm thực hành có chữ ký của cán bộ hướng dẫn và con dấu pháp nhân của công ty. Ở một số tập đoàn và hãng sản xuất lớn, người học có thể được cấp thêm giấy chứng nhận hoàn thành đợt thực tập, hoặc được số hóa lưu vết hồ sơ ứng viên và cấp mã định danh kỹ thuật viên (ID) trên hệ thống quản trị nội bộ để ưu tiên tuyển dụng về sau.
Tiểu nhóm 3.7. Xác nhận hoàn thành CTĐT theo tiêu chuẩn quốc tế
Tiểu nhóm 3.7 bao gồm các văn bản xác nhận kết quả học tập do các cơ sở GDNN phối hợp với tổ chức phát triển quốc tế, hiệp hội/phòng thương mại nước ngoài hoặc tập đoàn đa quốc gia cấp cho người học sau khi hoàn thành một CTĐT chính quy (chủ yếu ở trình độ cao đẳng) được thiết kế, chuyển giao hoặc kiểm định theo các bộ tiêu chuẩn khu vực hoặc quốc tế. Đặc trưng của tiểu nhóm này là hoạt động đào tạo gắn liền với toàn bộ tiến trình của CTĐT chính quy nhưng được lồng ghép các chuẩn đầu ra nâng cao, chương trình khung quốc tế và cơ chế đánh giá theo tiêu chuẩn nước ngoài/quốc tế. Văn bản này có chức năng bổ trợ nhằm xác nhận trình độ người học đạt các tiêu chuẩn kỹ thuật chuyên biệt hoặc tiêu chuẩn quốc tế, không thay thế văn bằng cao đẳng chính quy và không cấu thành một trình độ đào tạo độc lập trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam.
Văn bản xác nhận thuộc Tiểu nhóm 3.7 được cấp bổ sung cho bằng tốt nghiệp cao đẳng của Việt Nam nhằm ghi nhận việc người học hoàn thành CTĐT có áp dụng tiêu chuẩn quốc tế hoặc cơ chế hợp tác tương ứng. Văn bản có thể do cơ sở GDNN và đối tác liên quan đồng ký hoặc được cấp theo thỏa thuận của chương trình; nội dung xác nhận cần được đọc đúng theo phạm vi kết quả được ghi nhận. Nếu một tổ chức nghề nghiệp hoặc doanh nghiệp cấp thêm chứng chỉ, chứng nhận dựa trên tiêu chuẩn và quy trình đánh giá năng lực riêng, văn bản đó cần được phân loại theo cơ chế cấp thực tế, không tự động xếp vào nhóm xác nhận bổ trợ này. Kết quả kiểm định chất lượng của CTĐT không phải là chứng nhận năng lực cấp cho từng người học. Giá trị sử dụng của văn bản bổ sung phụ thuộc vào nội dung, chủ thể cấp, chất lượng đánh giá và mức độ chấp nhận của bên tiếp nhận; không thể mặc nhiên suy ra giá trị tương đương văn bằng nước ngoài hoặc khả năng được công nhận rộng rãi trên thị trường lao động.
Đặc điểm của các nhóm văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận
Mục đích cấp văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận
Các VB-CC-CN được cấp trong ba hệ thống có những mục đích khác nhau, tùy thuộc vào nội dung được xác nhận và yêu cầu của từng chương trình, tiêu chuẩn hoặc hoạt động nghề nghiệp. Có thể phân thành năm nhóm mục đích chủ yếu sau:
Thứ nhất, xác nhận việc hoàn thành CTĐT và đạt trình độ đào tạo tương ứng. Đây là mục đích chủ yếu của các văn bằng, chứng chỉ thuộc hệ thống GDNN (Nhóm 1), bao gồm CTĐT toàn phần ở các trình độ khác nhau và chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài. VB–CC–CN được cấp nhằm xác nhận người học đã đáp ứng yêu cầu hoàn thành chương trình hoặc điều kiện tốt nghiệp theo quy định.
Thứ hai, xác nhận kết quả học tập đối với một phần chương trình hoặc khóa đào tạo chuyên biệt. Nội dung được xác nhận có thể là việc hoàn thành một mô-đun, chuyên đề, khóa đào tạo ngắn hạn hoặc nội dung bồi dưỡng, cập nhật và nâng cao kỹ năng chuyên môn.
Thứ ba, xác nhận trình độ kỹ năng hoặc năng lực nghề nghiệp thông qua đánh giá. Đây là mục đích đặc trưng của chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia (Nhóm 2), đồng thời xuất hiện ở một số hệ thống chứng nhận của doanh nghiệp, hãng công nghệ và tổ chức quốc tế (Nhóm 3). Việc cấp chứng chỉ, chứng nhận nhằm xác nhận cá nhân đáp ứng tiêu chuẩn năng lực nghề nghiệp, bậc kỹ năng hoặc yêu cầu thực hiện công việc xác định.
Thứ tư, xác nhận việc đáp ứng các yêu cầu hoặc điều kiện thực hiện công việc chuyên biệt. Mục đích này chủ yếu gắn với các chứng chỉ, thẻ theo pháp luật chuyên ngành và một số chứng nhận chuyên môn thuộc Nhóm 3, chẳng hạn thẻ an toàn điện, thẻ an toàn lao động, chứng chỉ quản lý năng lượng hoặc chứng chỉ kiểm toán viên năng lượng. Các văn bản này xác nhận cá nhân đã đáp ứng yêu cầu về huấn luyện, đánh giá, năng lực chuyên môn hoặc điều kiện nghề nghiệp tương ứng.
Thứ năm, xác nhận quá trình tham gia đào tạo, thực hành hoặc thực tập tại nơi làm việc. Mục đích này chủ yếu xuất hiện ở các giấy xác nhận thực tập và một số chứng nhận do doanh nghiệp, cơ sở đào tạo hoặc chương trình hợp tác cấp (Nhóm 3). Nội dung xác nhận có thể bao gồm thời gian tham gia, hoạt động thực hiện, nội dung đào tạo hoặc kết quả thực tập, tùy theo hình thức và phạm vi xác nhận của từng tổ chức.
Các nhóm mục đích trên không hoàn toàn tách biệt. Một VB–CC–CN có thể đồng thời xác nhận việc hoàn thành đào tạo và kết quả đánh giá năng lực.
Bảng 2.Ma trận mục đích cấp VB–CC–CN
Nhóm/tiểu nhóm VB–CC–CN
M1
M2
M3
M4
M5
Nhóm 1. VB–CC–CN gắn với hệ thống GDNN
1.1. VB–CC–CN trong hệ thống giáo dục quốc dâniKhoản 1 Điều 20 Luật GDNN số 124/2025/QH15 quy định cơ sở hoạt động GDNN phải đăng ký thông tin CTĐT vào cơ sở dữ liệu chuyên ngành trước khi tuyển sinh, tổ chức đào tạo
X
X
—
—
—
1.2. Văn bằng GDNN nước ngoài trong chương trình liên kết đào tạo
X
—
—
—
—
1.3. Chứng nhận mô-đun/nội dung thuộc chương trình GDNN
—
X
—
—
—
Nhóm 2. Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
—
—
X
X
—
Nhóm 3. Chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận gắn với thị trường lao động
3.1. Chứng chỉ, thẻ theo pháp luật chuyên ngành
—
—
X
X
—
3.2. Chứng nhận do doanh nghiệp cấp
—
X
X
X
X
3.3. Chứng nhận do cơ sở đào tạo trong nước tự tổ chức, cấp
—
X
X
—
—
3.4. Chứng nhận đào tạo theo đặt hàng của doanh nghiệp
—
X
X
—
X
3.5. Chứng nhận theo tiêu chuẩn doanh nghiệp/tổ chức quốc tế
—
X
X
X
—
3.6. Xác nhận thực tập/học tập tại doanh nghiệp
—
—
—
—
X
3.7. Xác nhận hoàn thành CTĐT theo tiêu chuẩn quốc tế
—
X
—
—
—
Chú thích: M1: Xác nhận hoàn thành chương trình và đạt trình độ đào tạo; M2: Xác nhận kết quả học tập một phần chương trình, mô-đun hoặc khóa đào tạo chuyên biệt; M3: Xác nhận trình độ kỹ năng hoặc năng lực nghề nghiệp thông qua đánh giá; M4: Xác nhận đáp ứng yêu cầu hoặc điều kiện thực hiện công việc chuyên biệt; M5: Xác nhận quá trình tham gia đào tạo, thực hành hoặc thực tập tại nơi làm việc. Dấu X thể hiện mục đích có thể xuất hiện trong phạm vi nhóm/tiểu nhóm, không có nghĩa mọi loại chứng chỉ, chứng nhận trong nhóm đều đồng thời thực hiện tất cả mục đích đó.
Đối tượng được cấp văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận
Các VB-CC-CN trong ba hệ thống hướng tới nhiều nhóm đối tượng khác nhau, bao gồm người đang tham gia CTĐT, người lao động đang làm việc và những cá nhân có nhu cầu được xác nhận kết quả học tập, kỹ năng nghề đã tích lũy. Có thể phân thành bốn nhóm đối tượng chủ yếu sau:
Thứ nhất, người học tham gia các chương trình GDNN. Nhóm này bao gồm người học CTĐT ban đầu, đào tạo liên thông, chương trình liên kết với nước ngoài. Đây là đối tượng chủ yếu của VB-CC-CN thuộc Nhóm 1. Người học được cấp văn bằng, chứng chỉ hoặc chứng nhận tương ứng khi đáp ứng các điều kiện của CTĐT.
Thứ hai, người lao động đang làm việc có nhu cầu đào tạo lại, cập nhật hoặc nâng cao kỹ năng. Nhóm này bao gồm người lao động cần bổ sung kiến thức, kỹ năng để đáp ứng yêu cầu công việc, công nghệ, thiết bị hoặc tiêu chuẩn nghề nghiệp mới. Các VB-CC-CN dành cho nhóm đối tượng này chủ yếu thuộc Nhóm 3, như chứng nhận đào tạo nội bộ doanh nghiệp, chứng nhận của hãng công nghệ, tổ chức quốc tế và các chứng chỉ, thẻ chuyên ngành. Người lao động nhóm này cũng có thể tham gia các CTĐT ngắn hạn (CTĐT nghề khác) thuộc Nhóm 1.
Thứ ba, người có kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm nghề nghiệp cần được đánh giá, xác nhận năng lực. Nhóm này bao gồm những cá nhân đã tích lũy năng lực thông qua đào tạo, học tập tại nơi làm việc hoặc kinh nghiệm thực tế, có nhu cầu được đánh giá theo tiêu chuẩn nghề nghiệp xác định. Đây là đối tượng đặc trưng của hệ thống chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia (Nhóm 2) và một số hệ thống chứng nhận năng lực thuộc Nhóm 3. Việc tham gia đánh giá không nhất thiết gắn với yêu cầu hoàn thành một CTĐT mới.
Thứ tư, người tham gia thực hành, thực tập hoặc các chương trình hợp tác đào tạo tại doanh nghiệp. Nhóm này chủ yếu bao gồm học sinh, sinh viên thực tập, người học tham gia đào tạo thực hành tại nơi làm việc và những cá nhân tham gia các chương trình phát triển kỹ năng có sự phối hợp giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp. Các giấy xác nhận thực tập, chứng nhận tham gia hoặc hoàn thành hoạt động đào tạo, thực hành chủ yếu thuộc Nhóm 3.
Nhìn chung, đối tượng được cấp VB–CC–CN trải rộng từ người bắt đầu học nghề đến người lao động có kinh nghiệm, tương ứng với sự đa dạng về mục đích, nội dung và phạm vi xác nhận của các hệ thống. Các nhóm đối tượng trên không hoàn toàn tách biệt. Một cá nhân có thể đồng thời là người học trong hệ thống GDNN và người lao động tại doanh nghiệp, hoặc tham gia nhiều hoạt động đào tạo, đánh giá và chứng nhận ở những thời điểm khác nhau.
Bảng 3.Ma trận đối tượng được cấp VB–CC–CN
Nhóm/tiểu nhóm VB–CC–CN
(1) Người học GDNN
(2) Người lao động đang làm việc
(3) Người có kỹ năng, kinh nghiệm cần đánh giá
(4) Người tham gia thực tập, thực hành
Nhóm 1. VB–CC–CN gắn với hệ thống GDNN
1.1. VB–CC–CN trong hệ thống giáo dục quốc dân
X
X
—
—
1.2. Văn bằng GDNN nước ngoài trong chương trình liên kết đào tạo
X
—
—
—
1.3. Chứng nhận mô-đun/nội dung thuộc chương trình GDNN
X
—
—
—
Nhóm 2. Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
X
X
X
—
Nhóm 3. Chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận gắn với thị trường lao động
3.1. Chứng chỉ, thẻ theo pháp luật chuyên ngành
X
X
X
—
3.2. Chứng nhận của doanh nghiệp
—
X
X
—
3.3. Chứng nhận do cơ sở đào tạo trong nước tự tổ chức, cấp cho người học bên ngoài
X
X
—
—
3.4. Chứng nhận đào tạo theo đặt hàng của doanh nghiệp
—
X
—
—
3.5. Chứng nhận theo tiêu chuẩn doanh nghiệp/tổ chức quốc tế do đơn vị được ủy quyền tổ chức
X
X
X
—
3.6. Xác nhận thực tập/học tập tại doanh nghiệp
X
—
—
X
3.7. Xác nhận hoàn thành CTĐT theo tiêu chuẩn quốc tế
X
—
—
—
(Nguồn: Nhóm nghiên cứu tổng hợp từ dữ liệu khảo sát) Ma trận phân loại mang tính mô tả, không thể hiện số lượng hoặc tỷ trọng người tham gia từng loại hình. Các dấu X ở những nhóm có nhiều loại hình đào tạo, đánh giá chỉ thể hiện phạm vi đối tượng có thể tham gia, không có nghĩa mọi chương trình thuộc tiểu nhóm đều hướng tới tất cả các đối tượng được đánh dấu.
Phạm vi kiến thức, kỹ năng và năng lực được xác nhận
Các VB-CC-CN trong ba hệ thống có phạm vi xác nhận khác nhau, từ toàn bộ CTĐT hoặc năng lực thực hiện một nghề đến những kỹ năng, nội dung chuyên môn hay yêu cầu công việc cụ thể. Căn cứ vào phạm vi kiến thức, kỹ năng và năng lực được ghi nhận, có thể phân thành bốn nhóm chủ yếu.
Thứ nhất, xác nhận kết quả của toàn bộ CTĐT. Đây là phạm vi đặc trưng của các văn bằng thuộc Nhóm 1, bao gồm văn bằng trong hệ thống giáo dục quốc dân và văn bằng do cơ sở GDNN nước ngoài cấp trong chương trình liên kết đào tạo. Nội dung xác nhận bao quát các yêu cầu của CTĐT tương ứng, gồm kiến thức, kỹ năng, mức độ tự chủ và trách nhiệm theo chuẩn đầu ra của trình độ đào tạo.
Thứ hai, xác nhận năng lực thực hiện một nghề theo bậc trình độ kỹ năng nghề. Đây là phạm vi đặc trưng của chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia (Nhóm 2). Chứng chỉ xác nhận người lao động đáp ứng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia đối với một nghề và bậc trình độ kỹ năng nghề cụ thể, trên cơ sở kết quả đánh giá kiến thức chuyên môn, kỹ thuật và kỹ năng thực hành nghề.
Thứ ba, xác nhận một phần năng lực hoặc nội dung chuyên môn cụ thể. Phạm vi này xuất hiện ở chứng nhận mô-đun thuộc Nhóm 1 và nhiều chứng chỉ, chứng nhận thuộc Nhóm 3. Nội dung được xác nhận có thể là một mô-đun học tập, một nhóm kỹ năng, công đoạn nghề nghiệp, công nghệ, thiết bị hoặc nhiệm vụ kỹ thuật chuyên biệt, chẳng hạn lắp đặt thiết bị điện, bảo trì hệ thống năng lượng tái tạo hoặc vận hành thiết bị theo tiêu chuẩn của hãng.
Thứ tư, xác nhận việc đáp ứng một yêu cầu, điều kiện nghề nghiệp hoặc hoạt động thực tế xác định. Phạm vi này chủ yếu gắn với các chứng chỉ, thẻ chuyên ngành và giấy xác nhận thực tập thuộc Nhóm 3. Nội dung xác nhận có thể là việc đáp ứng yêu cầu an toàn, điều kiện thực hiện nhiệm vụ chuyên môn hoặc thời gian, nội dung và kết quả tham gia thực tập, thực hành tại doanh nghiệp.
Các phạm vi trên có thể giao thoa, đặc biệt đối với những chứng nhận chuyên môn vừa xác nhận năng lực thực hiện một nhiệm vụ cụ thể, vừa xác nhận việc đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp tương ứng. Sự khác biệt về phạm vi xác nhận chủ yếu phản ánh nội dung, tiêu chuẩn và mục đích cấp của từng loại VB-CC-CN, không đồng nghĩa với sự khác biệt về giá trị hoặc chất lượng của chúng.
Bảng 4.Ma trận phạm vi kiến thức, kỹ năng và năng lực được xác nhận theo các nhóm VB–CC–CN
Nhóm/tiểu nhóm VB–CC–CN
P1
P2
P3
P4
Nhóm 1. VB–CC–CN gắn với hệ thống GDNN
1.1. VB–CC–CN trong hệ thống giáo dục quốc dân
X
—
X
—
1.2. Văn bằng GDNN nước ngoài trong chương trình liên kết đào tạo
X
—
—
—
1.3. Chứng nhận mô-đun/nội dung thuộc chương trình GDNN
—
—
X
—
Nhóm 2. Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
—
X
—
—
Nhóm 3. Chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận gắn với thị trường lao động
3.1. Chứng chỉ, thẻ theo pháp luật chuyên ngành
—
—
X
X
3.2. Chứng nhận do doanh nghiệp cấp
—
—
X
X
3.3. Chứng nhận do cơ sở đào tạo trong nước tự tổ chức, cấp
—
—
X
—
3.4. Chứng nhận đào tạo theo đặt hàng của doanh nghiệp
—
—
X
—
3.5. Chứng nhận theo tiêu chuẩn doanh nghiệp/tổ chức quốc tế
—
—
X
X
3.6. Xác nhận thực tập/học tập tại doanh nghiệp
—
—
—
X
3.7. Xác nhận hoàn thành CTĐT theo tiêu chuẩn quốc tế
—
—
X
—
Chú thích: P1 - Toàn bộ CTĐT theo trình độ; P2 - Một nghề theo bậc trình độ kỹ năng nghề; P3 - Một phần năng lực hoặc nội dung chuyên môn cụ thể; P4 - Một yêu cầu, điều kiện nghề nghiệp hoặc hoạt động thực tế xác định. Dấu X thể hiện phạm vi xác nhận có thể xuất hiện trong tiểu nhóm; dấu — thể hiện phạm vi không phải đặc trưng của tiểu nhóm. Các dấu X không nhất thiết đồng thời áp dụng cho mọi loại VB-CC-CN trong cùng tiểu nhóm.
Chủ thể xây dựng tiêu chuẩn, tổ chức đào tạo, đánh giá và cấp văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận
Các hệ thống VB-CC-CN có sự khác biệt về cách thức phân định các chức năng xây dựng tiêu chuẩn, tổ chức đào tạo, đánh giá và cấp. Những chức năng này có thể được thực hiện bởi cùng một tổ chức hoặc phân chia giữa nhiều chủ thể, bao gồm cơ quan QLNN, cơ sở GDNN, doanh nghiệp, tổ chức đánh giá và các tổ chức nghề nghiệp trong nước, quốc tế. Căn cứ vào cách thức tổ chức thực hiện, có thể nhận diện 4 hình thức chủ yếu.
Thứ nhất, một tổ chức trực tiếp thực hiện các chức năng đào tạo, đánh giá và cấp VB-CC-CN. Đây là hình thức phổ biến trong các chương trình GDNN thuộc Tiểu nhóm 1.1 và 1.3, cũng như hoạt động đào tạo, chứng nhận nội bộ của doanh nghiệp (Tiểu nhóm 3.2) và các khóa đào tạo do cơ sở đào tạo tự tổ chức (Tiểu nhóm 3.3). Trong cấu hình này, cơ sở đào tạo hoặc doanh nghiệp trực tiếp tổ chức hoạt động đào tạo, đánh giá kết quả và cấp VB-CC-CN theo quy định hoặc tiêu chuẩn áp dụng. Tuy nhiên, việc tập trung các chức năng tại một tổ chức không đồng nghĩa với việc tổ chức đó có toàn quyền tự xây dựng tiêu chuẩn và điều kiện cấp.
Thứ hai, tổ chức đánh giá và chủ thể có thẩm quyền cấp VB–CC–CN là những tổ chức khác nhau. Hình thức này đặc trưng cho hệ thống chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia (Nhóm 2), trong đó hoạt động đánh giá được thực hiện bởi tổ chức đánh giá đủ điều kiện, còn thẩm quyền cấp chứng chỉ thuộc cơ quan được pháp luật quy định. Hình thức phân tách tương tự cũng xuất hiện ở một số chứng chỉ chuyên ngành thuộc Tiểu nhóm 3.1, chẳng hạn chứng chỉ quản lý năng lượng, khi hoạt động đào tạo, đánh giá và quyết định cấp được phân định giữa các chủ thể.
Thứ ba, hoạt động đào tạo, đánh giá và cấp VB–CC–CN được tổ chức trên cơ sở hợp tác giữa nhiều tổ chức. Hình thức này xuất hiện trong các chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài (Tiểu nhóm 1.2), CTĐT theo đặt hàng của doanh nghiệp (Tiểu nhóm 3.4) và CTĐT theo tiêu chuẩn quốc tế có sự phối hợp giữa cơ sở GDNN với các đối tác liên quan (Tiểu nhóm 3.7). Các bên có thể cùng tham gia xây dựng chương trình, tổ chức đào tạo hoặc đánh giá, trong khi chủ thể cấp VB–CC–CN được xác định theo quy định hoặc thỏa thuận của chương trình. Việc phối hợp tổ chức đào tạo không nhất thiết đồng nghĩa với đồng cấp VB–CC–CN.
Thứ tư, tổ chức đào tạo, đánh giá hoạt động theo sự ủy quyền của chủ sở hữu tiêu chuẩn hoặc chương trình chứng nhận. Đây là hình thức đặc trưng của Tiểu nhóm 3.5, trong đó doanh nghiệp, hãng công nghệ hoặc tổ chức quốc tế xây dựng tiêu chuẩn, chương trình và yêu cầu đánh giá; cơ sở đào tạo được ủy quyền tổ chức thực hiện trong phạm vi được chấp thuận. VB–CC–CN có thể do đơn vị được ủy quyền cấp hoặc do tổ chức sở hữu hệ thống chứng nhận phát hành, tùy theo cơ chế cụ thể.
Bốn hình thức trên phản ánh sự đa dạng trong tổ chức hoạt động đào tạo, đánh giá và cấp VB–CC–CN. Trong cùng một nhóm hoặc tiểu nhóm có thể tồn tại nhiều hình thức khác nhau, tùy thuộc vào loại văn bản, quy định áp dụng và cách thức tổ chức chương trình.
Bảng 5.Ma trận cấu hình tổ chức đào tạo, đánh giá và cấp theo các nhóm VB–CC–CN
Nhóm/tiểu nhóm VB–CC–CN
C1
C2
C3
C4
Nhóm 1. VB–CC–CN gắn với hệ thống GDNN
1.1. VB–CC–CN trong hệ thống giáo dục quốc dân
X
—
X
—
1.2. Văn bằng GDNN nước ngoài trong chương trình liên kết đào tạo
—
—
X
—
1.3. Chứng nhận mô-đun/nội dung thuộc chương trình GDNN
X
—
—
—
Nhóm 2. Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
—
X
—
—
Nhóm 3. Chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận gắn với thị trường lao động
3.1. Chứng chỉ, thẻ theo pháp luật chuyên ngành
X
X
—
—
3.2. Chứng nhận do doanh nghiệp cấp
X
—
—
—
3.3. Chứng nhận do cơ sở đào tạo trong nước tự tổ chức, cấp
X
—
—
—
3.4. Chứng nhận đào tạo theo đặt hàng của doanh nghiệp
—
—
X
—
3.5. Chứng nhận theo tiêu chuẩn doanh nghiệp/tổ chức quốc tế do đơn vị được ủy quyền tổ chức
—
—
—
X
3.6. Xác nhận thực tập/học tập tại doanh nghiệp
—
—
X
—
3.7. Xác nhận hoàn thành CTĐT theo tiêu chuẩn quốc tế
—
—
X
—
Chú thích: C1: Một tổ chức trực tiếp đào tạo, đánh giá và cấp VB-CC-CN; C2: Tổ chức đánh giá và chủ thể có thẩm quyền cấp VB-CC-CN khác nhau; C3: Đào tạo, đánh giá hoặc cấp VB-CC-CN trên cơ sở hợp tác giữa nhiều tổ chức; C4: Tổ chức đào tạo, đánh giá hoạt động theo ủy quyền của chủ sở hữu tiêu chuẩn hoặc chương trình chứng nhận. Dấu X thể hiện hình thức tổ chức có thể xuất hiện trong nhóm/tiểu nhóm tương ứng; dấu — thể hiện hình thức không phải đặc trưng được xác định trong phạm vi nghiên cứu. Một tiểu nhóm có thể có nhiều cấu hình, tùy thuộc vào loại VB-CC-CN và cơ chế tổ chức cụ thể.
Cơ sở quy định tiêu chuẩn và điều kiện cấp văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận
Các VB-CC-CN trong ba hệ thống được cấp dựa trên những nguồn tiêu chuẩn và điều kiện khác nhau, tùy thuộc vào loại văn bản, nội dung được xác nhận và hệ thống quản lý tương ứng. Có thể phân thành bốn nhóm cơ sở quy định chủ yếu.
Thứ nhất, quy định pháp luật về giáo dục và GDNN. Đây là cơ sở chủ yếu của VB-CC-CN thuộc Nhóm 1. Các yêu cầu về chương trình, chuẩn đầu ra, kết quả học tập và điều kiện tốt nghiệp hoặc hoàn thành CTĐT được xác định theo quy định về giáo dục và GDNN. Đối với chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài (Tiểu nhóm 1.2), ngoài việc tuân thủ các quy định trong nước, việc cấp văn bằng còn căn cứ vào quy định, tiêu chuẩn đào tạo và điều kiện cấp của cơ sở hoặc hệ thống giáo dục nước ngoài tương ứng.
Thứ hai, tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia. Đây là cơ sở đặc trưng của chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia (Nhóm 2). Việc cấp chứng chỉ căn cứ vào kết quả đánh giá mức độ đáp ứng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia theo từng nghề và bậc trình độ kỹ năng nghề. Các yêu cầu về điều kiện tham gia đánh giá, tiêu chuẩn đánh giá và cấp chứng chỉ được xác định theo quy định pháp luật liên quan.
Thứ ba, quy định pháp luật chuyên ngành về an toàn, năng lực chuyên môn và điều kiện hành nghề. Đây là cơ sở chủ yếu của các chứng chỉ, thẻ thuộc Tiểu nhóm 3.1. Tiêu chuẩn và điều kiện cấp được quy định theo yêu cầu của từng lĩnh vực hoặc hoạt động nghề nghiệp, như an toàn điện, an toàn lao động, quản lý năng lượng và kiểm toán năng lượng. Nội dung yêu cầu có thể bao gồm điều kiện chuyên môn, huấn luyện, đánh giá, sát hạch hoặc các yêu cầu khác theo quy định chuyên ngành.
Thứ tư, tiêu chuẩn do doanh nghiệp, cơ sở đào tạo, hãng công nghệ hoặc tổ chức quốc tế xây dựng. Đây là cơ sở chủ yếu của các chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận thuộc các Tiểu nhóm 3.2–3.7. Tiêu chuẩn và điều kiện cấp có thể dựa trên yêu cầu công việc và năng lực nội bộ doanh nghiệp, nội dung CTĐT do đơn vị cung cấp dịch vụ xây dựng, tiêu chuẩn kỹ thuật của hãng, chương trình chứng nhận quốc tế hoặc yêu cầu được thống nhất giữa các bên trong hoạt động hợp tác đào tạo. Đối với giấy xác nhận thực tập, nội dung và điều kiện xác nhận thường căn cứ vào chương trình thực tập, yêu cầu của cơ sở đào tạo và quy định của doanh nghiệp tiếp nhận.
Như vậy, trong cùng một ngành, nghề hoặc lĩnh vực kỹ thuật có thể tồn tại nhiều loại VB-CC-CN được cấp theo những nguồn tiêu chuẩn và điều kiện khác nhau. Một số loại VB-CC-CN có thể đồng thời chịu sự điều chỉnh của nhiều hệ thống quy định, chẳng hạn chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài hoặc CTĐT theo tiêu chuẩn quốc tế triển khai tại Việt Nam.
Bảng 6.Ma trận cơ sở quy định tiêu chuẩn và điều kiện cấp theo các nhóm VB-CC-CN
Nhóm/tiểu nhóm VB-CC-CN
T1
T2
T3
T4
Nhóm 1. VB-CC-CN gắn với hệ thống GDNN
1.1. VB-CC-CN trong hệ thống giáo dục quốc dân
X
—
—
—
1.2. Văn bằng GDNN nước ngoài trong chương trình liên kết đào tạo
X
—
—
X
1.3. Chứng nhận mô-đun/nội dung thuộc chương trình GDNN
X
—
—
—
Nhóm 2. Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
—
X
—
—
Nhóm 3. Chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận gắn với thị trường lao động
3.1. Chứng chỉ, thẻ theo pháp luật chuyên ngành
—
—
X
—
3.2. Chứng nhận do doanh nghiệp cấp
—
—
—
X
3.3. Chứng nhận do cơ sở đào tạo trong nước tự tổ chức, cấp
—
—
—
X
3.4. Chứng nhận đào tạo theo đặt hàng của doanh nghiệp
—
—
—
X
3.5. Chứng nhận theo tiêu chuẩn doanh nghiệp/tổ chức quốc tế
—
—
—
X
3.6. Xác nhận thực tập/học tập tại doanh nghiệp
—
—
—
X
3.7. Xác nhận hoàn thành CTĐT theo tiêu chuẩn quốc tế
—
—
—
X
Chú thích: T1 – Quy định pháp luật về giáo dục và chuẩn đầu ra CTĐT; T2 – Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia; T3 – Quy định pháp luật chuyên ngành về an toàn, năng lực hoặc điều kiện hành nghề; T4 – Tiêu chuẩn, yêu cầu do doanh nghiệp, cơ sở đào tạo, hãng công nghệ, tổ chức quốc tế xây dựng hoặc được các bên thống nhất áp dụng. Dấu X thể hiện nguồn tiêu chuẩn và điều kiện cấp chủ yếu hoặc có thể đồng thời áp dụng; dấu — thể hiện nguồn không phải căn cứ đặc trưng của nhóm/tiểu nhóm. Ma trận phản ánh nguồn tiêu chuẩn trực tiếp đối với từng loại VB-CC-CN, không đồng nghĩa với việc các hoạt động thuộc T4 nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của pháp luật Việt Nam.
Cơ chế bảo đảm chất lượng trong đào tạo, đánh giá và cấp văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận
Các hệ thống VB-CC-CN áp dụng những cơ chế bảo đảm chất lượng khác nhau, tùy thuộc vào cơ sở pháp lý, tiêu chuẩn áp dụng và chủ thể tổ chức đào tạo, đánh giá, cấp VB-CC-CN. Các cơ chế này bao gồm những yêu cầu về điều kiện hoạt động của tổ chức, chương trình và nội dung đào tạo, năng lực của người thực hiện đánh giá, phương thức kiểm tra kết quả và việc quản lý cấp VB-CC-CN. Có thể phân thành bốn hình thức chủ yếu.
Thứ nhất, bảo đảm chất lượng theo quy định về giáo dục và GDNN. Đây là cơ chế chủ yếu áp dụng đối với VB-CC-CN thuộc Nhóm 1. Hoạt động bảo đảm chất lượng được thực hiện thông qua các quy định về điều kiện tổ chức đào tạo, chương trình và chuẩn đầu ra, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, kiểm tra, đánh giá và xét tốt nghiệp hoặc hoàn thành chương trình. Đối với chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài (Tiểu nhóm 1.2), hoạt động bảo đảm chất lượng còn gắn với yêu cầu của cơ sở đào tạo nước ngoài, pháp luật của quốc gia sở tại và các quy định áp dụng đối với chương trình liên kết.
Thứ hai, bảo đảm chất lượng theo hệ thống đánh giá kỹ năng nghề quốc gia. Đây là cơ chế đặc trưng của Nhóm 2, trong đó hoạt động đánh giá được thực hiện theo tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và các quy định về tổ chức đánh giá. Cơ chế bảo đảm chất lượng bao gồm yêu cầu về điều kiện hoạt động của tổ chức đánh giá, cơ sở vật chất và thiết bị, năng lực của đánh giá viên, nội dung và phương thức đánh giá, giám sát quá trình đánh giá và quản lý kết quả cấp chứng chỉ.
Thứ ba, bảo đảm chất lượng theo quy định pháp luật chuyên ngành. Cơ chế này chủ yếu áp dụng đối với chứng chỉ, thẻ thuộc Tiểu nhóm 3.1. Tùy theo từng loại văn bản, các quy định chuyên ngành xác định điều kiện của tổ chức huấn luyện hoặc đánh giá, nội dung chương trình, yêu cầu đối với người hướng dẫn, phương thức kiểm tra, sát hạch và điều kiện cấp, quản lý chứng chỉ, thẻ.
Thứ tư, bảo đảm chất lượng theo tiêu chuẩn của doanh nghiệp, cơ sở đào tạo, hãng công nghệ hoặc tổ chức quốc tế. Đây là hình thức chủ yếu xuất hiện ở các Tiểu nhóm 3.2 –3.7. Các yêu cầu bảo đảm chất lượng được xác định theo quy định nội bộ, tiêu chuẩn kỹ thuật, CTĐT hoặc cơ chế chứng nhận của tổ chức tương ứng. Tùy từng loại hình, các yêu cầu này có thể bao gồm tiêu chuẩn giảng viên, nội dung đào tạo, điều kiện thực hành, phương thức đánh giá, tiêu chí hoàn thành và việc kiểm soát cấp chứng nhận. Đối với chương trình do đơn vị được ủy quyền triển khai, hoạt động đào tạo và đánh giá còn tuân theo các yêu cầu của tổ chức sở hữu tiêu chuẩn hoặc chương trình chứng nhận.
Nhìn chung, các cơ chế bảo đảm chất lượng được xác lập theo những khuôn khổ quản lý và tiêu chuẩn khác nhau. Một số chương trình có thể đồng thời áp dụng nhiều cơ chế, đặc biệt trong hoạt động liên kết đào tạo với nước ngoài, đào tạo theo đặt hàng của doanh nghiệp hoặc triển khai chương trình chứng nhận quốc tế.
Bảng 7.Ma trận cơ chế bảo đảm chất lượng theo các nhóm VB-CC-CN
Nhóm/tiểu nhóm VB-CC-CN
Q1
Q2
Q3
Q4
Nhóm 1. VB-CC-CN gắn với hệ thống GDNN
1.1. VB-CC-CN trong hệ thống giáo dục quốc dân
X
—
—
—
1.2. Văn bằng GDNN nước ngoài trong chương trình liên kết đào tạo
X
—
—
X
1.3. Chứng nhận mô-đun/nội dung thuộc chương trình GDNN
X
—
—
—
Nhóm 2. Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
—
X
—
—
Nhóm 3. Chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận gắn với thị trường lao động
3.1. Chứng chỉ, thẻ theo pháp luật chuyên ngành
—
—
X
—
3.2. Chứng nhận do doanh nghiệp cấp
—
—
—
X
3.3. Chứng nhận do cơ sở đào tạo trong nước tự tổ chức, cấp
—
—
—
X
3.4. Chứng nhận đào tạo theo đặt hàng của doanh nghiệp
—
—
—
X
3.5. Chứng nhận theo tiêu chuẩn doanh nghiệp/tổ chức quốc tế
—
—
—
X
3.6. Xác nhận thực tập/học tập tại doanh nghiệp
—
—
—
X
3.7. Xác nhận hoàn thành CTĐT theo tiêu chuẩn quốc tế
—
—
—
X
Chú thích: Q1 – Bảo đảm chất lượng theo quy định về giáo dục và GDNN; Q2 – Bảo đảm chất lượng theo hệ thống đánh giá kỹ năng nghề quốc gia; Q3 – Bảo đảm chất lượng theo pháp luật chuyên ngành; Q4 – Bảo đảm chất lượng theo tiêu chuẩn hoặc quy định của doanh nghiệp, cơ sở đào tạo, hãng công nghệ hoặc tổ chức quốc tế. Dấu X thể hiện cơ chế đặc trưng hoặc có thể áp dụng đối với nhóm/tiểu nhóm; dấu — thể hiện cơ chế không phải đặc trưng trong phạm vi phân loại. Ma trận phản ánh cơ sở tổ chức bảo đảm chất lượng, không thể hiện mức độ tuân thủ hoặc hiệu quả thực hiện của từng tổ chức.
Thời lượng, khối lượng và đơn vị kết quả được ghi nhận
Các VB-CC-CN trong ba hệ thống có sự khác biệt về thời lượng, khối lượng học tập và đơn vị kết quả được ghi nhận. Tùy theo mục đích và phạm vi xác nhận, kết quả có thể được xác định theo CTĐT, mô-đun, khóa học, bậc kỹ năng nghề hoặc hoạt động thực hành, thực tập cụ thể. Có thể phân thành bốn hình thức chủ yếu.
Thứ nhất, ghi nhận theo chương trình và trình độ đào tạo. Đây là hình thức đặc trưng của các văn bằng thuộc Nhóm 1, trong đó thời lượng và khối lượng học tập được xác định theo trình độ và CTĐT tương ứng. Kết quả được ghi nhận gắn với việc hoàn thành chương trình và đáp ứng các yêu cầu về chuẩn đầu ra.
Thứ hai, theo mô-đun, khóa học hoặc chuyên đề. Hình thức này xuất hiện ở chứng nhận mô-đun trong các CTĐT thuộc Nhóm 1 và nhiều chứng chỉ, chứng nhận thuộc Nhóm 3. Thời lượng có thể được xác định bằng số giờ, ngày học hoặc khối lượng nội dung chuyên môn; kết quả được ghi nhận tương ứng với một mô-đun, khóa đào tạo ngắn hạn hoặc chuyên đề cụ thể.
Thứ ba, theo bậc kỹ năng hoặc năng lực được đánh giá. Đây là hình thức đặc trưng của chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia (Nhóm 2) và một số chứng nhận năng lực thuộc Nhóm 3. Kết quả được ghi nhận theo nghề, bậc kỹ năng hoặc tiêu chuẩn năng lực cụ thể, không nhất thiết gắn với thời lượng tham gia một CTĐT cố định.
Thứ tư, theo thời gian thực hành, thực tập hoặc yêu cầu công việc. Hình thức này chủ yếu xuất hiện ở các giấy xác nhận thực tập, đào tạo tại nơi làm việc và một số chứng nhận chuyên ngành thuộc Nhóm 3. Nội dung xác nhận có thể gắn với thời gian tham gia, nhiệm vụ đã thực hiện, nội dung thực hành hoặc việc đáp ứng yêu cầu chuyên môn, an toàn đối với công việc cụ thể.
Như vậy, thời lượng và khối lượng học tập phản ánh quy mô của hoạt động đào tạo, trong khi đơn vị kết quả được ghi nhận còn có thể là bậc kỹ năng, năng lực nghề nghiệp hoặc nhiệm vụ công việc. Hai cách xác định này không nhất thiết đồng thời xuất hiện trong mọi loại VB-CC-CN.
Bảng 8.Ma trận hình thức xác định thời lượng, khối lượng và đơn vị kết quả được ghi nhận theo các nhóm VB-CC-CN
Nhóm/tiểu nhóm VB-CC-CN
K1
K2
K3
K4
Nhóm 1. VB-CC-CN gắn với hệ thống GDNN
1.1. VB-CC-CN trong hệ thống giáo dục quốc dân
X
X
—
—
1.2. Văn bằng GDNN nước ngoài trong chương trình liên kết đào tạo
X
—
—
—
1.3. Chứng nhận mô-đun/nội dung thuộc chương trình GDNN
—
X
—
—
Nhóm 2. Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
—
—
X
—
Nhóm 3. Chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận gắn với thị trường lao động
3.1. Chứng chỉ, thẻ theo pháp luật chuyên ngành
—
X
X
X
3.2. Chứng nhận do doanh nghiệp cấp
—
X
X
X
3.3. Chứng nhận do cơ sở đào tạo trong nước tự tổ chức, cấp
—
X
X
—
3.4. Chứng nhận đào tạo theo đặt hàng của doanh nghiệp
—
X
X
—
3.5. Chứng nhận theo tiêu chuẩn doanh nghiệp/tổ chức quốc tế
—
X
X
—
3.6. Xác nhận thực tập/học tập tại doanh nghiệp
—
—
—
X
3.7. Xác nhận hoàn thành CTĐT theo tiêu chuẩn quốc tế
—
X
—
—
Chú thích: K1 – Theo chương trình và trình độ đào tạo; K2 – Theo mô-đun, khóa học hoặc chuyên đề; K3 – Theo bậc kỹ năng hoặc năng lực được đánh giá; K4 – Theo thời gian thực hành, thực tập hoặc yêu cầu công việc. Dấu X thể hiện hình thức có thể xuất hiện trong nhóm/tiểu nhóm; dấu – thể hiện hình thức không phải đặc trưng được xác định trong phạm vi nghiên cứu. Một tiểu nhóm có thể kết hợp nhiều hình thức tùy theo loại VB-CC-CN cụ thể.
Phạm vi ngành, nghề và lĩnh vực kỹ thuật
Các VB-CC-CN trong ba hệ thống bao phủ những phạm vi ngành, nghề và lĩnh vực kỹ thuật khác nhau. Căn cứ vào tính chất chuyên môn của nội dung được xác nhận, có thể phân thành ba nhóm chủ yếu.
Thứ nhất, VB-CC-CN gắn với ngành, nghề đào tạo hoặc nghề nghiệp xác định. Đây là phạm vi đặc trưng của các văn bằng, chứng chỉ thuộc Nhóm 1 và chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia (Nhóm 2). Trong hệ thống GDNN, phạm vi ngành, nghề được xác định theo danh mục ngành, nghề đào tạo và chương trình tương ứng; trong hệ thống chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, phạm vi được xác định theo các nghề có tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia. Các ngành, nghề có liên quan đến nghiên cứu bao gồm hệ thống điện, công nghệ kỹ thuật ô tô, tự động hóa công nghiệp và năng lượng tái tạo.
Trong Nhóm 1, đáng chú ý, danh mục ngành, nghề đào tạo ban hành kèm theo Thông tư số 77/2026/TT-BGDĐT đã cập nhật nhiều ngành, nghề gắn trực tiếp với các lĩnh vực ưu tiên của nghiên cứu. So với danh mục trước đây, danh mục mới thể hiện rõ hơn các lĩnh vực chuyển đổi năng lượng, giao thông xanh và công nghệ kỹ thuật hiện đại. Một số ngành, nghề được bổ sung hoặc thể hiện cụ thể hơn gồm Vận hành và bảo trì tua bin điện gió; Điện gió; Công nghệ kỹ thuật điện và năng lượng tái tạo; Vận hành nhà máy điện gió, điện mặt trời; Lắp đặt và bảo trì hệ thống năng lượng tái tạo; Cơ điện tử ô tô; Kỹ thuật lắp đặt và bảo trì trạm sạc xe điện. Danh mục cũng tiếp tục bao gồm những ngành, nghề như Hệ thống điện, Tự động hóa công nghiệp và Công nghệ kỹ thuật ô tô. Thông tư được ban hành ngày 25/9/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/12/2026. Việc một ngành, nghề có tên trong danh mục không đồng nghĩa với việc CTĐT tương ứng đã được triển khai hoặc đã có người học được cấp VB-CC-CN.
Thứ hai, VB-CC-CN gắn với lĩnh vực chuyên môn, công nghệ, thiết bị hoặc nhiệm vụ công việc cụ thể. Phạm vi này xuất hiện chủ yếu ở các chứng chỉ, chứng nhận thuộc Nhóm 3 và một số chứng nhận mô-đun thuộc Nhóm 1. Nội dung được xác nhận có thể tập trung vào một công nghệ, hệ thống thiết bị, công đoạn sản xuất, nhiệm vụ kỹ thuật hoặc chức năng chuyên môn, chẳng hạn vận hành thiết bị của hãng, lắp đặt hệ thống điện mặt trời, bảo trì thiết bị điện, quản lý năng lượng hoặc kiểm toán năng lượng.
Thứ ba, VB-CC-CN gắn với các kỹ năng bổ trợ hoặc yêu cầu áp dụng trong nhiều ngành, nghề. Nhóm này bao gồm những chứng nhận về an toàn vệ sinh lao động, kỹ năng số, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi trường hoặc các chuyên đề kỹ năng có phạm vi áp dụng rộng. Những nội dung này có thể được tổ chức thành khóa đào tạo độc lập, mô-đun trong chương trình GDNN hoặc chương trình bồi dưỡng của doanh nghiệp.
Bảng 9.Phạm vi ngành, nghề và lĩnh vực kỹ thuật theo các nhóm VB-CC-CN
Nhóm/tiểu nhóm VB-CC-CN
N1
N2
N3
Nhóm 1. VB-CC-CN gắn với hệ thống GDNN
1.1. VB-CC-CN trong hệ thống giáo dục quốc dân
X
X
X
1.2. Văn bằng GDNN nước ngoài trong chương trình liên kết đào tạo
X
—
—
1.3. Chứng nhận mô-đun/nội dung thuộc chương trình GDNN
—
X
X
Nhóm 2. Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
X
—
—
Nhóm 3. Chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận gắn với thị trường lao động
3.1. Chứng chỉ, thẻ theo pháp luật chuyên ngành
—
X
X
3.2. Chứng nhận do doanh nghiệp cấp
—
X
X
3.3. Chứng nhận do cơ sở đào tạo trong nước tự tổ chức, cấp
X
X
X
3.4. Chứng nhận đào tạo theo đặt hàng của doanh nghiệp
—
X
X
3.5. Chứng nhận theo tiêu chuẩn doanh nghiệp/tổ chức quốc tế
—
X
X
3.6. Xác nhận thực tập/học tập tại doanh nghiệp
X
X
—
3.7. Xác nhận hoàn thành CTĐT theo tiêu chuẩn quốc tế
—
X
X
Chú thích: N1 – Theo ngành, nghề đào tạo hoặc nghề nghiệp xác định; N2 – Theo lĩnh vực chuyên môn, công nghệ, thiết bị hoặc nhiệm vụ công việc cụ thể; N3 – Theo kỹ năng bổ trợ hoặc yêu cầu áp dụng trong nhiều ngành, nghề. Dấu X thể hiện phạm vi có thể xuất hiện trong nhóm/tiểu nhóm; dấu — thể hiện phạm vi không phải đặc trưng được xác định trong nghiên cứu. Một tiểu nhóm có thể bao gồm nhiều phạm vi tùy theo chương trình hoặc loại VB-CC-CN cụ thể.
Thời hạn và điều kiện duy trì hiệu lực của văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận
Các VB-CC-CN trong ba hệ thống có sự khác biệt về thời hạn hiệu lực và yêu cầu duy trì, cập nhật kết quả được xác nhận. Có thể phân thành ba hình thức chủ yếu.
Thứ nhất, VB-CC-CN không có thời hạn hết hiệu lực xác định. Hình thức này phổ biến đối với văn bằng đào tạo thuộc Nhóm 1, chứng nhận hoàn thành mô-đun và một số chứng chỉ, chứng nhận ghi nhận kết quả học tập hoặc kỹ năng nghề đã đạt được. Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia (Nhóm 2) cũng không được quy định thời hạn hiệu lực cố định, nhưng có thể bị thu hồi trong những trường hợp theo quy định pháp luật.
Thứ hai, VB-CC-CN có thời hạn hiệu lực hoặc yêu cầu huấn luyện, đánh giá định kỳ. Hình thức này chủ yếu xuất hiện ở một số chứng chỉ, thẻ theo pháp luật chuyên ngành (Tiểu nhóm 3.1), như thẻ an toàn lao động, thẻ an toàn điện và chứng chỉ quản lý năng lượng. Tùy theo loại văn bản, quy định có thể xác định thời hạn hiệu lực, yêu cầu huấn luyện cập nhật, sát hạch lại hoặc điều kiện cấp mới. Yêu cầu huấn luyện định kỳ không nhất thiết đồng nghĩa với việc văn bản có thời hạn hết hiệu lực cố định.
Thứ ba, thời hạn và điều kiện duy trì hiệu lực do chủ thể sở hữu hệ thống chứng nhận quy định. Hình thức này thường gặp ở các chứng chỉ, chứng nhận do doanh nghiệp, hãng công nghệ, cơ sở đào tạo hoặc tổ chức quốc tế cấp (Nhóm 3). Tùy theo chương trình và tiêu chuẩn áp dụng, VB–CC–CN có thể không quy định thời hạn, có thời hạn xác định hoặc yêu cầu người được cấp tham gia đào tạo cập nhật, đánh giá lại để duy trì hiệu lực.
Bảng 10.Ma trận thời hạn và điều kiện duy trì hiệu lực theo các nhóm VB-CC-CN
Nhóm/tiểu nhóm VB-CC-CN
H1
H2
H3
Nhóm 1. VB-CC-CN gắn với hệ thống GDNN
1.1. VB-CC-CN trong hệ thống giáo dục quốc dân
X
—
—
1.2. Văn bằng GDNN nước ngoài trong chương trình liên kết đào tạo
X
—
—
1.3. Chứng nhận mô-đun/nội dung thuộc chương trình GDNN
X
—
—
Nhóm 2. Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
X
—
—
Nhóm 3. Chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận gắn với thị trường lao động
3.1. Chứng chỉ, thẻ theo pháp luật chuyên ngành
—
X
—
3.2. Chứng nhận do doanh nghiệp cấp
—
—
X
3.3. Chứng nhận do cơ sở đào tạo trong nước tự tổ chức, cấp
—
—
X
3.4. Chứng nhận đào tạo theo đặt hàng của doanh nghiệp
—
—
X
3.5. Chứng nhận theo tiêu chuẩn doanh nghiệp/tổ chức quốc tế
—
—
X
3.6. Xác nhận thực tập/học tập tại doanh nghiệp
X
—
—
3.7. Xác nhận hoàn thành CTĐT theo tiêu chuẩn quốc tế
—
—
X
Chú thích: H1 – Không có thời hạn hiệu lực xác định; H2 – Có thời hạn hiệu lực hoặc yêu cầu huấn luyện, đánh giá định kỳ theo quy định pháp luật; H3 – Thời hạn và điều kiện duy trì hiệu lực được xác định theo quy định của chủ thể sở hữu hệ thống chứng nhận hoặc chương trình. Dấu X thể hiện hình thức đặc trưng hoặc có thể xuất hiện trong tiểu nhóm; dấu — thể hiện hình thức không phải đặc trưng được xác định trong nghiên cứu. Đối với H3, từng chứng nhận cụ thể có thể thuộc loại không thời hạn hoặc có thời hạn, tùy theo quy định áp dụng.
Đánh giá về các nhóm văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận được ghi nhận trong nghiên cứu
Kết quả rà soát pháp lý và khảo sát thực tiễn cho thấy hệ thống VB–CC–CN liên quan đến GDNN và thị trường lao động tại Việt Nam có tính đa dạng về loại hình, mục đích cấp, đối tượng, phạm vi năng lực được xác nhận, tiêu chuẩn áp dụng và chủ thể cấp. Ba nhóm VB–CC–CN được nhận diện trong nghiên cứu phản ánh ba khuôn khổ tổ chức chủ yếu: hệ thống GDNN, hệ thống đánh giá kỹ năng nghề quốc gia và các hệ thống chứng nhận gắn với thị trường lao động. Từ kết quả lập bản đồ và đối chiếu đặc điểm giữa các nhóm, tiểu nhóm, có thể rút ra năm nhận định khái quát sau đây.
1) Các VB-CC-CN được cấp với những mục đích khác nhau, không chỉ nhằm xác nhận việc hoàn thành CTĐT mà còn ghi nhận năng lực nghề nghiệp, điều kiện thực hiện công việc và kết quả học tập tại nơi làm việc.
Trong khi các VB–CC–CN thuộc Nhóm 1 chủ yếu gắn với việc hoàn thành CTĐT hoặc từng phần nội dung học tập, chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia (Nhóm 2) tập trung xác nhận năng lực theo nghề và bậc trình độ kỹ năng nghề. Các VB–CC–CN thuộc Nhóm 3 có phạm vi mục đích đa dạng hơn, từ xác nhận hoàn thành đào tạo, đánh giá năng lực kỹ thuật, đáp ứng yêu cầu an toàn hoặc hành nghề đến xác nhận quá trình thực tập tại doanh nghiệp. Như vậy, dù có thể sử dụng những tên gọi tương tự nhau nhưng các VB–CC–CN được ghi nhận trong nghiên cứu không cùng xác nhận một loại kết quả/năng lực.
2) Phạm vi kiến thức, kỹ năng và năng lực được xác nhận có sự khác biệt đáng kể, từ toàn bộ CTĐT đến những đơn vị năng lực hoặc nhiệm vụ nghề nghiệp chuyên biệt.
Văn bằng thuộc Nhóm 1 thường bao quát chuẩn đầu ra của một CTĐT theo trình độ; chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia xác nhận năng lực theo tiêu chuẩn của một nghề và bậc kỹ năng tương ứng. Trong khi đó, nhiều chứng chỉ, chứng nhận thuộc Nhóm 3 chỉ tập trung vào một công nghệ, loại thiết bị, nhiệm vụ kỹ thuật hoặc yêu cầu an toàn cụ thể. Sự đa dạng này cũng được phản ánh trong cách xác định kết quả: theo chương trình, tín chỉ, mô-đun, bậc kỹ năng, kết quả đánh giá hoặc thời gian thực hành, thực tập.
3) Các hệ thống VB–CC–CN có sự đa dạng về nguồn tiêu chuẩn, điều kiện cấp và cấu hình tổ chức đào tạo, đánh giá, cấp.
Nhóm 1 chủ yếu dựa trên quy định về giáo dục và chuẩn đầu ra CTĐT; Nhóm 2 dựa trên tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia; trong khi Nhóm 3 bao gồm các chứng chỉ, chứng nhận được cấp theo pháp luật chuyên ngành hoặc tiêu chuẩn của doanh nghiệp, cơ sở đào tạo, hãng công nghệ và tổ chức quốc tế. Về tổ chức thực hiện, có trường hợp một tổ chức trực tiếp đào tạo, đánh giá và cấp; có trường hợp chức năng đánh giá và cấp được phân định giữa các chủ thể; cũng có những chương trình được triển khai theo hình thức hợp tác hoặc ủy quyền.
4) Đối tượng được cấp VB–CC–CN trải rộng từ người học trong hệ thống GDNN đến người lao động đang làm việc và những cá nhân có kinh nghiệm nghề nghiệp cần được đánh giá, xác nhận năng lực.
Các văn bằng, chứng chỉ thuộc Nhóm 1 chủ yếu hướng tới người tham gia CTĐT, trong khi Nhóm 2 hướng tới những người đáp ứng điều kiện tham gia đánh giá kỹ năng nghề quốc gia, không nhất thiết phải hoàn thành một CTĐT mới. Nhóm 3 bao gồm nhiều đối tượng khác nhau, như người lao động được đào tạo nội bộ, kỹ thuật viên tham gia chứng nhận chuyên môn, người thực hiện công việc có yêu cầu an toàn và học sinh, sinh viên thực tập tại doanh nghiệp. Một cá nhân có thể đồng thời hoặc lần lượt tham gia nhiều loại hình đào tạo, đánh giá và chứng nhận.
5) Các lĩnh vực kỹ thuật gắn với chuyển đổi xanh được bao phủ bởi nhiều nhóm VB–CC–CN, trong đó hệ thống GDNN đã có những cập nhật về danh mục ngành, nghề đào tạo.
Những lĩnh vực ưu tiên của nghiên cứu như hệ thống điện và lưới điện, năng lượng tái tạo, phương tiện giao thông điện, hạ tầng sạc xe điện và tự động hóa xuất hiện dưới các hình thức đào tạo, đánh giá và chứng nhận khác nhau. Đáng chú ý, Danh mục ngành, nghề đào tạo GDNN mới ban hành đã bổ sung hoặc thể hiện rõ hơn một số ngành, nghề gắn với các lĩnh vực ưu tiên của dự án. Bên cạnh các CTĐT theo ngành, nghề, nghiên cứu cũng ghi nhận những chứng nhận chuyên biệt về an toàn, vận hành thiết bị, công nghệ của hãng và quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả. Tuy nhiên, việc một ngành, nghề được quy định trong danh mục không đồng nghĩa với việc CTĐT tương ứng đã được triển khai trên thực tế.
Nhìn chung, kết quả lập bản đồ cho thấy các VB–CC–CN trong phạm vi nghiên cứu được hình thành và cấp theo những khuôn khổ khác nhau về mục đích, tiêu chuẩn, phạm vi năng lực và tổ chức thực hiện. Những đặc điểm này là cơ sở để tiếp tục xem xét thực trạng công nhận, sử dụng và chuyển đổi kết quả học tập, kỹ năng nghề đã tích lũy trong nội bộ từng hệ thống và giữa các hệ thống ở phần tiếp theo.
Bảng 11.Ma trận so sánh đặc điểm các nhóm và tiểu nhóm văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận và xác nhận
Nhóm/tiểu nhóm
Đặc điểm và mục đích
Loại văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận
Chủ thể cấp
Đối tượng và thời lượng
Cơ sở pháp lý, phạm vi giá trị
1. Văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận gắn với hệ thống GDNN
1.1. VB-CC-CN trong hệ thống giáo dục quốc dân
Ghi nhận việc hoàn thành CTĐT hoặc đáp ứng yêu cầu của trình độ GDNN
Bằng trung học nghề, bằng trung cấp, bằng cao đẳng; chứng chỉ sơ cấp, chứng chỉ đào tạo; giấy chứng nhận hoàn thành chương trình trung học nghề
Người đứng đầu cơ sở hoạt động GDNN
Người học đáp ứng điều kiện tuyển sinh; thời lượng từ các khóa ngắn hạn đến chương trình nhiều năm
Tên gọi, điều kiện cấp và giá trị pháp lý được quy định trong Luật Giáo dục, Luật GDNN và các văn bản hướng dẫn
1.2. Văn bằng của cơ sở GDNN nước ngoài trong chương trình liên kết đào tạo
Hoàn thành CTĐT liên kết đào tạo, có dẫn đến văn bằng trình độ của cơ sở GDNN nước ngoài
Văn bằng nước ngoài; có thể đồng thời có văn bằng Việt Nam
Cơ sở GDNN nước ngoài có thẩm quyền; phía Việt Nam cấp bằng riêng nếu thỏa thuận
Người học đáp ứng điều kiện tuyển sinh và yêu cầu chương trình liên kết; thời lượng theo CTĐT
Theo quy định về liên kết đào tạo và hệ thống cấp bằng tương ứng; không mặc nhiên tương đương với bằng Việt Nam
1.3. Chứng nhận hoàn thành mô-đun/nội dung thuộc CTĐT GDNN
Ghi nhận kết quả hoàn thành một phần (mô-đun) trong CTĐT chính quy
Giấy chứng nhận hoàn thành mô-đun
Cơ sở GDNN theo quy chế và thẩm quyền nội bộ
Sinh viên trung cấp, cao đẳng; thời lượng theo mô-đun hoặc học phần
Có tính bổ trợ; không thay thế văn bằng tốt nghiệp.
2. Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
Minh chứng về năng lực thực hiện công việc đã được đánh giá, công nhận theo tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia
Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, bậc 1-5
Cơ quan có thẩm quyền theo pháp luật về việc làm
Người lao động đáp ứng điều kiện dự đánh giá; không bắt buộc hoàn thành một CTĐT riêng
Có cơ sở pháp lý quốc gia theo Luật Việc làm và các văn bản hướng dẫn; ghi nhận trình độ kỹ năng nghề, không tự động tương đương văn bằng GDNN
3. Chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận gắn với thị trường lao động
3.1. Chứng chỉ, thẻ theo pháp luật chuyên ngành
Xác nhận người lao động đã được huấn luyện, sát hạch và đáp ứng yêu cầu an toàn để thực hiện công việc tương ứng
Thẻ an toàn lao động; thẻ an toàn điện (5 bậc)
Người sử dụng lao động hoặc tổ chức có thẩm quyền theo quy định của từng loại thẻ
Người lao động làm công việc có yêu cầu về an toàn; huấn luyện lần đầu tối thiểu 24 giờ đối với các trường hợp nêu trong nghiên cứu
Theo pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động và an toàn điện; có giá trị theo phạm vi công việc, điều kiện và thời hạn tương ứng
3.1b. Nhóm chứng chỉ năng lực chuyên môn theo pháp luật chuyên ngành (chứng chỉ hành nghề)
Xác nhận năng lực chuyên môn để thực hiện nhiệm vụ nghề nghiệp chuyên biệt theo yêu cầu pháp luật
Chứng chỉ Quản lý năng lượng; chứng chỉ Kiểm toán viên năng lượng
Cơ quan hoặc tổ chức có thẩm quyền cấp theo quy định chuyên ngành
Nhân sự quản lý năng lượng, kiểm toán viên năng lượng; yêu cầu đầu vào và thời gian đào tạo theo từng loại chứng chỉ
Theo pháp luật về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; giá trị và thời hạn theo quy định của từng chứng chỉ
3.2. Chứng nhận nội bộ của doanh nghiệp
Ghi nhận kết quả đào tạo hoặc cấp bậc kỹ năng theo yêu cầu của nội bộ doanh nghiệp
Chứng nhận kỹ thuật viên, bậc thợ, chứng nhận hoàn thành khoá đào tạo
Doanh nghiệp hoặc đơn vị được giao thực hiện trong hệ thống doanh nghiệp
Nhân viên, kỹ thuật viên, đại lý, đối tác; thời lượng linh hoạt
Theo tiêu chuẩn và quy chế doanh nghiệp; giá trị sử dụng chủ yếu trong hệ thống doanh nghiệp
3.3. Chứng nhận do cơ sở đào tạo trong nước tự tổ chức
Đào tạo, bồi dưỡng theo chương trình và chuẩn đầu ra do chính đơn vị xây dựng, tuyển sinh cho đối tượng người học bên ngoài
Giấy chứng nhận hoàn thành khóa bồi dưỡng hoặc khóa học chuyên ngành
Cơ sở đào tạo tổ chức khóa học
Người học bên ngoài, người lao động có nhu cầu nâng cao kỹ năng; chủ yếu ngắn hạn
Theo tiêu chuẩn của cơ sở cấp; không mặc nhiên là chứng chỉ đào tạo được pháp luật GDNN quy định
3.4. Chứng nhận từ khóa đào tạo theo đặt hàng doanh nghiệp
Đào tạo theo yêu cầu kỹ năng, công nghệ hoặc vị trí việc làm của doanh nghiệp đặt hàng
Chứng nhận hoàn thành khóa đào tạo; có thể kèm đánh giá tay nghề
Cơ sở đào tạo thực hiện theo thỏa thuận, có thể phối hợp doanh nghiệp
Người lao động hoặc người học do doanh nghiệp lựa chọn; thời lượng theo hợp đồng
Giá trị theo chương trình, thỏa thuận và chủ thể cấp
3.5. Chứng nhận theo chuẩn doanh nghiệp/tổ chức quốc tế được ủy quyền
Đào tạo, đánh giá theo tiêu chuẩn của hãng hoặc tổ chức sở hữu chương trình
Chứng nhận kỹ thuật, chứng nhận năng lực hoặc hoàn thành chương trình theo chuẩn được ủy quyền
Tổ chức sở hữu tiêu chuẩn hoặc đơn vị được ủy quyền cấp
Người lao động, kỹ thuật viên, đối tác, người học đáp ứng điều kiện chương trình
Theo cơ chế ủy quyền và tiêu chuẩn áp dụng; phạm vi công nhận tùy tổ chức, chương trình
3.6. Xác nhận thực tập/học tập tại doanh nghiệp
Ghi nhận việc tham gia, hoàn thành và kết quả thực tập trong CTĐT GDNN
Giấy xác nhận thực tập; nhận xét, phiếu đánh giá thực hành
Doanh nghiệp tiếp nhận thực tập
Sinh viên GDNN; thời lượng theo kế hoạch thực tập của CTĐT
Kết quả bổ trợ cho CTĐT; không phải văn bằng hoặc chứng chỉ trình độ độc lập
3.7. Xác nhận hoàn thành CTĐT theo tiêu chuẩn quốc tế
Ghi nhận việc hoàn thành chương trình GDNN có áp dụng tiêu chuẩn hoặc cơ chế đánh giá quốc tế
Giấy xác nhận bổ sung, có thể đồng ký
Cơ sở GDNN phối hợp tổ chức quốc tế hoặc đối tác liên quan
Sinh viên các CTĐT hợp tác, chuyển giao; thời lượng gắn với CTĐT chính quy
Có tính bổ trợ; không tự động tương đương văn bằng nước ngoài hoặc chứng nhận nghề độc lập
(Nguồn: Nhóm nghiên cứu tổng hợp từ dữ liệu khảo sát)
Một số lưu ý khi sử dụng bảng phân loại
a. Tiểu nhóm 1.1 và 3.3 hoặc 3.4 có thể có cùng loại cơ sở đào tạo nhưng khác nhau về bản chất kết quả được cấp. Ví dụ một trường cao đẳng có thể cấp chứng chỉ đào tạo nghề theo pháp luật GDNN, đồng thời tổ chức các khóa bồi dưỡng riêng và cấp giấy chứng nhận theo chương trình của trường hoặc theo đặt hàng doanh nghiệp. Vì vậy, không thể chỉ dựa vào tên cơ sở đào tạo hoặc tên gọi “chứng chỉ” để phân nhóm.
b. Tiểu nhóm 3.2–3.5 cần phân biệt theo chủ thể sở hữu tiêu chuẩn và cơ chế tổ chức đào tạo: 3.2: Doanh nghiệp đào tạo, đánh giá và xác nhận theo hệ thống của chính doanh nghiệp; 3.3: Cơ sở đào tạo tự thiết kế chương trình và tuyển sinh cho người học bên ngoài; 3.4: Cơ sở đào tạo thực hiện khóa học riêng theo đặt hàng của doanh nghiệp; 3.5: Cơ sở đào tạo triển khai chương trình theo tiêu chuẩn của doanh nghiệp hoặc tổ chức quốc tế trên cơ sở được ủy quyền.
c. Cần phân biệt các kết quả bổ trợ với những chứng chỉ hoặc văn bằng độc lập. Các xác nhận ở tiểu nhóm 1.3, 3.6 và 3.7 chủ yếu gắn với một phần hoặc toàn bộ CTĐT GDNN; bản thân chúng không tạo thành một trình độ đào tạo hoặc chứng nhận nghề nghiệp độc lập.
"WHO: LẬP BẢN ĐỒ CÁC BÊN LIÊN QUAN"
WHO
Lập bản đồ các bên liên quan và vai trò của mỗi bên trong công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích luỹ
Hoạt động công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích luỹ tại Việt Nam là một quá trình đa chủ thể, trong đó nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân tham gia vào các khâu khác nhau từ xây dựng chính sách, thiết kế chương trình, tổ chức đào tạo, đánh giá, cấp văn bằng chứng chỉ đến sử dụng kết quả. Mỗi nhóm chủ thể có chức năng, thẩm quyền và lợi ích khác nhau, đồng thời có mức độ tham gia thực tế không đồng đều giữa các hệ thống văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận (VB-CC-CN). Chương này lập bản đồ các bên liên quan chính, phân tích vai trò của họ theo quy định pháp luật và đối chiếu với thực trạng tham gia được ghi nhận qua khảo sát.
Cơ quan quản lý nhà nước
Vai trò, trách nhiệm theo quy định pháp luật
Đối với Nhóm 1
Trong hệ thống GDNN nói riêng và hệ thống giáo dục quốc dân nói chung, cơ quan QLNN giữ vai trò chủ đạo trong việc định hướng phát triển, thiết lập khuôn khổ pháp lý, quy định các chuẩn và điều kiện tổ chức đào tạo, quản lý hoạt động đánh giá, cấp văn bằng, chứng chỉ và giám sát chất lượng. Theo Luật Giáo dục và Luật GDNN hiện hành, Chính phủ thống nhất QLNN về giáo dục, Bộ GDĐT thực hiện chức năng QLNN về GDNN; các bộ, ngành và chính quyền địa phương tham gia quản lý theo chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền được giao. Vai trò của cơ quan QLNN trong hệ thống GDNN được thể hiện chủ yếu ở 5 phương diện sau: (i) định hướng phát triển và xây dựng cơ chế, chính sách đối với hệ thống GDNN; (ii) ban hành và hướng dẫn thực hiện các chuẩn, yêu cầu đối với cơ sở GDNN và CTĐT; (iii) quy định và quản lý hoạt động tuyển sinh, tổ chức đào tạo, kiểm tra, đánh giá và công nhận tốt nghiệp; (iv) quản lý việc cấp văn bằng, chứng chỉ, bảo đảm chất lượng và dữ liệu đào tạo; (v) thanh tra, kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy định trong hoạt động GDNN.
Xem chi tiết 5 phương diện vai trò của cơ quan QLNN đối với Nhóm 1
Thứ nhất, định hướng phát triển và xây dựng cơ chế, chính sách đối với hệ thống GDNN: Cơ quan QLNN chịu trách nhiệm xây dựng, tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển GDNN; đồng thời xây dựng các cơ chế huy động, quản lý và sử dụng nguồn lực phục vụ hoạt động đào tạo. Đây là cơ sở định hướng hoạt động của các cơ sở GDNN, cũng như xác lập khuôn khổ cho sự tham gia của doanh nghiệp và các tổ chức khác vào hoạt động đào tạo nghề nghiệp.
Thứ hai, ban hành và hướng dẫn thực hiện các chuẩn, yêu cầu đối với cơ sở GDNN và CTĐT: Bộ GDĐT có thẩm quyền ban hành chuẩn cơ sở GDNN, chuẩn CTĐT và các yêu cầu về chất lượng; quy định danh mục ngành, nghề đào tạo và hướng dẫn việc xây dựng, tổ chức thực hiện CTĐT theo quy định. Trong đó, cơ quan QLNN xác định những yêu cầu chung cần đáp ứng, còn cơ sở GDNN chịu trách nhiệm cụ thể hóa thành chương trình, nội dung và hoạt động đào tạo phù hợp với ngành, nghề và điều kiện tổ chức. Đối với các ngành, nghề đặc thù, việc xây dựng chuẩn CTĐT có sự phối hợp giữa Bộ GDĐT với các bộ, ngành có liên quan.
Thứ ba, quy định và quản lý hoạt động tuyển sinh, tổ chức đào tạo, kiểm tra, đánh giá và công nhận tốt nghiệp: Cơ quan QLNN ban hành các quy chế và hướng dẫn về tuyển sinh, tổ chức đào tạo, kiểm tra, thi, xét công nhận tốt nghiệp đối với các trình độ và chương trình thuộc hệ thống GDNN. Đồng thời, cơ quan QLNN quy định về hoạt động hợp tác, liên kết đào tạo và thực hiện quản lý, kiểm tra việc triển khai theo thẩm quyền. Trong phạm vi các quy định này, cơ sở GDNN là chủ thể trực tiếp tổ chức quá trình đào tạo, đánh giá kết quả học tập và xét công nhận tốt nghiệp. Sự phân công này thể hiện sự khác biệt giữa vai trò quy định, quản lý của cơ quan nhà nước và vai trò tổ chức thực hiện của cơ sở GDNN. Về việc cấp phép tuyển sinh, Bộ GDĐT có thẩm quyền cấp phép tuyển sinh cho các CTĐT trình độ cao đẳng, Sở GDĐT cấp phép tuyển sinh cho các CTĐT trình độ trung cấp.
Thứ tư, quản lý việc cấp văn bằng, chứng chỉ, bảo đảm chất lượng và dữ liệu đào tạo: Cơ quan QLNN quy định việc in, quản lý, cấp và sử dụng văn bằng, chứng chỉ thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định này tại các cơ sở có thẩm quyền cấp. Bên cạnh đó, cơ quan QLNN xây dựng và quản lý hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành về GDNN, tổ chức kết nối, chia sẻ dữ liệu và quản lý thông tin về hoạt động đào tạo, kết quả học tập, văn bằng, chứng chỉ theo quy định. Hoạt động bảo đảm và kiểm định chất lượng cũng được quản lý thông qua việc ban hành chuẩn, quy định đánh giá chất lượng và giám sát mức độ đáp ứng các yêu cầu đối với cơ sở và CTĐT.
Thứ năm, thanh tra, kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy định trong hoạt động GDNN: Cơ quan QLNN thực hiện kiểm tra, giám sát các điều kiện tổ chức đào tạo, hoạt động tuyển sinh, triển khai chương trình, đánh giá kết quả học tập, cấp văn bằng, chứng chỉ và bảo đảm chất lượng. Đối với hoạt động hợp tác, liên kết đào tạo, nội dung giám sát còn bao gồm việc thực hiện thỏa thuận giữa các bên, điều kiện thực hành và thực tập, trách nhiệm quản lý người học, công khai thông tin và thực hiện chế độ báo cáo. Việc kiểm tra, xử lý các phản ánh, khiếu nại và vi phạm được thực hiện theo phạm vi thẩm quyền của từng cơ quan.
Đối với Nhóm 2
Trong hệ thống chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, cơ quan QLNN giữ vai trò chủ đạo trong việc thiết lập khuôn khổ pháp lý, quản lý tiêu chuẩn kỹ năng nghề, tổ chức hệ thống đánh giá và cấp chứng chỉ, bảo đảm chất lượng và phạm vi công nhận kết quả đánh giá kỹ năng nghề. Theo Luật Việc làm số 74/2025/QH15 và Nghị định số 138/2026/NĐ-CP, Chính phủ thống nhất QLNN về việc làm, trong đó có phát triển kỹ năng nghề; Bộ Nội vụ là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện chức năng này; các bộ, cơ quan ngang bộ và chính quyền địa phương tham gia quản lý theo chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền được giao. Đáng chú ý, việc quản lý hệ thống chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia có sự phân công giữa cấp trung ương và địa phương, trong đó Bộ Nội vụ tập trung vào xây dựng chính sách, tiêu chuẩn và quản lý thống nhất hệ thống, còn Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền cấp, cấp lại chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia và tổ chức quản lý hoạt động đánh giá tại địa phương. Vai trò của cơ quan QLNN trong hệ thống này được thể hiện chủ yếu ở sáu phương diện sau.
Xem chi tiết 6 phương diện vai trò của cơ quan QLNN đối với Nhóm 2
Thứ nhất, xây dựng cơ chế, chính sách và kế hoạch phát triển kỹ năng nghề quốc gia: Cơ quan QLNN có trách nhiệm xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách, chương trình, kế hoạch phát triển kỹ năng nghề, đồng thời xác lập cơ chế huy động sự tham gia của các bên liên quan. Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và chính sách phát triển kỹ năng nghề; các bộ, cơ quan ngang bộ tham gia theo lĩnh vực quản lý chuyên ngành. Ở cấp địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm triển khai các chính sách, kế hoạch phát triển kỹ năng nghề phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và điều kiện thực tế. Đây là cơ sở xác định định hướng phát triển hệ thống đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia và khuôn khổ tham gia của doanh nghiệp, cơ sở GDNN, hiệp hội nghề nghiệp và các tổ chức có liên quan.
Thứ hai, quản lý khung trình độ, xây dựng, thẩm định và công bố tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia: Cơ quan QLNN có trách nhiệm quản lý khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia, tổ chức xây dựng và công bố tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia làm căn cứ đánh giá năng lực thực hiện công việc của người lao động. Theo Điều 12 Nghị định số 138/2026/NĐ-CP, Bộ trưởng Bộ Nội vụ quyết định danh mục nghề cần xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia hằng năm. Đối với những nghề thuộc danh mục bắt buộc phải có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, Bộ Nội vụ chủ trì tổ chức xây dựng, thẩm định và công bố tiêu chuẩn; đối với các nghề khác, các bộ, ngành, doanh nghiệp, hiệp hội và cơ sở giáo dục có thể tổ chức xây dựng tiêu chuẩn để đề nghị Bộ Nội vụ thẩm định, công bố. Bộ Nội vụ đồng thời hướng dẫn việc xây dựng, cập nhật và áp dụng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia; tổ chức biên soạn, quản lý bộ công cụ đánh giá và đề đánh giá dùng trong hệ thống. Ngoài ra, Chính phủ quy định danh mục nghề, công việc bắt buộc phải có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia trên cơ sở tổng hợp, rà soát và đề xuất của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
Thứ ba, quản lý hoạt động đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia và phát triển năng lực của hệ thống tổ chức đánh giá: Cơ quan QLNN chịu trách nhiệm quy định các điều kiện, quy trình nghiệp vụ và yêu cầu chất lượng đối với hoạt động đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia. Bộ Nội vụ ban hành các tiêu chuẩn, hướng dẫn nghiệp vụ, quy chế hoạt động và biểu mẫu thống nhất; đồng thời tổ chức phát triển năng lực của hệ thống tổ chức đánh giá và hướng dẫn chương trình, tài liệu đào tạo nghiệp vụ đánh giá viên. Theo Nghị định số 138/2026/NĐ-CP, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền cấp, cấp lại chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia và có thể phân cấp, ủy quyền thực hiện theo quy định; công bố lịch đánh giá hằng năm và tổ chức đào tạo nghiệp vụ đánh giá viên theo chương trình, tài liệu được quy định. Sự phân công này xác lập trách nhiệm quản lý thống nhất về chuyên môn, nghiệp vụ ở cấp trung ương, đồng thời giao thẩm quyền trực tiếp cho địa phương trong tổ chức và quản lý hoạt động đánh giá, cấp chứng chỉ.
Thứ tư, xây dựng và quản lý hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về kỹ năng nghề quốc gia: Cơ quan QLNN có trách nhiệm xây dựng, quản lý và phát triển cơ sở dữ liệu phục vụ hoạt động phát triển kỹ năng nghề, đánh giá và cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia. Theo Điều 33 Nghị định số 138/2026/NĐ-CP, Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm quản lý và tổ chức ứng dụng khoa học, công nghệ trong hệ thống dữ liệu về kỹ năng nghề. Việc cấp, quản lý, lưu trữ và tra cứu chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia được thực hiện trên môi trường điện tử theo lộ trình chuyển đổi số, trong đó chứng chỉ điện tử có giá trị pháp lý như chứng chỉ giấy. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm thực hiện chế độ thông tin, báo cáo về tình hình phát triển kỹ năng nghề tại địa phương. Những quy định này xác lập trách nhiệm quản lý dữ liệu và tạo cơ sở cho việc xác thực, truy xuất thông tin chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia.
Thứ năm, quản lý hợp tác quốc tế và hoạt động công nhận, thừa nhận lẫn nhau về chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia: Cơ quan QLNN có trách nhiệm thúc đẩy hợp tác quốc tế trong phát triển kỹ năng nghề, đồng thời quản lý việc công nhận, thừa nhận lẫn nhau về chứng chỉ kỹ năng nghề giữa Việt Nam và các quốc gia khác. Theo Luật Việc làm năm 2025, việc công nhận, thừa nhận lẫn nhau được thực hiện trên cơ sở các cơ chế hoặc thỏa thuận tương ứng giữa các quốc gia. Bộ Nội vụ có trách nhiệm quản lý hoạt động hợp tác quốc tế, đàm phán và ký kết các hiệp định song phương, đa phương về công nhận chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia theo thẩm quyền; đồng thời thực hiện các thủ tục công nhận, thừa nhận và công bố thông tin theo quy định tại Điều 24 Nghị định số 138/2026/NĐ-CP. Đây là chức năng quản lý nhằm tạo khuôn khổ pháp lý cho việc mở rộng phạm vi công nhận kỹ năng nghề giữa Việt Nam và các quốc gia đối tác.
Thứ sáu, thanh tra, kiểm tra, giám sát và bảo đảm tuân thủ các quy định về phát triển kỹ năng nghề: Cơ quan QLNN có trách nhiệm kiểm tra, giám sát hoạt động phát triển kỹ năng nghề, đánh giá và cấp chứng chỉ nhằm bảo đảm việc thực hiện đúng các tiêu chuẩn, điều kiện và quy trình do pháp luật quy định. Bộ Nội vụ thực hiện kiểm tra, giám sát, giải quyết và xử lý các vấn đề phát sinh trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền được giao. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo, kiểm tra hoạt động đánh giá, cấp chứng chỉ và việc thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển kỹ năng nghề tại địa phương. Hoạt động này góp phần xác lập trách nhiệm giải trình của các cơ quan, tổ chức tham gia hệ thống và bảo đảm việc đánh giá, cấp chứng chỉ được thực hiện theo khuôn khổ pháp lý thống nhất.
Đối với Nhóm 3
Trong hệ thống chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận gắn với thị trường lao động (Nhóm 3), cơ quan QLNN thực hiện vai trò xây dựng khuôn khổ pháp lý, quy định điều kiện đào tạo và công nhận năng lực đối với một số nghề, công việc đặc thù; đồng thời quản lý, hướng dẫn và giám sát hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, phát triển kỹ năng nghề của doanh nghiệp. Khác với hệ thống GDNN và chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, vai trò của cơ quan QLNN đối với Nhóm 3 không được tổ chức theo một cơ chế quản lý và cấp chứng chỉ thống nhất. Đối với các thẻ, chứng chỉ thuộc Tiểu nhóm 3.1, trách nhiệm quản lý được xác định theo pháp luật chuyên ngành, với sự tham gia của các bộ, ngành có thẩm quyền. Đối với các chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận do doanh nghiệp, hiệp hội, hãng công nghệ hoặc tổ chức quốc tế cấp theo chương trình, tiêu chuẩn riêng (Tiểu nhóm 3.2–3.7), cơ quan QLNN chủ yếu thực hiện vai trò quản lý đối với hoạt động đào tạo, quan hệ lao động, điều kiện an toàn và việc thực hiện các quy định liên quan, thay vì trực tiếp quản lý việc cấp từng loại chứng nhận. Vai trò của cơ quan QLNN đối với Nhóm 3 được thể hiện ở năm phương diện sau.
Xem chi tiết 5 phương diện vai trò của cơ quan QLNN đối với Nhóm 3
Thứ nhất, xây dựng khuôn khổ pháp lý, ban hành chính sách và quy định các yêu cầu về đào tạo, năng lực nghề nghiệp trên thị trường lao động: Cơ quan QLNN có trách nhiệm ban hành và tổ chức thực hiện các quy định liên quan đến phát triển kỹ năng nghề, đào tạo tại nơi làm việc và yêu cầu chuyên môn đối với những nghề, công việc đặc thù. Đối với Tiểu nhóm 3.1, các bộ quản lý ngành, lĩnh vực quy định điều kiện chuyên môn, CTĐT, yêu cầu đánh giá và việc cấp chứng chỉ theo phạm vi thẩm quyền. Chẳng hạn, theo Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 77/2025/QH15, Bộ Công Thương có trách nhiệm quy định nội dung, CTĐT, kiểm tra, giám sát và thẩm quyền cấp, công nhận, thu hồi chứng chỉ quản lý năng lượng và kiểm toán viên năng lượng. Đối với hoạt động đào tạo tại doanh nghiệp thuộc các Tiểu nhóm 3.2–3.7, Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 xác lập trách nhiệm của người sử dụng lao động trong xây dựng kế hoạch, bố trí kinh phí và tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề cho người lao động. Như vậy, khuôn khổ pháp lý đối với Nhóm 3 kết hợp giữa các quy định quản lý chuyên ngành và các quy định chung về trách nhiệm phát triển năng lực của người lao động.
Thứ hai, quy định và quản lý hoạt động đào tạo, đánh giá, cấp chứng chỉ đối với các nghề, công việc có yêu cầu chuyên môn hoặc an toàn đặc thù: Đối với các chứng chỉ thuộc Tiểu nhóm 3.1, cơ quan QLNN có thẩm quyền trực tiếp trong việc quy định chương trình, tiêu chuẩn đánh giá, điều kiện cấp và quản lý chứng chỉ theo pháp luật chuyên ngành. Trong lĩnh vực sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, Thông tư số 53/2025/TT-BCT quy định chương trình, tài liệu đào tạo và bộ đề đánh giá năng lực đối với đào tạo quản lý năng lượng và kiểm toán viên năng lượng. Bộ Công Thương thực hiện việc quản lý hoạt động cấp chứng chỉ thông qua các cơ quan, đơn vị được giao thẩm quyền; trong đó, Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công thực hiện các nhiệm vụ cấp, thu hồi và giám sát theo quy định. Đối với huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động và an toàn điện, cơ quan QLNN có thẩm quyền quy định đối tượng, nội dung, điều kiện huấn luyện, kiểm tra và cấp thẻ, chứng nhận tương ứng; việc tổ chức và cấp các loại thẻ, chứng nhận phải tuân thủ quy định riêng của từng lĩnh vực. Điều này cho thấy cơ quan QLNN thực hiện sự quản lý trực tiếp đối với một số loại chứng chỉ, chứng nhận thuộc Nhóm 3, nhưng thẩm quyền và phương thức quản lý không đồng nhất giữa các loại.
Thứ ba, hướng dẫn, hỗ trợ và quản lý việc thực hiện trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng, phát triển kỹ năng nghề tại doanh nghiệp: Đối với các Tiểu nhóm 3.2–3.7, vai trò của cơ quan QLNN tập trung vào thiết lập và hướng dẫn thực hiện các quy định về đào tạo, phát triển kỹ năng nghề trong quan hệ lao động, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ động tổ chức các chương trình phù hợp với nhu cầu sản xuất, kinh doanh. Theo Điều 60 Bộ luật Lao động năm 2019, người sử dụng lao động có trách nhiệm xây dựng kế hoạch hằng năm, dành kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề cho người lao động và thông báo kết quả thực hiện cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Các Điều 61 và 62 của Bộ luật quy định về việc học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động và hợp đồng đào tạo nghề trong những trường hợp tương ứng. Bên cạnh đó, Nghị định số 308/2026/NĐ-CP xác lập cơ chế hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp tham gia hoạt động GDNN và phát triển nguồn nhân lực; Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ cùng các cơ quan liên quan hướng dẫn thực hiện cơ chế phối hợp giữa doanh nghiệp và cơ sở hoạt động GDNN. Các quy định này tạo khuôn khổ để cơ quan QLNN hướng dẫn, hỗ trợ và theo dõi hoạt động đào tạo tại doanh nghiệp, bao gồm những chương trình có thể dẫn đến việc cấp chứng chỉ, chứng nhận hoặc xác nhận theo tiêu chuẩn riêng của doanh nghiệp và đối tác.
Thứ tư, quản lý các điều kiện, thủ tục cấp, công nhận, cấp lại và thu hồi chứng chỉ theo phạm vi pháp luật chuyên ngành: Đối với những loại chứng chỉ thuộc Tiểu nhóm 3.1, cơ quan QLNN có trách nhiệm xác định thẩm quyền và quy trình cấp, công nhận, cấp lại hoặc thu hồi, bảo đảm chứng chỉ được cấp và sử dụng theo các điều kiện pháp luật quy định. Chẳng hạn, Thông tư số 53/2025/TT-BCT xác định thẩm quyền cấp và thu hồi chứng chỉ quản lý năng lượng, kiểm toán viên năng lượng, đồng thời quy định việc công nhận chứng chỉ do tổ chức nước ngoài cấp trong những trường hợp đáp ứng điều kiện pháp luật. Đối với các chứng nhận nội bộ doanh nghiệp, chứng nhận của hãng công nghệ, tổ chức quốc tế hoặc xác nhận hoàn thành đào tạo thuộc Tiểu nhóm 3.2–3.7, pháp luật lao động không thiết lập một thủ tục chung yêu cầu cơ quan QLNN phê duyệt, cấp hoặc công nhận từng loại chứng nhận. Vì vậy, cần phân biệt giữa thẩm quyền quản lý, cấp chứng chỉ được pháp luật chuyên ngành quy định với việc doanh nghiệp hoặc tổ chức tự xác định điều kiện, phạm vi sử dụng chứng nhận trong hệ thống hoạt động của mình.
Thứ năm, thanh tra, kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy định về đào tạo, an toàn lao động và cấp chứng chỉ: Cơ quan QLNN có trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định thuộc phạm vi quản lý, bao gồm điều kiện đào tạo, đánh giá, cấp chứng chỉ chuyên ngành, trách nhiệm đào tạo của người sử dụng lao động và các yêu cầu về an toàn, vệ sinh lao động. Đối với Tiểu nhóm 3.1, trách nhiệm giám sát được quy định cụ thể theo từng lĩnh vực. Chẳng hạn, Điều 18 Thông tư số 53/2025/TT-BCT giao Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công thực hiện giám sát quá trình đào tạo, đánh giá năng lực, kiểm tra hoạt động cấp chứng chỉ và rà soát điều kiện hoạt động của các cơ sở đào tạo quản lý năng lượng, kiểm toán viên năng lượng. Đối với hoạt động đào tạo trong doanh nghiệp, các cơ quan có thẩm quyền thực hiện kiểm tra việc tuân thủ pháp luật lao động, quy định về an toàn, vệ sinh lao động và các điều kiện hoạt động đào tạo thuộc phạm vi quản lý; Nghị định số 308/2026/NĐ-CP đồng thời quy định trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tham gia GDNN. Như vậy, chức năng thanh tra, kiểm tra và giám sát của cơ quan QLNN đối với Nhóm 3 chủ yếu gắn với các nghĩa vụ pháp lý cụ thể của tổ chức thực hiện, không đồng nghĩa với việc Nhà nước trực tiếp kiểm định hoặc bảo đảm giá trị của mọi chứng nhận do doanh nghiệp và tổ chức khác cấp.
Nhìn chung, vai trò của cơ quan QLNN được xác lập với phạm vi và mức độ can thiệp khác nhau giữa ba hệ thống văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận. Trong Nhóm 1 và Nhóm 2, Nhà nước thiết lập khuôn khổ pháp lý, quy định các tiêu chuẩn, điều kiện và quản lý hoạt động đào tạo, đánh giá, cấp văn bằng, chứng chỉ theo cơ chế tương ứng của từng hệ thống. Trong khi đó, đối với Nhóm 3, vai trò quản lý mang tính phân hóa, với sự quản lý trực tiếp theo pháp luật chuyên ngành đối với một số loại chứng chỉ, chứng nhận (Tiểu nhóm 3.1), đồng thời chủ yếu tập trung vào quy định, hướng dẫn và giám sát hoạt động đào tạo, phát triển kỹ năng nghề tại doanh nghiệp đối với các tiểu nhóm còn lại, thay vì trực tiếp quản lý việc cấp và công nhận tất cả các loại chứng nhận.
Thực trạng tham gia và thực hiện vai trò của cơ quan QLNN
Kết quả phỏng vấn cho thấy sự tham gia của cơ quan QLNN được ghi nhận rõ nét nhất ở hoạt động xây dựng, điều chỉnh chính sách và tổ chức quản lý đối với hệ thống GDNN (Nhóm 1) và hệ thống chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia (Nhóm 2), trong khi sự tham gia trực tiếp đối với các hệ thống chứng nhận gắn với thị trường lao động (Nhóm 3) ít được phản ánh trong dữ liệu khảo sát. Những hoạt động nổi bật được ghi nhận bao gồm xây dựng và cập nhật quy định về tổ chức đào tạo, công nhận kết quả học tập; điều chỉnh phân công quản lý hệ thống kỹ năng nghề quốc gia; và phát triển các chính sách hỗ trợ sự tham gia của doanh nghiệp vào hoạt động đào tạo.
Xem chi tiết thực trạng tham gia của cơ quan QLNN
Đối với Nhóm 1, vai trò của cơ quan QLNN trong hệ thống GDNN thời gian gần đây được thể hiện rõ nét thông qua hoạt động xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh thống nhất hoạt động tuyển sinh, đào tạo, quản lý chương trình và cấp văn bằng, chứng chỉ.
Việc ban hành hàng loạt các quy định mới trong năm 2026 được đa số người trả lời đánh giá rất tích cực, nhất là qua xu hướng tích hợp nhiều văn bản riêng quy định cho từng trình độ, loại hình và phương thức đào tạo vào một khuôn khổ quản lý thống nhất. Ví dụ thay vì quy định riêng về đào tạo trung cấp, cao đẳng, sơ cấp, đào tạo nghề dưới ba tháng hoặc đào tạo từ xa trong các văn bản riêng lẻ, các nội dung này đang được tích hợp để tạo sự thống nhất trong quản lý đào tạo trên toàn hệ thống (NN#2, CĐ#4). Việc thúc đẩy số hoá văn bằng chứng chỉ của Bộ GDĐT cũng được người trả lời đánh giá cao về những lợi ích có thể mang lại (CĐ#1, CĐ4, CĐ#7). Tuy nhiên, do nhiều quy định mới được ban hành hoặc đang trong giai đoạn bắt đầu triển khai, hiệu quả thực tế của những thay đổi này vẫn cần thêm thời gian để kiểm chứng và đánh giá.
Đối với Nhóm 2, sự tham gia của cơ quan QLNN được ghi nhận chủ yếu ở hoạt động quản lý, xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và tổ chức lại đầu mối quản lý hệ thống đánh giá, cấp chứng chỉ.
Trong năm 2026, đại diện cơ quan QLNN đề cập khả năng chuyển giao chức năng quản lý kỹ năng nghề quốc gia sang Bộ Nội vụ, hướng đến phân định quản lý đào tạo với đánh giá, công nhận kỹ năng nghề (NN#3). Người trả lời còn đề cập rà soát, cập nhật danh mục nghề đã có tiêu chuẩn và chuyển giao dữ liệu giữa các cơ quan. Điểm nổi bật ở đây là điều chỉnh đầu mối và bảo đảm liên tục chức năng quản lý; dữ liệu về tổ chức đánh giá đặt tại trường được tập trung ở mục WHO – Cơ sở GDNN.
Đối với Nhóm 3, dữ liệu khảo sát mới ghi nhận sự tham gia của cơ quan QLNN chủ yếu thông qua việc xây dựng chính sách và cơ chế hỗ trợ hoạt động đào tạo, phát triển kỹ năng nghề tại doanh nghiệp, chưa phản ánh rõ các hoạt động quản lý trực tiếp đối với từng hệ thống chứng nhận.
Trong các cuộc phỏng vấn, cơ quan QLNN được đề cập với vai trò xây dựng cơ chế thúc đẩy hợp tác giữa doanh nghiệp và cơ sở GDNN, trong đó có những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề (CĐ#7). Tuy nhiên, đối với các hoạt động đào tạo và chứng nhận nội bộ doanh nghiệp, chứng nhận của hãng công nghệ hoặc tổ chức quốc tế, dữ liệu được cung cấp chưa ghi nhận cụ thể những hoạt động như hướng dẫn, kiểm tra hoặc giám sát của cơ quan QLNN tại các đơn vị khảo sát. Tương tự, chưa có đủ thông tin phỏng vấn để đánh giá thực trạng thực hiện vai trò quản lý chuyên ngành đối với các chứng chỉ, thẻ được pháp luật quy định thuộc Tiểu nhóm 3.1. Vì vậy, sự tham gia của cơ quan QLNN đối với Nhóm 3 trong phạm vi khảo sát mới được phản ánh một phần, chủ yếu ở cấp độ chính sách hỗ trợ đào tạo và hợp tác giữa doanh nghiệp với cơ sở GDNN.
Nhìn chung, sự tham gia thực tế của cơ quan QLNN được phản ánh rõ nhất ở vai trò xây dựng chính sách, quy định và tổ chức quản lý hệ thống GDNN và chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia. Đối với Nhóm 3, dữ liệu khảo sát chủ yếu ghi nhận vai trò tạo lập cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp tham gia đào tạo, trong khi các hoạt động quản lý chuyên ngành và giám sát những hệ thống chứng nhận cụ thể chưa được phản ánh đầy đủ. Kết quả này cho thấy sự khác biệt về phạm vi hoạt động của cơ quan QLNN được nhận diện qua các cuộc phỏng vấn, không đủ căn cứ để kết luận về mức độ thực hiện đầy đủ trách nhiệm pháp lý hoặc hiệu quả QLNN trong từng hệ thống.
Cơ sở GDNN
Vai trò, trách nhiệm theo quy định pháp luật
Đối với Nhóm 1
Trong hệ thống GDNN, cơ sở GDNN là chủ thể trực tiếp tổ chức và chịu trách nhiệm về toàn bộ quá trình đào tạo, từ xây dựng chương trình, tuyển sinh, tổ chức dạy học đến đánh giá kết quả, bảo đảm chất lượng và phát triển quan hệ hợp tác với doanh nghiệp. Theo Luật GDNN số 124/2025/QH15 và các văn bản hướng dẫn, cơ sở GDNN được trao quyền tự chủ trong tổ chức hoạt động đào tạo, đồng thời chịu trách nhiệm trước pháp luật, cơ quan QLNN, người học và xã hội về chất lượng và kết quả đào tạo. Vai trò này được thể hiện chủ yếu ở năm phương diện: (i) xây dựng và phát triển chương trình, giáo trình đào tạo; (ii) tuyển sinh, tổ chức và quản lý quá trình đào tạo; (iii) kiểm tra, đánh giá và bảo đảm chất lượng đào tạo; (iv) hợp tác, liên kết đào tạo với doanh nghiệp và các tổ chức liên quan; và (v) quản lý thông tin, dữ liệu đào tạo và thực hiện trách nhiệm giải trình.
Xem chi tiết 5 phương diện vai trò của cơ sở GDNN đối với Nhóm 1
Thứ nhất, xây dựng, phát triển và cập nhật chương trình, giáo trình đào tạo: Cơ sở GDNN có quyền tự chủ trong việc biên soạn, thẩm định, lựa chọn và ban hành CTĐT, đồng thời chịu trách nhiệm bảo đảm chương trình đáp ứng chuẩn CTĐT theo quy định. Theo khoản 3 Điều 18 Luật GDNN năm 2025, cơ sở hoạt động GDNN tự chủ biên soạn, thẩm định, lựa chọn và ban hành CTĐT theo hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Các quy định tại Thông tư số 55/2026/TT-BGDĐT, Thông tư số 63/2026/TT-BGDĐT và Nghị định số 334/2026/NĐ-CP tiếp tục xác định trách nhiệm của cơ sở GDNN trong xây dựng chuẩn đầu ra, lựa chọn nội dung và phương pháp đào tạo, biên soạn giáo trình và phát triển học liệu. Cơ sở GDNN cũng có trách nhiệm định kỳ rà soát, cập nhật chương trình, giáo trình nhằm đáp ứng sự phát triển của khoa học, công nghệ và yêu cầu của hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Như vậy, cơ sở GDNN không chỉ thực hiện CTĐT mà còn trực tiếp quyết định nội dung và cách thức tổ chức đào tạo trong phạm vi quyền tự chủ được pháp luật quy định.
Thứ hai, tuyển sinh, tổ chức và quản lý quá trình đào tạo: Cơ sở GDNN có trách nhiệm xác định kế hoạch, chỉ tiêu và phương thức tuyển sinh phù hợp với năng lực đào tạo, đồng thời tổ chức thực hiện chương trình theo các điều kiện và yêu cầu bảo đảm chất lượng. Theo Điều 20 Luật GDNN năm 2025 và Thông tư số 76/2026/TT-BGDĐT, cơ sở GDNN tự chủ xác định số lượng tuyển sinh hằng năm, xây dựng kế hoạch tuyển sinh và đăng ký thông tin về CTĐT, điều kiện thực hiện chương trình trên cơ sở dữ liệu chuyên ngành trước khi tuyển sinh. Trong quá trình đào tạo, cơ sở GDNN xây dựng kế hoạch, tiến độ và phương thức tổ chức dạy học; quản lý hồ sơ, kết quả học tập và quá trình tham gia các hoạt động giáo dục của người học. Theo Thông tư số 79/2026/TT-BGDĐT, trách nhiệm quản lý này được thực hiện đối với cả thời gian học tập tại trường, thực hành, thực tập và tham gia đào tạo tại doanh nghiệp. Qua đó, cơ sở GDNN giữ vai trò điều phối và quản lý thống nhất toàn bộ quá trình học tập của người học.
Đối với chương trình liên kết đào tạo cấp văn bằng của cơ sở GDNN nước ngoài, vai trò chủ đạo của cơ sở GDNN Việt Nam được chia sẻ với đối tác nước ngoài theo nội dung liên kết và thẩm quyền cấp bằng. Cơ sở GDNN Việt Nam có thể giữ vai trò tổ chức và quản lý hoạt động đào tạo tại Việt Nam, trong khi cơ sở GDNN nước ngoài chịu trách nhiệm về chương trình, yêu cầu đánh giá hoặc cấp văn bằng thuộc hệ thống của mình.
Thứ ba, tổ chức đánh giá và bảo đảm chất lượng đào tạo: Cơ sở GDNN chịu trách nhiệm tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và duy trì các điều kiện bảo đảm chất lượng đối với CTĐT. Các quy định tại Thông tư số 79/2026/TT-BGDĐT giao cơ sở đào tạo xây dựng, lựa chọn đề thi, tổ chức đánh giá kết quả học tập, đánh giá thực tập và thực hiện các hoạt động chuyên môn theo quy chế đào tạo. Đối với những nội dung có yêu cầu đánh giá năng lực thực hành, cơ sở đào tạo có thể tổ chức đánh giá với sự tham gia của doanh nghiệp và chuyên gia nghề nghiệp theo quy định. Đồng thời, theo Điều 27 và Điều 29 Luật GDNN năm 2025, cơ sở GDNN có trách nhiệm xây dựng, vận hành hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, thực hiện tự đánh giá và tham gia kiểm định chất lượng theo quy định. Như vậy, trách nhiệm của cơ sở GDNN không chỉ giới hạn ở việc tổ chức đào tạo mà còn bao gồm đánh giá mức độ đạt chuẩn đầu ra và chịu trách nhiệm về chất lượng đào tạo.
Thứ tư, hợp tác, liên kết đào tạo với doanh nghiệp và các tổ chức liên quan: Cơ sở GDNN có trách nhiệm chủ động thiết lập và quản lý các hoạt động hợp tác nhằm gắn đào tạo với nhu cầu nhân lực và điều kiện thực hiện công việc trên thị trường lao động. Theo Điều 41 Luật GDNN năm 2025 và Thông tư số 72/2026/TT-BGDĐT, cơ sở GDNN chịu trách nhiệm tổ chức, quản lý và bảo đảm chất lượng hoạt động hợp tác, liên kết đào tạo. Đối với đào tạo tại doanh nghiệp, Thông tư số 79/2026/TT-BGDĐT quy định cơ sở đào tạo chủ trì xây dựng kế hoạch, nội dung và phương thức tổ chức đào tạo; phân công nhà giáo hoặc cán bộ chuyên môn phối hợp theo dõi, hướng dẫn và đánh giá quá trình học tập của người học tại doanh nghiệp. Cơ sở GDNN đồng thời phối hợp với doanh nghiệp trong quản lý tiến độ, kiểm soát chất lượng, bảo đảm quyền lợi và an toàn của người học. Trong các hoạt động hợp tác này, cơ sở GDNN tiếp tục giữ trách nhiệm quản lý chương trình và chất lượng đào tạo theo phạm vi pháp luật quy định.
Thứ năm, quản lý dữ liệu đào tạo, công khai thông tin và thực hiện trách nhiệm giải trình: Cơ sở GDNN có trách nhiệm tạo lập, cập nhật, lưu trữ và quản lý đầy đủ dữ liệu về chương trình, tuyển sinh, quá trình học tập và kết quả đào tạo. Theo Nghị định số 88/2026/NĐ-CP, cơ sở đào tạo phải bảo đảm tính chính xác, đầy đủ của dữ liệu, đồng thời thực hiện kết nối, chia sẻ và đồng bộ dữ liệu với các hệ thống quản lý giáo dục theo quy định. Thông tư số 79/2026/TT-BGDĐT cũng quy định trách nhiệm công khai chương trình, quy chế đào tạo, điều kiện bảo đảm chất lượng và cập nhật dữ liệu đào tạo trên hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Bên cạnh trách nhiệm quản lý thông tin, cơ sở GDNN phải giải trình với cơ quan QLNN, người học và xã hội về hoạt động tổ chức, quản lý và chất lượng đào tạo. Đây là một bộ phận của trách nhiệm tự chủ, gắn quyền quyết định của cơ sở đào tạo với yêu cầu minh bạch và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động.
Đối với hệ thống văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận thuộc Nhóm 1, cơ sở GDNN là chủ thể trực tiếp đánh giá, công nhận kết quả học tập, quyết định công nhận tốt nghiệp và cấp, quản lý các văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận thuộc thẩm quyền theo quy định pháp luật. Bên cạnh việc xác nhận kết quả hoàn thành CTĐT, cơ sở GDNN còn có trách nhiệm xem xét công nhận, chuyển đổi những kết quả học tập và năng lực nghề nghiệp người học đã tích lũy trước đó, bảo đảm việc xác nhận kết quả gắn với chuẩn đầu ra và yêu cầu của chương trình tiếp nhận. Theo Luật GDNN năm 2025, Thông tư số 10/2026/TT-BGDĐT và Thông tư số 79/2026/TT-BGDĐT, vai trò này được thể hiện chủ yếu ở bốn phương diện: (i) xét công nhận tốt nghiệp và cấp văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận; (ii) công nhận, chuyển đổi kết quả học tập và năng lực nghề nghiệp đã tích lũy; (iii) quản lý việc cấp, cấp lại, chỉnh sửa, thu hồi và xác thực văn bằng, chứng chỉ; và (iv) quản lý, số hóa và công khai dữ liệu văn bằng, chứng chỉ.
Xem chi tiết 4 phương diện vai trò cấp và quản lý VBCN của cơ sở GDNN
Thứ nhất, xét công nhận tốt nghiệp và cấp văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận theo thẩm quyền: Cơ sở GDNN có trách nhiệm xác định người học đáp ứng yêu cầu hoàn thành chương trình, tổ chức xét công nhận tốt nghiệp và cấp văn bằng, chứng chỉ tương ứng. Theo khoản 3 Điều 6 Luật GDNN năm 2025, người đứng đầu cơ sở hoạt động GDNN có thẩm quyền cấp bằng cao đẳng, bằng trung cấp, bằng trung học nghề, chứng chỉ sơ cấp và chứng chỉ đào tạo đối với người học đáp ứng các điều kiện tương ứng. Đối với chương trình giáo dục trung học nghề, pháp luật còn quy định việc cấp giấy chứng nhận hoàn thành chương trình trong những trường hợp người học chưa đạt yêu cầu để được cấp bằng tốt nghiệp. Theo Thông tư số 79/2026/TT-BGDĐT, người học chưa tốt nghiệp có thể được cấp giấy chứng nhận kết quả học tập các môn học, mô-đun đã tích lũy hoặc được xác nhận quá trình tham gia học tập theo quy định. Như vậy, cơ sở GDNN thực hiện chức năng xác nhận chính thức kết quả đào tạo ở những phạm vi khác nhau, từ kết quả hoàn thành chương trình đến những nội dung học tập đã tích lũy.
Thứ hai, xem xét công nhận, chuyển đổi kết quả học tập và năng lực nghề nghiệp đã tích lũy: Cơ sở GDNN có trách nhiệm đánh giá và quyết định công nhận những kết quả học tập, năng lực nghề nghiệp đã tích lũy của người học khi tham gia CTĐT mới, chuyển chương trình hoặc tiếp tục học tập. Theo khoản 4 Điều 20 Luật GDNN năm 2025 và Điều 37 Thông tư số 79/2026/TT-BGDĐT, cơ sở đào tạo được giao trách nhiệm ban hành quy định về công nhận, chuyển đổi kết quả học tập, trong đó xác định nguyên tắc, tiêu chí, điều kiện, phương thức và quy trình đánh giá. Đối với việc công nhận năng lực nghề nghiệp đã tích lũy, cơ sở đào tạo thành lập Hội đồng đánh giá năng lực nghề nghiệp, có sự tham gia của người sử dụng lao động, hiệp hội nghề nghiệp hoặc chuyên gia thực tiễn theo tỷ lệ quy định. Trên cơ sở kết quả đánh giá, cơ sở GDNN quyết định phạm vi kết quả học tập được công nhận và lưu trữ hồ sơ, minh chứng liên quan. Trong trường hợp này, cơ sở GDNN không chỉ công nhận kết quả học tập được hình thành trong hệ thống đào tạo mà còn thực hiện vai trò đánh giá, xem xét công nhận năng lực nghề nghiệp tích lũy từ những hình thức học tập và làm việc khác theo quy định.
Thứ ba, quản lý việc cấp, cấp lại, chỉnh sửa, thu hồi và xác thực văn bằng, chứng chỉ: Cơ sở GDNN chịu trách nhiệm tổ chức và kiểm soát việc cấp phát, quản lý văn bằng, chứng chỉ trong phạm vi thẩm quyền, bảo đảm tính chính xác và hợp pháp của thông tin được xác nhận. Theo Thông tư số 10/2026/TT-BGDĐT, cơ sở có thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ thực hiện việc thiết kế, phê duyệt và công khai mẫu văn bằng, chứng chỉ theo quy định; quản lý việc in, cấp phát, lập sổ gốc và lưu trữ hồ sơ. Đồng thời, cơ sở cấp văn bằng, chứng chỉ có trách nhiệm thực hiện các thủ tục cấp bản sao từ sổ gốc, cấp lại, chỉnh sửa, thu hồi hoặc hủy bỏ văn bằng, chứng chỉ theo những điều kiện và thẩm quyền được quy định. Đối với hoạt động liên kết đào tạo, cơ sở chủ trì có trách nhiệm quản lý hồ sơ và thực hiện việc công nhận tốt nghiệp, cấp văn bằng, chứng chỉ theo quy định tại Thông tư số 72/2026/TT-BGDĐT. Những trách nhiệm này xác định cơ sở GDNN là chủ thể chịu trách nhiệm trực tiếp về tính hợp lệ và khả năng xác minh của văn bằng, chứng chỉ do mình cấp.
Thứ tư, quản lý, số hóa và công khai thông tin văn bằng, chứng chỉ: Cơ sở GDNN có trách nhiệm tạo lập, cập nhật và quản lý dữ liệu văn bằng, chứng chỉ, bảo đảm thông tin được lưu trữ và có thể kiểm tra, xác thực theo quy định. Theo Thông tư số 10/2026/TT-BGDĐT, cơ sở cấp văn bằng, chứng chỉ phải công khai mẫu văn bằng, chứng chỉ, thông tin cấp phát và địa chỉ tra cứu, xác minh trên trang thông tin điện tử. Nghị định số 88/2026/NĐ-CP quy định trách nhiệm số hóa dữ liệu, chuẩn hóa thông tin và tạo lập dữ liệu phục vụ quản lý hồ sơ học tập suốt đời của người học. Đồng thời, Thông tư số 79/2026/TT-BGDĐT yêu cầu cơ sở đào tạo cập nhật dữ liệu đào tạo, quản lý sổ gốc, hồ sơ công nhận tốt nghiệp và kết quả học tập theo chế độ lưu trữ. Qua đó, cơ sở GDNN giữ vai trò cung cấp và quản lý nguồn dữ liệu chính thức về những kết quả học tập đã được đánh giá, công nhận và cấp văn bằng, chứng chỉ trong hệ thống GDNN.
Đối với Nhóm 2
Trong hệ thống chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia (Nhóm 2), cơ sở GDNN có thể tham gia xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề, tổ chức đánh giá kỹ năng nghề quốc gia khi đáp ứng điều kiện và được cấp phép, cung cấp nhân sự tham gia đánh giá, đồng thời sử dụng kết quả chứng nhận kỹ năng nghề để xem xét công nhận kết quả học tập trong CTĐT. Khác với Nhóm 1, cơ sở GDNN không mặc nhiên có thẩm quyền tổ chức đánh giá và cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia từ chức năng đào tạo của mình, mà phải đáp ứng các điều kiện và thực hiện theo cơ chế quản lý riêng của hệ thống Nhóm 2. Vai trò của cơ sở GDNN được thể hiện ở bốn phương diện sau.
Xem chi tiết 4 phương diện vai trò của cơ sở GDNN đối với Nhóm 2
Thứ nhất, tham gia xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia: Cơ sở GDNN là một trong những chủ thể có thể tham gia xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, đóng góp kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm đào tạo và hiểu biết về năng lực thực hiện công việc trong từng ngành, nghề. Theo khoản 3 Điều 12 Nghị định số 138/2026/NĐ-CP, đối với các nghề không thuộc danh mục bắt buộc phải có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, cơ sở giáo dục cùng các bộ, ngành, doanh nghiệp và hiệp hội có thể tổ chức xây dựng tiêu chuẩn để đề nghị Bộ Nội vụ thẩm định, công bố. Bên cạnh đó, theo khoản 2 Điều 9 của Nghị định này, tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia là một nguồn tham khảo khi xây dựng chuẩn CTĐT và CTĐT. Như vậy, cơ sở GDNN có thể tham gia vào quá trình phát triển tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, đồng thời sử dụng các tiêu chuẩn đã được công bố để tham chiếu trong hoạt động phát triển CTĐT thuộc thẩm quyền.
Thứ hai, tổ chức đánh giá kỹ năng nghề quốc gia khi đáp ứng điều kiện và được cấp phép: Cơ sở GDNN có thể tham gia hệ thống đánh giá kỹ năng nghề quốc gia với tư cách tổ chức đánh giá được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận hoạt động. Theo Điều 25 Luật Việc làm số 74/2025/QH15 và Điều 13 Nghị định số 138/2026/NĐ-CP, tổ chức muốn thực hiện hoạt động đánh giá phải đáp ứng các điều kiện về tư cách pháp nhân, chức năng hoạt động phù hợp, cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân sự đánh giá và các điều kiện kỹ thuật liên quan. Khi được cấp phép, tổ chức có trách nhiệm lập kế hoạch, chuẩn bị các điều kiện tổ chức kỳ đánh giá, thành lập Ban giám khảo, phối hợp với bộ phận giám sát và thực hiện đánh giá kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành, yêu cầu an toàn nghề nghiệp của người tham dự theo tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia. Tổ chức đánh giá thực hiện tổng hợp và công nhận kết quả đánh giá theo quy trình quy định tại Điều 19 Nghị định số 138/2026/NĐ-CP. Trong trường hợp này, cơ sở GDNN thực hiện một chức năng đánh giá năng lực nghề nghiệp độc lập với việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập để cấp văn bằng, chứng chỉ thuộc hệ thống GDNN.
Thứ ba, cung cấp đội ngũ chuyên môn tham gia hoạt động đánh giá kỹ năng nghề quốc gia: Nhà giáo và cán bộ chuyên môn của cơ sở GDNN có thể tham gia với tư cách đánh giá viên kỹ năng nghề quốc gia khi đáp ứng các yêu cầu về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm làm việc, năng lực nghề nghiệp và nghiệp vụ đánh giá theo quy định. Điều 14 Nghị định số 138/2026/NĐ-CP quy định các điều kiện cụ thể đối với đánh giá viên ở từng bậc trình độ kỹ năng nghề, trong đó có những phương án đáp ứng điều kiện dành cho người đang giảng dạy tại cơ sở GDNN. Theo đó, cơ sở GDNN có thể đóng góp nguồn nhân lực chuyên môn cho hệ thống đánh giá kỹ năng nghề quốc gia thông qua đội ngũ nhà giáo, cán bộ giảng dạy có kinh nghiệm thực tiễn và đáp ứng yêu cầu của hoạt động đánh giá. Tuy nhiên, tư cách nhà giáo GDNN không đồng nghĩa với việc đương nhiên đủ điều kiện trở thành đánh giá viên kỹ năng nghề quốc gia.
Thứ tư, xem xét công nhận kết quả học tập và năng lực nghề nghiệp của người có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia: Cơ sở GDNN có vai trò tiếp nhận, đánh giá và quyết định công nhận kết quả học tập đối với người đã được cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia khi tiếp tục tham gia các CTĐT thuộc hệ thống GDNN. Theo khoản 5 Điều 25 Nghị định số 138/2026/NĐ-CP, người có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia được xem xét công nhận tín chỉ, học phần hoặc miễn trừ một số nội dung học tập theo quyết định của người đứng đầu cơ sở giáo dục có thẩm quyền. Điều 37 Thông tư số 79/2026/TT-BGDĐT tiếp tục quy định cơ sở GDNN có trách nhiệm ban hành quy trình công nhận, tổ chức đánh giá năng lực nghề nghiệp thực tế thông qua Hội đồng đánh giá có sự tham gia của doanh nghiệp hoặc chuyên gia phù hợp, và quyết định công nhận kết quả học tập trên cơ sở mức độ đáp ứng nội dung, mục tiêu, chuẩn đầu ra của môn học, mô-đun tương ứng. Trong trường hợp này, cơ sở GDNN giữ vai trò là bên tiếp nhận và đánh giá kết quả kỹ năng nghề đã được công nhận ở hệ thống Nhóm 2 để xem xét sử dụng trong CTĐT thuộc Nhóm 1, không thực hiện việc chuyển đổi trực tiếp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia thành văn bằng GDNN.
Đối với Nhóm 3
Trong hệ thống chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận gắn với thị trường lao động (Nhóm 3), cơ sở GDNN có vai trò cung cấp dịch vụ đào tạo, đánh giá năng lực nghề nghiệp và phối hợp với doanh nghiệp, tổ chức chuyên môn trong việc cấp hoặc xác nhận kết quả đào tạo, kỹ năng nghề của người lao động. Vai trò này được thực hiện theo hai cơ chế khác nhau: đối với các thẻ, chứng chỉ chuyên ngành được pháp luật quy định (Tiểu nhóm 3.1), cơ sở GDNN chỉ được tổ chức đào tạo, đánh giá hoặc cấp chứng chỉ khi đáp ứng điều kiện và được cơ quan có thẩm quyền cho phép, công nhận hoặc giao thực hiện theo quy định tương ứng; đối với các Tiểu nhóm 3.2–3.7, cơ sở GDNN có thể hợp tác với doanh nghiệp, hãng công nghệ và các tổ chức liên quan để triển khai CTĐT, đánh giá và cấp chứng nhận theo thỏa thuận, trong phạm vi chức năng và điều kiện hoạt động của mình. Vai trò của cơ sở GDNN được thể hiện ở ba phương diện sau.
Xem chi tiết 3 phương diện vai trò của cơ sở GDNN đối với Nhóm 3
Thứ nhất, tổ chức đào tạo, đánh giá và tham gia cấp chứng chỉ chuyên ngành khi đáp ứng các điều kiện pháp luật quy định: Cơ sở GDNN có thể tham gia hoạt động đào tạo, đánh giá để cấp các thẻ, chứng chỉ thuộc Tiểu nhóm 3.1 khi đáp ứng điều kiện đối với tổ chức đào tạo theo quy định chuyên ngành, không đương nhiên có thẩm quyền từ chức năng đào tạo GDNN thông thường. Chẳng hạn, trong lĩnh vực sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, Thông tư số 53/2025/TT-BCT quy định cơ sở đào tạo quản lý năng lượng phải tổ chức đào tạo theo chương trình do Bộ Công Thương ban hành, thực hiện đánh giá năng lực, cấp giấy chứng nhận hoàn thành khóa đào tạo và đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp chứng chỉ quản lý năng lượng cho học viên đủ điều kiện. Đối với đào tạo kiểm toán viên năng lượng, cơ sở đào tạo đủ điều kiện có trách nhiệm tổ chức đào tạo, đánh giá năng lực và trực tiếp cấp chứng chỉ kiểm toán viên năng lượng cho người đạt yêu cầu theo quy định tại Điều 15 của Thông tư. Cơ sở đào tạo đồng thời phải thực hiện trách nhiệm quản lý, lưu trữ hồ sơ học viên, hồ sơ đào tạo và thông tin cấp chứng chỉ. Như vậy, vai trò của cơ sở GDNN đối với Tiểu nhóm 3.1 phụ thuộc vào việc đáp ứng các điều kiện hoạt động chuyên ngành và phạm vi thẩm quyền được pháp luật xác lập đối với từng loại chứng chỉ.
Thứ hai, phối hợp với doanh nghiệp và các tổ chức liên quan tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá và chứng nhận năng lực theo yêu cầu thị trường lao động: Đối với các Tiểu nhóm 3.2–3.7, cơ sở GDNN có thể tham gia với tư cách đơn vị cung cấp dịch vụ đào tạo hoặc đối tác phối hợp thực hiện các CTĐT, bồi dưỡng kỹ năng nghề do doanh nghiệp, hãng công nghệ, hiệp hội hoặc tổ chức quốc tế xây dựng, đặt hàng hay hỗ trợ triển khai. Theo Điều 34 Luật GDNN số 124/2025/QH15 và Điều 4 Nghị định số 308/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp được khuyến khích hợp tác với cơ sở GDNN trong đào tạo, đào tạo lại, nâng cao kỹ năng nghề, đánh giá kết quả học tập và phát triển các kỹ năng mới, trong đó có kỹ năng số và kỹ năng xanh. Trong các chương trình hợp tác, cơ sở GDNN có thể tham gia xây dựng nội dung đào tạo, bố trí đội ngũ giảng dạy, tổ chức thực hành, đánh giá kết quả và phối hợp xác nhận năng lực đã đạt được của người học. Tùy thuộc vào thỏa thuận hợp tác và thẩm quyền của các bên, kết quả đào tạo có thể được xác nhận hoặc cấp chứng nhận bởi cơ sở GDNN, doanh nghiệp, hãng công nghệ hoặc các bên phối hợp. Tuy nhiên, việc tham gia tổ chức đào tạo không mặc nhiên trao cho cơ sở GDNN quyền cấp chứng nhận theo tiêu chuẩn riêng của doanh nghiệp hoặc tổ chức quốc tế nếu chưa được bên sở hữu hệ thống chứng nhận chấp thuận hoặc ủy quyền.
Thứ ba, tiếp nhận, đánh giá và công nhận kết quả học tập, kỹ năng nghề đã tích lũy trong doanh nghiệp để phục vụ việc tiếp tục đào tạo: Bên cạnh vai trò cung cấp dịch vụ đào tạo cho thị trường lao động, cơ sở GDNN còn có trách nhiệm xem xét công nhận năng lực nghề nghiệp đã tích lũy thông qua quá trình đào tạo, làm việc và thực hành nghề tại doanh nghiệp khi người lao động tham gia chương trình GDNN. Theo Điều 37 Thông tư số 79/2026/TT-BGDĐT, cơ sở đào tạo thành lập Hội đồng đánh giá năng lực nghề nghiệp với sự tham gia của đại diện doanh nghiệp hoặc chuyên gia phù hợp, tổ chức đánh giá và quyết định công nhận kết quả học tập theo yêu cầu của CTĐT. Trong trường hợp này, cơ sở GDNN giữ vai trò là bên tiếp nhận và đánh giá những kết quả đào tạo, kỹ năng nghề hình thành trên thị trường lao động, qua đó kết nối hoạt động đào tạo tại doanh nghiệp với hệ thống GDNN. Đây là trách nhiệm công nhận kết quả học tập thuộc thẩm quyền của cơ sở GDNN, không phải thẩm quyền chuyển đổi trực tiếp các chứng nhận của doanh nghiệp thành văn bằng, chứng chỉ thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.
Nhìn chung, cơ sở GDNN giữ vai trò trực tiếp trong tổ chức đào tạo, đánh giá, công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy, đồng thời tham gia vào các hoạt động đánh giá, chứng nhận năng lực nghề nghiệp thuộc cả ba hệ thống với phạm vi và thẩm quyền khác nhau. Đối với Nhóm 1, cơ sở GDNN là chủ thể trực tiếp tổ chức đào tạo, công nhận kết quả học tập, cấp và quản lý văn bằng, chứng chỉ theo quy định. Đối với Nhóm 2, cơ sở GDNN có thể tham gia xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, cung cấp đội ngũ đánh giá viên và tổ chức đánh giá khi được cấp phép, nhưng không mặc nhiên có thẩm quyền cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia. Đối với Nhóm 3, cơ sở GDNN có thể tổ chức đào tạo, đánh giá để cấp chứng chỉ chuyên ngành khi đáp ứng điều kiện và được cơ quan có thẩm quyền cho phép, đồng thời hợp tác với doanh nghiệp, hãng công nghệ và các tổ chức liên quan trong đào tạo, đánh giá và chứng nhận năng lực theo chương trình, tiêu chuẩn riêng. Xuyên suốt ba hệ thống, cơ sở GDNN vừa là chủ thể cung cấp và xác nhận kết quả đào tạo, vừa là bên tiếp nhận, đánh giá và xem xét công nhận kết quả học tập, kỹ năng nghề đã tích lũy từ các hệ thống khác theo thẩm quyền.
Thực trạng tham gia
Kết quả khảo sát cho thấy cơ sở GDNN giữ vai trò chủ đạo trong tổ chức đào tạo, đánh giá và cấp văn bằng, chứng chỉ thuộc Nhóm 1; đồng thời thể hiện sự tham gia tương đối tích cực, chủ động và đa dạng trong các hoạt động đào tạo, chứng nhận gắn với thị trường lao động thuộc Nhóm 3. Trong khi đó, sự tham gia đối với hệ thống chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia (Nhóm 2) được ghi nhận nhưng phạm vi hoạt động còn tương đối hạn chế. Đáng chú ý, tại một số cơ sở GDNN được khảo sát, vai trò của nhà trường không chỉ dừng lại ở việc thực hiện CTĐT theo quy định mà đã mở rộng sang chủ động thiết kế mô hình đào tạo, phát triển chương trình đáp ứng công nghệ mới, tổ chức đào tạo theo đặt hàng và xây dựng mạng lưới hợp tác với doanh nghiệp, tổ chức chuyên môn trong và ngoài nước.
Xem chi tiết thực trạng tham gia của cơ sở GDNN
Đối với Nhóm 1, cơ sở GDNN là chủ thể chủ trì toàn bộ hoạt động tổ chức đào tạo, đánh giá và cấp văn bằng, chứng chỉ; trong đó, một số trường đã thể hiện tính chủ động và sáng tạo đáng chú ý trong phát triển chương trình và đổi mới phương thức tổ chức đào tạo. Bên cạnh việc tự chủ xây dựng, rà soát và cập nhật chương trình, các cơ sở được khảo sát đã triển khai những cách tiếp cận khác nhau để nâng cao tính thực tiễn, tính linh hoạt và khả năng đáp ứng yêu cầu công việc của CTĐT. Các sáng kiến được ghi nhận bao gồm tích hợp kỹ năng xanh, kỹ năng số vào chương trình; tổ chức đào tạo phối hợp giữa trường và doanh nghiệp; thiết kế chương trình có tính kế thừa giữa các trình độ; và áp dụng những phương thức quản lý, bảo đảm chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế. Mặc dù mức độ triển khai khác nhau giữa các trường, những trường hợp này phản ánh vai trò chủ động của cơ sở GDNN trong định hướng, tổ chức và phát triển hoạt động đào tạo thuộc thẩm quyền.
Sự chủ động của cơ sở GDNN còn thể hiện ở việc đưa yêu cầu kỹ năng mới vào quyết định phát triển chương trình. Tại CĐ#2–3 và CĐ#4–5, lãnh đạo trường chỉ đạo tích hợp yêu cầu chuyển đổi xanh, chuyển đổi số vào CTĐT năm học 2025–2026 và xây dựng môn học về kinh tế số, kỹ năng số. CĐ#17 chủ động xây dựng sổ tay hướng dẫn tích hợp chuyển đổi xanh. Các trường hợp này cho thấy vai trò của nhà trường trong cụ thể hóa định hướng đổi mới thành nội dung và công cụ triển khai; dữ liệu về đầu ra của mô-đun tại CĐ#1 đã được tập trung ở Lộ trình 2D.
Ở các mô hình đào tạo phối hợp, cơ sở GDNN giữ trách nhiệm thiết kế, quản lý CTĐT và điều phối hoạt động học tập giữa nhà trường với doanh nghiệp. Phân công này cho thấy trường không chỉ bố trí thực tập cuối khóa mà còn tổ chức lại địa điểm và tiến trình đào tạo. Trách nhiệm thực hiện phần học tại doanh nghiệp được trình bày trong mục WHO – Doanh nghiệp; cách sử dụng kết quả thực tập được phân tích ở HOW – Từ Nhóm 3 sang Nhóm 1.
Bên cạnh đổi mới cách tổ chức học tập, CĐ#14–15 chủ động triển khai kiểm định theo tiêu chuẩn ABET cho một số ngành kỹ thuật và áp dụng công cụ quản trị số, cải tiến liên tục trong quản lý đào tạo. Đây là dữ liệu về vai trò phát triển năng lực quản trị và bảo đảm chất lượng của trường. Trường hợp thiết kế CTĐT kế thừa của CĐ#12 được tập trung ở HOW – Liên thông giữa các trình độ để làm rõ lợi ích đối với tích lũy và công nhận kết quả. Các sáng kiến được ghi nhận tại những trường cụ thể, chưa đại diện cho toàn bộ hệ thống.
Đối với Nhóm 2, các cơ sở GDNN có thể tham gia thông qua tổ chức đánh giá được cấp phép và đội ngũ chuyên môn. Dữ liệu HH#1, CĐ#17 ghi nhận tổ chức đánh giá đặt tại một số trường, nhưng chưa cho thấy việc mở rộng đối tượng, tổ chức đánh giá thường xuyên cho người lao động hoặc gắn kết với nhu cầu doanh nghiệp được triển khai đa dạng. Vì vậy, phạm vi vai trò vận hành của trường trong khảo sát còn hẹp hơn so với các hoạt động thuộc Nhóm 1 và Nhóm 3. Đối tượng sử dụng chứng chỉ và ý nghĩa đối với nhà giáo được phân tích riêng ở HOW – Nhóm 2 sang Nhóm 3.
Đối với Nhóm 3, các cơ sở GDNN được khảo sát thể hiện sự chủ động và linh hoạt khá rõ nét trong việc mở rộng hoạt động đào tạo, đánh giá và chứng nhận theo nhu cầu doanh nghiệp, đặc biệt ở các CTĐT ngắn hạn, đào tạo theo đặt hàng và hợp tác với hãng công nghệ.
Dữ liệu khảo sát cho thấy một số trường đã chủ động phát triển các trung tâm đào tạo, chương trình bồi dưỡng chuyên sâu và mạng lưới hợp tác nhằm cung cấp dịch vụ đào tạo ngoài các chương trình cấp văn bằng chính quy. Sự tham gia này nổi bật ở khả năng của nhà trường trong việc xác định yêu cầu đào tạo, thiết kế nội dung phù hợp, huy động đội ngũ giảng viên và điều kiện thực hành, đồng thời phối hợp với đối tác tổ chức đánh giá và xác nhận kết quả đào tạo. Các hoạt động được ghi nhận chủ yếu thuộc những CTĐT theo yêu cầu doanh nghiệp và chứng nhận theo tiêu chuẩn của hãng hoặc tổ chức đối tác.
Từ góc độ phân vai, trường chủ động chuyển yêu cầu của doanh nghiệp thành chương trình phù hợp, thay vì chỉ cung cấp khóa học có sẵn. CĐ#6 mô tả: "Nhà trường thiết kế theo kiểu là tailor-made, là may đo, là bây giờ doanh nghiệp cần cái gì thì nhà trường thiết kế cái đấy". CĐ#14–15 cho phép doanh nghiệp lựa chọn mô-đun hiện có hoặc cùng thiết kế mô-đun mới, đồng thời tổ chức đào tạo linh hoạt theo nhu cầu đăng ký, không nhất thiết chờ hình thành lớp theo quy mô thông thường. Các ví dụ về quy trình khảo sát, thời lượng khóa học và đào tạo kỹ thuật viên điện lực được giữ tại WHAT – Tiểu nhóm 3.4.
Trong hợp tác với DN#5, cơ sở GDNN phát triển đội ngũ để trở thành đơn vị trực tiếp triển khai chương trình theo tiêu chuẩn hãng. Giảng viên được lựa chọn, bồi dưỡng chuyên sâu và đánh giá; người đạt yêu cầu được hãng ủy quyền giảng dạy tại trường hoặc hỗ trợ đào tạo mạng lưới kỹ thuật viên, đại lý và dịch vụ. CĐ#1, CĐ#8 ghi nhận có giảng viên được ủy quyền và giấy chứng nhận khóa học có xác nhận của trường và hãng. Theo DN#5, hợp tác có sự tham gia của gần 50 trường cao đẳng. Dữ liệu này làm rõ điều kiện và năng lực của bên thực hiện đào tạo, khác với phạm vi sử dụng chứng nhận của người học được trình bày ở HOW.
Trong hợp tác quốc tế, trường vẫn quản lý CTĐT, huy động giảng viên và cơ sở vật chất, đồng thời phối hợp đối tác thực hiện đánh giá theo thỏa thuận. CĐ#6 tham gia đào tạo phối hợp với doanh nghiệp và tổ chức đối tác quốc tế; CĐ#1 hợp tác với GIZ về CTĐT theo tiêu chuẩn Đức và chương trình kỹ thuật viên vận hành, bảo trì điện gió. Đây là bằng chứng về năng lực kết nối và tổ chức của trường. Cấu trúc kết quả được cấp được trình bày ở Lộ trình 2E, còn phạm vi hỗ trợ của đối tác được tập trung ở mục WHO – Đối tác quốc tế và tổ chức phát triển.
Đối với Tiểu nhóm 3.1, dữ liệu đã có ví dụ trường tham gia huấn luyện và sát hạch an toàn được trình bày ở WHAT. Tuy nhiên, các trường hợp này chưa đủ để đánh giá toàn diện phạm vi tham gia của cơ sở GDNN trong từng loại thẻ, chứng chỉ chuyên ngành; vai trò cụ thể phải được đọc cùng điều kiện và thẩm quyền tương ứng.
Tuy nhiên, bên cạnh những mô hình hợp tác chủ động và sáng tạo, một số bên liên quan nhận xét rằng sự tham gia của cơ sở GDNN trong hợp tác với doanh nghiệp vẫn chưa đồng đều và chưa thực sự chuyển từ phối hợp mang tính hỗ trợ sang hợp tác thực chất trong tổ chức đào tạo. Số lượng các trường có hoạt động đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp còn chưa nhiều, sự tham gia của cơ sở GDNN vào hoạt động đào tạo nội bộ của doanh nghiệp không phải là thực tiễn phổ biến được ghi nhận trong dữ liệu khảo sát.
Một số đại diện doanh nghiệp và cơ sở GDNN cho rằng CTĐT tại một số trường còn thiên về lý thuyết, việc cập nhật công nghệ, thiết bị và nội dung thực hành chưa theo kịp yêu cầu của môi trường sản xuất (DN#2, DN#3, CĐ#7). Về phương thức hợp tác, một số trường còn ở vị thế chủ yếu tìm kiếm sự hỗ trợ từ doanh nghiệp, chưa chủ động đề xuất những hoạt động hợp tác cụ thể mà nhà trường có thể đóng góp cho doanh nghiệp (HH#3, QT#2); nhận định này cũng được một đại diện doanh nghiệp đề cập khi cho rằng chưa có nhiều trường chủ động liên hệ và đề xuất hợp tác (DN#7). Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp phản ánh sự phối hợp giữa các bộ phận chuyên môn và hành chính của nhà trường chưa linh hoạt khi triển khai dịch vụ đào tạo theo đặt hàng (DN#5), hoặc việc bố trí thời gian, số lượng sinh viên thực tập chưa phù hợp với khả năng tiếp nhận của đơn vị phối hợp (DN#4). Một số ý kiến cũng đề nghị cơ sở GDNN quan tâm hơn đến việc chuẩn bị tác phong công nghiệp, ý thức kỷ luật và tuân thủ an toàn lao động cho người học trước khi tham gia đào tạo, thực tập tại doanh nghiệp (DN#6, CĐ#4–5).
Nhìn chung, kết quả khảo sát cho thấy cơ sở GDNN không chỉ thực hiện vai trò tổ chức đào tạo và cấp văn bằng, chứng chỉ trong hệ thống giáo dục quốc dân mà một số trường đã chủ động mở rộng hoạt động sang đào tạo, đánh giá và chứng nhận năng lực phục vụ thị trường lao động. Trong Nhóm 1, tính chủ động được thể hiện rõ qua việc phát triển chương trình, đổi mới phương thức tổ chức đào tạo, tích hợp kỹ năng mới và nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm chất lượng. Trong Nhóm 3, sự tham gia tích cực được phản ánh qua khả năng thiết kế đào tạo theo đặt hàng, phát triển đội ngũ giảng viên được hãng ủy quyền và triển khai các chương trình phối hợp với doanh nghiệp, tổ chức quốc tế. Ngược lại, hoạt động trong Nhóm 2 được ghi nhận chủ yếu ở một số cơ sở có chức năng tổ chức đánh giá kỹ năng nghề quốc gia và đội ngũ nhà giáo tham gia đánh giá, chưa thể hiện sự đa dạng tương tự. Tuy nhiên, những mô hình tích cực được nhận diện chủ yếu từ các cơ sở GDNN tham gia khảo sát, chưa đủ căn cứ để xác định mức độ phổ biến hoặc đại diện cho toàn bộ hệ thống GDNN.
Doanh nghiệp
Vai trò, trách nhiệm theo quy định pháp luật
Đối với Nhóm 1
Trong hệ thống văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận thuộc Nhóm 1, doanh nghiệp giữ vai trò là bên tham gia, phối hợp với cơ sở GDNN trong xây dựng chương trình, tổ chức đào tạo, hướng dẫn thực hành, thực tập, đánh giá kết quả học tập và bảo đảm chất lượng đào tạo. Theo Luật GDNN số 124/2025/QH15 và Nghị định số 308/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp có trách nhiệm tham gia hoạt động GDNN theo quy định và được khuyến khích mở rộng hợp tác với cơ sở đào tạo trong phát triển nguồn nhân lực, ứng dụng công nghệ và nâng cao chất lượng đào tạo. Khác với cơ sở GDNN là chủ thể chịu trách nhiệm tổ chức chương trình và cấp văn bằng, chứng chỉ thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, doanh nghiệp tham gia với tư cách bên phối hợp, cung cấp yêu cầu năng lực nghề nghiệp, điều kiện thực hành và nguồn lực chuyên môn phục vụ đào tạo.
Xem chi tiết 5 phương diện vai trò của doanh nghiệp đối với Nhóm 1
Thứ nhất, tham gia xây dựng, rà soát và cập nhật CTĐT, chuẩn đầu ra: Doanh nghiệp có vai trò cung cấp thông tin về yêu cầu năng lực nghề nghiệp, vị trí việc làm, quy trình công nghệ và kỹ năng cần thiết để cơ sở GDNN xây dựng, điều chỉnh CTĐT. Theo khoản 4 Điều 34 Luật GDNN năm 2025, doanh nghiệp có trách nhiệm tham gia xây dựng chương trình, giáo trình đào tạo. Điểm b khoản 1 Điều 4 Nghị định số 308/2026/NĐ-CP tiếp tục khuyến khích doanh nghiệp tham gia rà soát, đề xuất cập nhật danh mục ngành, nghề, CTĐT, chuẩn đầu ra, giáo trình, học liệu và phương pháp đào tạo phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động. Trong hoạt động này, doanh nghiệp là bên đóng góp các yêu cầu chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn, còn cơ sở GDNN chịu trách nhiệm xây dựng, thẩm định và ban hành chương trình theo thẩm quyền.
Thứ hai, phối hợp tổ chức đào tạo, hướng dẫn thực hành, thực tập tại doanh nghiệp: Doanh nghiệp có trách nhiệm bố trí nhân sự chuyên môn, tiếp nhận người học và nhà giáo tham gia các hoạt động thực hành, thực tập, đồng thời phối hợp triển khai những nội dung đào tạo được hai bên thống nhất. Theo khoản 1 và khoản 4 Điều 34 Luật GDNN năm 2025, doanh nghiệp bố trí chuyên gia, cán bộ kỹ thuật tham gia đào tạo; tiếp nhận nhà giáo và người học đến thực hành, thực tập; tổ chức giảng dạy và hướng dẫn thực hành theo phạm vi hợp tác. Nghị định số 308/2026/NĐ-CP cũng khuyến khích doanh nghiệp cử chuyên gia, người lao động có trình độ chuyên môn tham gia giảng dạy, hướng dẫn thực tập và bồi dưỡng nhà giáo. Đối với hoạt động đào tạo tại doanh nghiệp, Điều 41 Thông tư số 79/2026/TT-BGDĐT quy định các điều kiện về năng lực tổ chức, cơ sở vật chất, nhân sự hướng dẫn và cơ chế phối hợp với cơ sở đào tạo. Qua đó, doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào quá trình hình thành kỹ năng nghề nghiệp của người học, không chỉ giới hạn ở việc tiếp nhận thực tập sinh vào cuối khóa.
Thứ ba, tham gia đầu tư, chia sẻ nguồn lực và cập nhật công nghệ phục vụ đào tạo: Doanh nghiệp có vai trò đóng góp các nguồn lực kỹ thuật, công nghệ và điều kiện thực hành nhằm hỗ trợ cơ sở GDNN triển khai CTĐT. Theo điểm a và điểm c khoản 1 Điều 4 Nghị định số 308/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp được khuyến khích hợp tác nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ; đầu tư, tài trợ, chia sẻ hoặc sử dụng chung cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành, nền tảng số và học liệu. Các hoạt động này có thể được thực hiện thông qua thỏa thuận hợp tác, liên kết đào tạo hoặc các chương trình phối hợp chuyên môn giữa doanh nghiệp và cơ sở GDNN. Trong phạm vi Nhóm 1, sự đóng góp của doanh nghiệp hướng đến việc hỗ trợ tổ chức và nâng cao chất lượng các CTĐT thuộc hệ thống GDNN.
Thứ tư, tham gia kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, năng lực nghề nghiệp và bảo đảm chất lượng đào tạo: Doanh nghiệp có vai trò tham gia đánh giá mức độ đáp ứng yêu cầu chuyên môn, kỹ năng thực hành và chuẩn đầu ra của người học. Theo khoản 4 Điều 34 Luật GDNN năm 2025 và điểm e khoản 1 Điều 4 Nghị định số 308/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp được tham gia đánh giá kết quả học tập, đánh giá kỹ năng nghề, chuẩn đầu ra và các hoạt động bảo đảm, kiểm định chất lượng đào tạo. Đối với những nội dung học tập, thực hành hoặc thực tập tại doanh nghiệp, đại diện doanh nghiệp có thể tham gia hướng dẫn, nhận xét và đánh giá kết quả theo chương trình, quy chế đào tạo và thỏa thuận hợp tác. Ngoài ra, doanh nghiệp có thể cử đại diện tham gia các hội đồng đánh giá năng lực nghề nghiệp khi đáp ứng điều kiện theo quy định. Tuy nhiên, kết quả tham gia đánh giá của doanh nghiệp là một bộ phận của quá trình đánh giá đào tạo; thẩm quyền quyết định công nhận tốt nghiệp và cấp văn bằng, chứng chỉ thuộc Nhóm 1 vẫn do cơ sở đào tạo thực hiện theo pháp luật.
Thứ năm, tham gia đặt hàng đào tạo và thực hiện trách nhiệm trong hoạt động hợp tác, liên kết với cơ sở GDNN: Doanh nghiệp có thể xác định nhu cầu nhân lực, đặt hàng cơ sở GDNN tổ chức đào tạo hoặc phối hợp xây dựng các CTĐT gắn với yêu cầu tuyển dụng, sử dụng lao động. Theo khoản 2 Điều 34 Luật GDNN năm 2025, doanh nghiệp có trách nhiệm tổ chức đào tạo hoặc đặt hàng với cơ sở GDNN để đào tạo người lao động được tuyển dụng vào làm việc tại doanh nghiệp. Đồng thời, khoản 3 Điều 34 quy định doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ các trách nhiệm đã thỏa thuận trong hợp đồng liên kết đào tạo. Trong trường hợp doanh nghiệp tham gia phối hợp tổ chức chương trình thuộc Nhóm 1, phạm vi trách nhiệm có thể bao gồm cung cấp điều kiện thực hành, bố trí nhân sự hướng dẫn, phối hợp quản lý người học, đánh giá kết quả và thực hiện các nghĩa vụ liên quan theo thỏa thuận. Vai trò này xác định doanh nghiệp là bên tham gia thực hiện CTĐT, đồng thời có trách nhiệm đối với những nội dung hợp tác đã cam kết với cơ sở GDNN.
Đối với Nhóm 2
Trong hệ thống chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia (Nhóm 2), doanh nghiệp giữ vai trò là chủ thể tham gia xác định nhu cầu kỹ năng nghề, xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, tổ chức và hỗ trợ hoạt động đánh giá kỹ năng nghề, đồng thời sử dụng kết quả đánh giá trong quản lý, phát triển nguồn nhân lực. Khác với Nhóm 1, nơi doanh nghiệp chủ yếu phối hợp với cơ sở GDNN trong quá trình đào tạo và đánh giá kết quả học tập, ở Nhóm 2, doanh nghiệp được xác định là chủ thể trung tâm trong việc cung cấp yêu cầu năng lực nghề nghiệp xuất phát từ thực tiễn sản xuất, kinh doanh. Theo Điều 5 và Điều 33 Nghị định số 138/2026/NĐ-CP, người sử dụng lao động có vai trò trong xây dựng, cập nhật và áp dụng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, tham gia hoạt động đánh giá và tạo điều kiện cho người lao động phát triển kỹ năng nghề. Vai trò của doanh nghiệp trong hệ thống này được thể hiện ở bốn phương diện sau.
Xem chi tiết 4 phương diện vai trò của doanh nghiệp đối với Nhóm 2
Thứ nhất, xác định nhu cầu kỹ năng nghề và tham gia xây dựng, cập nhật tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia: Doanh nghiệp có vai trò cung cấp yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, năng lực thực hiện công việc và điều kiện nghề nghiệp làm căn cứ xây dựng, cập nhật tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia. Theo điểm b khoản 2 Điều 5 Nghị định số 138/2026/NĐ-CP, việc phát triển kỹ năng nghề phải bảo đảm vai trò trung tâm của người sử dụng lao động trong xác định nhu cầu kỹ năng nghề, xây dựng, cập nhật và áp dụng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia. Khoản 3 Điều 12 của Nghị định quy định doanh nghiệp, cùng các bộ, ngành, hiệp hội và cơ sở giáo dục, có thể tổ chức xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia đối với những nghề không thuộc danh mục bắt buộc phải có chứng chỉ để đề nghị Bộ Nội vụ thẩm định, công bố. Bên cạnh đó, theo khoản 4 Điều 33, doanh nghiệp có trách nhiệm cử chuyên gia, cán bộ kỹ thuật hoặc người lao động có chuyên môn tham gia xây dựng, biên soạn và thẩm định tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, bộ công cụ đánh giá khi được yêu cầu. Trong trường hợp này, doanh nghiệp không chỉ là bên sử dụng kết quả đánh giá kỹ năng nghề mà còn tham gia vào quá trình xác định các yêu cầu năng lực làm căn cứ đánh giá.
Thứ hai, tổ chức và tạo điều kiện cho người lao động tham gia đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá kỹ năng nghề quốc gia: Doanh nghiệp có trách nhiệm hỗ trợ người lao động nâng cao trình độ kỹ năng nghề và tham gia các hoạt động đánh giá theo tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia. Theo điểm b khoản 4 Điều 33 Nghị định số 138/2026/NĐ-CP, người sử dụng lao động có trách nhiệm tổ chức, tạo điều kiện để người lao động tham gia đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề và đánh giá kỹ năng nghề quốc gia. Đối với những nghề, công việc thuộc danh mục bắt buộc phải có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, điểm b khoản 7 Điều 30 quy định trách nhiệm cụ thể của doanh nghiệp trong việc tham gia xây dựng tiêu chuẩn, tham gia đánh giá và tạo điều kiện để người lao động tham gia đánh giá; trường hợp người lao động chưa đủ điều kiện thì tạo điều kiện đào tạo, bồi dưỡng hoặc bố trí công việc khác phù hợp. Như vậy, doanh nghiệp là chủ thể trực tiếp tổ chức hoặc hỗ trợ sự tham gia của lực lượng lao động vào hệ thống đánh giá kỹ năng nghề quốc gia, đặc biệt đối với những nghề, công việc có yêu cầu chứng chỉ bắt buộc.
Thứ ba, trực tiếp tham gia tổ chức đánh giá kỹ năng nghề quốc gia và cung cấp đội ngũ chuyên gia đánh giá: Doanh nghiệp có thể tham gia hệ thống đánh giá kỹ năng nghề quốc gia thông qua việc thành lập tổ chức đánh giá được cấp phép hoặc cử nhân sự chuyên môn tham gia hoạt động đánh giá. Theo Điều 25 Luật Việc làm số 74/2025/QH15 và Điều 13 Nghị định số 138/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, chức năng hoạt động phù hợp và đáp ứng các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị, hệ thống giám sát và nhân sự đánh giá có thể đề nghị cấp giấy chứng nhận hoạt động đánh giá kỹ năng nghề quốc gia. Khi được cấp phép, tổ chức có thể thực hiện các hoạt động đánh giá theo quy trình và phạm vi được cơ quan có thẩm quyền cho phép. Đồng thời, Điều 14 Nghị định số 138/2026/NĐ-CP quy định các điều kiện để cán bộ kỹ thuật, người lao động và nhân sự quản lý, giám sát tại doanh nghiệp tham gia làm đánh giá viên kỹ năng nghề quốc gia tương ứng với từng bậc trình độ kỹ năng. Qua đó, doanh nghiệp có thể đóng góp trực tiếp nguồn lực chuyên môn, nhân sự và điều kiện thực hành vào hoạt động đánh giá năng lực nghề nghiệp. Tuy nhiên, doanh nghiệp hoặc tổ chức đánh giá thuộc doanh nghiệp không mặc nhiên có thẩm quyền cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; việc cấp chứng chỉ được thực hiện bởi cơ quan có thẩm quyền theo quy định.
Thứ tư, xem xét công nhận và sử dụng chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia trong quản lý, phát triển nguồn nhân lực: Bên cạnh việc tham gia xây dựng tiêu chuẩn và tổ chức đánh giá, doanh nghiệp còn có vai trò sử dụng kết quả chứng nhận kỹ năng nghề quốc gia trong các hoạt động quản trị nhân sự. Theo điểm c khoản 4 Điều 33 Nghị định số 138/2026/NĐ-CP, người sử dụng lao động có trách nhiệm ưu tiên công nhận và sử dụng chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia trong tuyển dụng, bố trí việc làm, xếp lương, trả công, nâng bậc, nâng lương và phát triển nghề nghiệp của người lao động. Quy định này xác định doanh nghiệp là bên tiếp nhận và sử dụng kết quả đánh giá từ hệ thống chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia trong phạm vi hoạt động quản lý, sử dụng lao động của mình. Tuy nhiên, việc sử dụng chứng chỉ cần được thực hiện phù hợp với quy định pháp luật lao động và các thỏa thuận liên quan; không đồng nghĩa với việc mọi doanh nghiệp bắt buộc phải áp dụng một cơ chế trả lương hoặc thăng tiến thống nhất dựa trên các bậc chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia.
Đối với Nhóm 3
Trong hệ thống chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận gắn với thị trường lao động (Nhóm 3), doanh nghiệp giữ vai trò trực tiếp trong xác định nhu cầu kỹ năng nghề, tổ chức đào tạo, đánh giá năng lực và xác nhận kết quả đào tạo, kỹ năng nghề của người lao động. Theo Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14, Luật GDNN số 124/2025/QH15 và các văn bản hướng dẫn, doanh nghiệp có trách nhiệm xây dựng kế hoạch, bố trí nguồn lực và tổ chức đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng nghề cho người lao động; đồng thời được chủ động lựa chọn hình thức đào tạo và phối hợp với các tổ chức liên quan. Khác với Nhóm 1 và Nhóm 2, hoạt động đào tạo, đánh giá và cấp chứng nhận trong Nhóm 3 được thực hiện theo nhiều cơ chế khác nhau. Đối với các thẻ, chứng chỉ thuộc Tiểu nhóm 3.1, doanh nghiệp phải thực hiện các nghĩa vụ pháp lý về điều kiện năng lực, huấn luyện và chứng nhận theo quy định chuyên ngành. Đối với các Tiểu nhóm 3.2–3.7, doanh nghiệp có thể chủ động phát triển hệ thống đào tạo, đánh giá và cấp chứng nhận nội bộ hoặc hợp tác với cơ sở GDNN, hãng công nghệ và các tổ chức khác theo yêu cầu hoạt động sản xuất, kinh doanh. Vai trò của doanh nghiệp được thể hiện ở năm phương diện sau.
Xem chi tiết 5 phương diện vai trò của doanh nghiệp đối với Nhóm 3
Thứ nhất, tổ chức đào tạo, huấn luyện và bảo đảm người lao động đáp ứng các yêu cầu về năng lực, chứng chỉ, thẻ theo pháp luật chuyên ngành: Đối với Tiểu nhóm 3.1, doanh nghiệp có trách nhiệm tổ chức hoặc bố trí cho người lao động tham gia các hoạt động đào tạo, huấn luyện, đánh giá cần thiết để đáp ứng điều kiện thực hiện những nghề, công việc có yêu cầu chuyên môn hoặc an toàn đặc thù. Theo Điều 7 và Điều 14 Luật An toàn, vệ sinh lao động số 84/2015/QH13, người sử dụng lao động có trách nhiệm tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động, bảo đảm người lao động làm công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động được huấn luyện và cấp thẻ an toàn trước khi bố trí làm việc. Doanh nghiệp có thể tự tổ chức hoặc sử dụng dịch vụ huấn luyện phù hợp với quy định; trường hợp tự thực hiện hoạt động huấn luyện thuộc diện phải đáp ứng điều kiện chuyên ngành thì phải bảo đảm các điều kiện tương ứng. Trong lĩnh vực sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, Luật số 77/2025/QH15 quy định trách nhiệm của cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm trong việc chỉ định người quản lý năng lượng đáp ứng điều kiện, bao gồm yêu cầu về chứng chỉ quản lý năng lượng, và thực hiện kiểm toán năng lượng định kỳ theo quy định. Như vậy, đối với Tiểu nhóm 3.1, doanh nghiệp chủ yếu giữ vai trò bảo đảm việc đào tạo, huấn luyện và đáp ứng các điều kiện năng lực bắt buộc; thẩm quyền trực tiếp cấp từng loại chứng chỉ, thẻ được xác định theo pháp luật chuyên ngành tương ứng.
Thứ hai, chủ động xây dựng kế hoạch, tổ chức đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề cho người lao động: Đối với các Tiểu nhóm 3.2–3.7, doanh nghiệp là chủ thể trực tiếp xác định nhu cầu đào tạo, nội dung và hình thức phát triển kỹ năng nghề phù hợp với yêu cầu sử dụng lao động. Theo Điều 59 và Điều 60 Bộ luật Lao động năm 2019, người sử dụng lao động có quyền thành lập cơ sở GDNN hoặc mở lớp đào tạo tại nơi làm việc, đồng thời có trách nhiệm xây dựng kế hoạch hằng năm và dành kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề cho người lao động, kể cả đào tạo trước khi chuyển sang công việc khác. Các Điều 61 và 62 của Bộ luật quy định về việc tổ chức học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động và thực hiện hợp đồng đào tạo nghề trong những trường hợp tương ứng. Luật GDNN năm 2025 tiếp tục xác định trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc tạo điều kiện để người lao động được đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng nghề. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp có thể chủ động thiết kế các CTĐT hội nhập, đào tạo theo vị trí việc làm, đào tạo nâng bậc tay nghề, cập nhật công nghệ, đào tạo lại hoặc phát triển kỹ năng mới, bao gồm kỹ năng số và kỹ năng xanh, phù hợp với đặc điểm hoạt động của mình.
Thứ ba, xây dựng tiêu chuẩn năng lực nội bộ, tổ chức đánh giá và xác nhận kết quả đào tạo, kỹ năng nghề của người lao động: Doanh nghiệp có thể chủ động xác định các yêu cầu năng lực đối với từng vị trí công việc, tổ chức kiểm tra, đánh giá kỹ năng và ghi nhận kết quả đào tạo theo hệ thống quản lý nhân sự, đào tạo và phát triển nghề nghiệp của mình. Điều 59 Bộ luật Lao động năm 2019 xác lập vai trò của người sử dụng lao động trong tổ chức thi kỹ năng nghề, đánh giá, công nhận kỹ năng và phát triển năng lực nghề nghiệp của người lao động. Bên cạnh đó, Điều 60 quy định trách nhiệm tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng nghề; Nghị định số 308/2026/NĐ-CP cũng quy định việc sử dụng nguồn lực đào tạo của doanh nghiệp cho hoạt động đánh giá kỹ năng nghề và đánh giá năng lực theo chuẩn doanh nghiệp. Trong phạm vi các Tiểu nhóm 3.2–3.7, doanh nghiệp có thể thực hiện đánh giá định kỳ, kiểm tra năng lực thực hiện công việc, xác định bậc tay nghề và cấp chứng chỉ, chứng nhận hoặc xác nhận hoàn thành đào tạo theo quy chế nội bộ hoặc thỏa thuận hợp tác. Tuy nhiên, pháp luật không thiết lập một cơ chế cấp chứng nhận thống nhất áp dụng cho mọi doanh nghiệp. Việc doanh nghiệp đánh giá hoặc xác nhận năng lực cũng không mặc nhiên làm phát sinh một chứng chỉ độc lập; hình thức minh chứng được xác định theo quy định nội bộ, CTĐT hoặc thỏa thuận có liên quan.
Thứ tư, hợp tác với cơ sở đào tạo, hãng công nghệ và các tổ chức chuyên môn trong tổ chức đào tạo, đánh giá và cấp chứng nhận: Doanh nghiệp có thể phối hợp với cơ sở GDNN, các hãng sản xuất thiết bị, nhà cung cấp công nghệ, hiệp hội nghề nghiệp và tổ chức quốc tế để xây dựng, triển khai những CTĐT đáp ứng yêu cầu chuyên môn của mình. Theo Điều 34 Luật GDNN năm 2025 và Điều 4 Nghị định số 308/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp được tham gia tổ chức đào tạo, đặt hàng đào tạo, đào tạo lại, nâng cao kỹ năng nghề và phối hợp đánh giá năng lực người lao động. Trong các chương trình hợp tác thuộc Nhóm 3, doanh nghiệp có thể xác định yêu cầu đầu ra, đặt hàng nội dung và thời lượng đào tạo, bố trí chuyên gia, cung cấp thiết bị, tổ chức thực hành, phối hợp đánh giá và xác nhận kết quả theo thỏa thuận. Đối với các CTĐT theo tiêu chuẩn của hãng công nghệ hoặc tổ chức quốc tế, doanh nghiệp có thể tham gia triển khai và cấp chứng nhận khi đáp ứng điều kiện hoặc được tổ chức sở hữu hệ thống chứng nhận cho phép. Vai trò này cho phép doanh nghiệp kết hợp nguồn lực đào tạo nội bộ với năng lực chuyên môn của các đối tác để phát triển các CTĐT, đánh giá và chứng nhận phù hợp với yêu cầu công việc.
Thứ năm, bố trí và quản lý nguồn lực tài chính, hồ sơ đào tạo và kết quả đánh giá năng lực nghề nghiệp: Doanh nghiệp có trách nhiệm bố trí nguồn lực để thực hiện các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề theo kế hoạch và quy định pháp luật. Theo Điều 60 Bộ luật Lao động năm 2019, người sử dụng lao động phải dành kinh phí đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng nghề và thực hiện chế độ thông báo kết quả đào tạo hằng năm cho cơ quan có thẩm quyền. Bên cạnh đó, Điều 35 Luật GDNN năm 2025 và Nghị định số 308/2026/NĐ-CP quy định cơ chế Quỹ đào tạo nhân lực của doanh nghiệp, cho phép doanh nghiệp lựa chọn thành lập quỹ theo nhu cầu và sử dụng nguồn quỹ cho đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nghiệp vụ, đánh giá kỹ năng nghề, đánh giá năng lực theo chuẩn doanh nghiệp và các hoạt động phát triển nguồn nhân lực khác theo quy định. Đối với những hoạt động đào tạo có áp dụng hợp đồng đào tạo nghề, doanh nghiệp và người lao động thực hiện việc xác định chi phí, quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Lao động. Trong trường hợp doanh nghiệp tổ chức đánh giá và cấp chứng nhận nội bộ hoặc phối hợp cấp chứng nhận với đối tác, việc quản lý hồ sơ, kết quả đánh giá và thông tin chứng nhận được thực hiện theo quy chế tương ứng, đồng thời phải tuân thủ các yêu cầu pháp lý chuyên ngành nếu có.
Nhìn chung, doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong cả ba hệ thống văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận, nhưng phạm vi và hình thức tham gia có sự khác biệt. Đối với Nhóm 1, doanh nghiệp chủ yếu đóng vai trò phối hợp với cơ sở GDNN trong xây dựng chương trình, tổ chức đào tạo, đánh giá kết quả học tập và bảo đảm chất lượng đào tạo. Đối với Nhóm 2, doanh nghiệp được xác định là chủ thể trung tâm trong việc xác định nhu cầu kỹ năng, tham gia xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, tổ chức hoặc hỗ trợ hoạt động đánh giá và sử dụng kết quả chứng nhận. Đối với Nhóm 3, doanh nghiệp có vai trò chủ động và trực tiếp hơn, vừa xác định yêu cầu năng lực, tổ chức đào tạo, đánh giá và chứng nhận kỹ năng nghề theo hệ thống riêng hoặc thông qua hợp tác với các đối tác, vừa có trách nhiệm bảo đảm người lao động đáp ứng các yêu cầu về chứng chỉ, thẻ theo pháp luật chuyên ngành. Như vậy, vai trò của doanh nghiệp chuyển từ bên phối hợp đào tạo (Nhóm 1), bên tham gia xây dựng chuẩn và đánh giá kỹ năng quốc gia (Nhóm 2), đến chủ thể trực tiếp tổ chức đào tạo, đánh giá và chứng nhận năng lực phục vụ nhu cầu sử dụng lao động (Nhóm 3).
Thực trạng tham gia
Kết quả khảo sát cho thấy sự tham gia của doanh nghiệp có sự khác biệt rõ rệt giữa ba hệ thống văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận. Trong đó, doanh nghiệp thể hiện vai trò chủ động và trực tiếp nhất ở Nhóm 3, với các hoạt động tự tổ chức đào tạo, đánh giá, chứng nhận năng lực nghề nghiệp hoặc triển khai chương trình theo tiêu chuẩn của hãng công nghệ và đối tác. Đối với Nhóm 1, doanh nghiệp tham gia tương đối tích cực vào hoạt động đào tạo của các cơ sở GDNN, đặc biệt trong hướng dẫn thực hành, thực tập và phát triển các mô hình đào tạo phối hợp, nhưng mức độ tham gia có sự khác biệt giữa các trường hợp khảo sát. Ngược lại, sự tham gia của doanh nghiệp vào hệ thống tiêu chuẩn và đánh giá kỹ năng nghề quốc gia (Nhóm 2) còn tương đối mờ nhạt. Những kết quả này phản ánh sự khác nhau về phạm vi tham gia thực tế của doanh nghiệp, từ vai trò phối hợp trong hệ thống đào tạo do cơ sở GDNN chủ trì đến vai trò trực tiếp tổ chức và quản lý hoạt động phát triển kỹ năng nghề theo yêu cầu của mình.
Xem chi tiết thực trạng tham gia của doanh nghiệp
Đối với Nhóm 1, doanh nghiệp tham gia ở nhiều khâu của quá trình đào tạo, nhưng nổi bật nhất là tiếp nhận, hướng dẫn thực hành, thực tập và phối hợp tổ chức đào tạo tại nơi làm việc. Một số doanh nghiệp đã tham gia sâu vào các mô hình đào tạo phối hợp, đảm nhiệm những nội dung đào tạo và hướng dẫn thực hành tương đối rõ ràng trong chương trình của cơ sở GDNN.
Dữ liệu phỏng vấn ghi nhận doanh nghiệp tham gia góp ý chương trình, chuẩn đầu ra, bố trí chuyên gia kỹ thuật, cung cấp thiết bị, hướng dẫn sinh viên thực hành và phối hợp đánh giá kết quả thực tập (TT#3, DN#5, DN#8). Tại một số doanh nghiệp, cán bộ kỹ thuật và người quản lý sản xuất trực tiếp đảm nhiệm việc hướng dẫn người học trên dây chuyền, thiết bị và quy trình làm việc thực tế. Sự tham gia này không chỉ diễn ra trong các đợt thực tập tốt nghiệp mà còn được tổ chức thành những giai đoạn đào tạo tại doanh nghiệp trong chương trình chính khóa. Tuy nhiên, phạm vi tham gia phụ thuộc vào chương trình hợp tác cụ thể, không phải tất cả doanh nghiệp được khảo sát đều tham gia đầy đủ các hoạt động từ xây dựng chương trình đến đánh giá kết quả đào tạo.
Dữ liệu về phân công tổ chức cho thấy TT#3, trung tâm trực thuộc doanh nghiệp, thực hiện giai đoạn học tại trung tâm và thực tập ở vị trí việc làm trong mô hình 1+1+1. CĐ#17 cũng mô tả ba giai đoạn học tại trường, trung tâm doanh nghiệp và vị trí làm việc; đây là thông tin về tổ chức đào tạo, cần phân biệt với chương trình liên kết cấp văn bằng nước ngoài ở WHAT – Tiểu nhóm 1.2. Trong đào tạo kép/phối hợp của CĐ#6, các doanh nghiệp ô tô, điện, cơ khí cung cấp môi trường sản xuất, nhân sự hướng dẫn và điều kiện thực hành; DN#1, DN#3 còn hỗ trợ thiết bị và tiếp nhận thực tập sinh. Điểm chung là doanh nghiệp trực tiếp thực hiện một phần CTĐT, thay vì chỉ tiếp nhận người tốt nghiệp.
Tuy nhiên, sự tham gia của doanh nghiệp vào các hoạt động chuyên môn do cơ sở GDNN chủ trì chưa đồng đều, đặc biệt ở khâu xây dựng chương trình và đánh giá kết quả đào tạo.
Một số cơ sở GDNN ghi nhận doanh nghiệp tham gia hội đồng tư vấn, góp ý chương trình, cử chuyên gia đánh giá thực tập hoặc tham gia các kỳ đánh giá năng lực nghề nghiệp. Mặc dù vậy, đại diện một hiệp hội nhận xét rằng tại một số trường, việc mời doanh nghiệp tham gia vẫn thiên về hoàn thiện thủ tục hơn là thực sự cùng thực hiện các hoạt động chuyên môn (HH#1). Bên cạnh đó, các doanh nghiệp được khảo sát có mức độ tham gia khác nhau, trong đó có những doanh nghiệp chỉ hợp tác trong tuyển dụng, cung cấp ý kiến theo đợt, tiếp nhận thực tập sinh đến trực tiếp bố trí nhân sự, thiết bị và thời gian sản xuất cho đào tạo. Như vậy, trong Nhóm 1, doanh nghiệp đã hiện diện ở nhiều công đoạn nhưng sự tham gia sâu, thường xuyên và xuyên suốt quá trình đào tạo chủ yếu được ghi nhận tại những mô hình hợp tác cụ thể chứ chưa phải là thực tiễn phổ biến.
Đối với Nhóm 2, sự tham gia của doanh nghiệp vào hoạt động xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và tổ chức đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia được phản ánh khá hạn chế trong dữ liệu khảo sát. Sự tham gia của doanh nghiệp với tư cách đơn vị tổ chức đánh giá hoặc cử nhân sự tham gia đánh giá kỹ năng nghề quốc gia cũng chưa được ghi nhận rõ nét.
Ở các trường hợp DN#9, CĐ#6, CĐ#17 được đề cập, doanh nghiệp chưa thể hiện hoạt động thường xuyên hoặc chủ động tổ chức đánh giá kỹ năng nghề quốc gia. Khảo sát cũng chưa nhận diện trường hợp điển hình doanh nghiệp thành lập tổ chức đánh giá được cấp phép và vận hành đánh giá thường xuyên cho người lao động. Các ý kiến về thành phần tham gia xây dựng tiêu chuẩn được tập trung ở WHY – Lý do 1, nơi chúng được đối chiếu với khả năng đáp ứng yêu cầu sử dụng lao động.
Đối với Nhóm 3, doanh nghiệp thể hiện vai trò tích cực, chủ động, trực tiếp và đa dạng nhất trong tổ chức đào tạo, đánh giá và chứng nhận năng lực nghề nghiệp cho người lao động.
Trong Nhóm 3, doanh nghiệp chủ động xác định nhu cầu, xây dựng chương trình và bố trí bộ phận đào tạo, cán bộ kỹ thuật hoặc người quản lý chuyên môn thực hiện. Khi sử dụng tiêu chuẩn từ bên ngoài, doanh nghiệp còn lựa chọn chương trình, bố trí nhân sự tham gia và phối hợp với tổ chức đào tạo, đánh giá phù hợp; vai trò này cần phân biệt với thẩm quyền trực tiếp cấp chứng nhận quốc tế. Như vậy, sự tham gia bao gồm cả tự tổ chức hoạt động nội bộ và huy động mạng lưới cung cấp dịch vụ bên ngoài. Cách kết quả được dùng cho quyết định nhân sự được phân tích ở HOW – Giá trị sử dụng Nhóm 3; vấn đề hồ sơ và quyền tiếp cận dữ liệu được phân tích ở WHY – Lý do 3.
Đối với Tiểu nhóm 3.1, WHO ghi nhận vai trò doanh nghiệp bố trí huấn luyện, sát hạch và bảo đảm điều kiện an toàn cho người lao động; ví dụ tổ chức huấn luyện ở WHAT và việc kiểm tra tại đơn vị tiếp nhận ở HOW cung cấp bằng chứng cụ thể. Dữ liệu chưa đủ để đánh giá toàn diện mức độ thực hiện các nghĩa vụ này ở mọi loại thẻ, chứng chỉ hoặc mọi doanh nghiệp.
Nhìn chung, kết quả khảo sát cho thấy sự tham gia của doanh nghiệp nổi bật nhất ở Nhóm 3, nơi một số doanh nghiệp chủ động thiết kế, tổ chức, quản lý và phát triển những hệ thống đào tạo, đánh giá và chứng nhận kỹ năng nghề riêng hoặc phối hợp với đối tác. Trong Nhóm 1, doanh nghiệp đã tham gia tương đối rộng ở các hoạt động đào tạo, thực hành, thực tập và đánh giá, song mức độ tham gia sâu vào những công đoạn chuyên môn còn khác nhau giữa các cơ sở và mô hình hợp tác. Trong khi đó, sự tham gia của doanh nghiệp trong Nhóm 2 chưa được ghi nhận rõ nét, đặc biệt ở hoạt động xây dựng tiêu chuẩn và tổ chức đánh giá kỹ năng nghề quốc gia. Sự khác biệt này phản ánh phạm vi và hình thức tham gia của doanh nghiệp được ghi nhận trong các cuộc phỏng vấn, không đồng nghĩa với việc mọi doanh nghiệp trong cùng một lĩnh vực hoặc hệ thống đều có mức độ tham gia giống nhau.
Hiệp hội (trong nước)
Vai trò, trách nhiệm theo quy định pháp luật
Trong hoạt động đào tạo, phát triển kỹ năng nghề và hệ thống văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận, các hiệp hội nghề nghiệp, hiệp hội ngành nghề và tổ chức xã hội - nghề nghiệp giữ vai trò đại diện, tập hợp tiếng nói của các bên liên quan, kết nối cơ sở đào tạo với thị trường lao động, đồng thời tham gia xây dựng tiêu chuẩn, tổ chức đào tạo và phát triển kỹ năng nghề theo chức năng, phạm vi hoạt động của mình. Theo Luật Giáo dục, Luật Việc làm, các văn bản hướng dẫn và Chiến lược phát triển GDNN giai đoạn 2021–2030, các hiệp hội được xác định là một trong những chủ thể tham gia phát triển GDNN và kỹ năng nghề, thông qua việc cung cấp thông tin nhu cầu nhân lực, huy động sự tham gia của hội viên, phối hợp triển khai các hoạt động chuyên môn và tham gia đóng góp ý kiến đối với chính sách. Tuy nhiên, phạm vi tham gia và thẩm quyền của hiệp hội có sự khác biệt giữa ba hệ thống văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận.
Đối với Nhóm 1
Trong hệ thống GDNN, hiệp hội chủ yếu giữ vai trò trung gian kết nối, tư vấn và huy động sự tham gia của các doanh nghiệp, tổ chức thành viên vào hoạt động đào tạo do cơ sở GDNN chủ trì. Bên cạnh đó, hiệp hội có thể tham gia hỗ trợ phát triển chương trình và nâng cao chất lượng đào tạo thông qua hoạt động tư vấn chuyên môn, huy động nguồn lực và kết nối các chủ thể trong ngành, nghề.
Xem chi tiết vai trò của hiệp hội đối với Nhóm 1
Các hiệp hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp có trách nhiệm huy động hội viên tham gia triển khai Chiến lược phát triển GDNN, các chương trình, đề án, dự án liên quan; đồng thời đề xuất nhu cầu nhân lực có kỹ năng nghề của doanh nghiệp hằng năm. Thông tư số 72/2026/TT-BGDĐT cũng xác định tổ chức xã hội - nghề nghiệp là một trong những đối tác có thể phối hợp với cơ sở GDNN trong phát triển chương trình, mô hình học tập, tổ chức thực hành, thực tập và bồi dưỡng kỹ năng nghề. Trong các hoạt động này, hiệp hội đóng vai trò tập hợp, chuyển tải yêu cầu chuyên môn và nhu cầu nhân lực từ cộng đồng hội viên đến các cơ sở đào tạo, đồng thời hỗ trợ thiết lập và điều phối các hoạt động hợp tác.
Theo Quyết định số 2239/QĐ-TTg, các hiệp hội có vai trò tham gia hoạt động GDNN, tư vấn, giám sát và phản biện xã hội đối với các cơ chế, chính sách phát triển GDNN. Quyết định số 39/2026/QĐ-TTg cũng xác định hiệp hội nghề nghiệp là một trong những đối tượng có liên quan đến việc đánh giá, quy chiếu và công nhận trình độ, văn bằng, chứng chỉ theo Khung trình độ quốc gia Việt Nam. Tuy nhiên, những quy định này không mặc nhiên trao cho hiệp hội thẩm quyền tổ chức đào tạo, công nhận tốt nghiệp hoặc cấp văn bằng, chứng chỉ thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; các hoạt động đó phải được thực hiện bởi chủ thể có thẩm quyền theo quy định pháp luật.
Đối với Nhóm 2
Trong hệ thống chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, vai trò của hiệp hội được xác lập rõ nét hơn ở hoạt động tham gia xây dựng, cập nhật tiêu chuẩn kỹ năng nghề và phát triển hệ thống đánh giá kỹ năng nghề quốc gia.
Xem chi tiết vai trò của hiệp hội đối với Nhóm 2
Theo khoản 2 Điều 22 Luật Việc làm số 74/2025/QH15, việc phát triển kỹ năng nghề phải bảo đảm sự tham gia của các bên liên quan. Nghị định số 138/2026/NĐ-CP tiếp tục quy định cơ chế huy động sự tham gia của các tổ chức nghề nghiệp, hiệp hội ngành nghề, chuyên gia và doanh nghiệp theo hình thức phối hợp, xã hội hóa. Đáng chú ý, khoản 3 Điều 12 Nghị định này cho phép hiệp hội, cùng các bộ, ngành, doanh nghiệp và cơ sở giáo dục, tổ chức xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia đối với những nghề thuộc phạm vi quy định để đề nghị Bộ Nội vụ thẩm định, công bố. Như vậy, hiệp hội có thể tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng nội dung chuyên môn của hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, đồng thời huy động chuyên gia và đại diện doanh nghiệp trong ngành, nghề đóng góp vào hoạt động này.
Hiệp hội còn có vai trò tư vấn, phối hợp rà soát nhu cầu chứng nhận kỹ năng nghề và hỗ trợ phát triển hoạt động đào tạo, bồi dưỡng phục vụ đánh giá kỹ năng nghề quốc gia.
Theo khoản 2 Điều 31 Nghị định số 138/2026/NĐ-CP, Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội, hội và hiệp hội nghề nghiệp xem xét các đề xuất cập nhật, bổ sung hoặc loại bỏ nghề, công việc thuộc danh mục bắt buộc phải có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia để trình Chính phủ ban hành. Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 7 của Nghị định xác định sự tham gia, đồng hành của hiệp hội nghề nghiệp và các bên liên quan trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề. Chiến lược phát triển GDNN giai đoạn 2021–2030 cũng đặt ra định hướng thí điểm và phát triển các hội đồng kỹ năng nghề, nhóm nghề nhằm tăng cường sự tham gia của các bên liên quan vào phát triển kỹ năng. Trong các hoạt động này, hiệp hội có thể đảm nhiệm vai trò đại diện tiếng nói ngành, nghề, huy động chuyên gia và kết nối các tổ chức tham gia xây dựng tiêu chuẩn, đào tạo và đánh giá. Tuy nhiên, việc xây dựng tiêu chuẩn hoặc tham gia hoạt động đánh giá không đồng nghĩa với thẩm quyền tự công bố tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia hoặc cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia.
Đối với Nhóm 3
Đối với Nhóm 3, hiệp hội có thể tham gia tổ chức, điều phối hoặc phối hợp triển khai các CTĐT, bồi dưỡng, đánh giá và chứng nhận năng lực nghề nghiệp theo nhu cầu của ngành, nghề và cộng đồng hội viên.
Xem chi tiết vai trò của hiệp hội đối với Nhóm 3
Các quy định về huy động nguồn lực xã hội tham gia phát triển kỹ năng nghề tại Luật Việc làm năm 2025, Nghị định số 138/2026/NĐ-CP và Chiến lược phát triển GDNN giai đoạn 2021–2030 tạo cơ sở cho hiệp hội tham gia các hoạt động phát triển kỹ năng nghề ngoài CTĐT chính quy. Theo đó, hiệp hội có thể tập hợp nhu cầu đào tạo của hội viên, huy động chuyên gia chuyên môn, phối hợp với cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và tổ chức khác để triển khai các khóa bồi dưỡng, cập nhật kỹ thuật, công nghệ và kỹ năng nghề. Tùy theo chức năng, điều lệ hoạt động và thỏa thuận hợp tác, hiệp hội cũng có thể tham gia đánh giá, xác nhận kết quả đào tạo hoặc phát hành chứng nhận theo chương trình, tiêu chuẩn riêng thuộc phạm vi hoạt động hợp pháp của mình.
Phạm vi tham gia của hiệp hội đối với các hoạt động chứng nhận trong Nhóm 3 được xác định theo tính chất từng chương trình và các quy định chuyên ngành có liên quan, không có một cơ chế cấp chứng chỉ thống nhất áp dụng cho mọi hiệp hội.
Đối với các thẻ, chứng chỉ chuyên ngành thuộc Tiểu nhóm 3.1, hiệp hội chỉ có thể trực tiếp tổ chức đào tạo, đánh giá hoặc cấp chứng chỉ khi đáp ứng điều kiện và được cơ quan có thẩm quyền cho phép theo quy định chuyên ngành tương ứng. Đối với các chứng nhận do hiệp hội xây dựng hoặc phối hợp triển khai cùng doanh nghiệp, tổ chức quốc tế và đối tác đào tạo thuộc các tiểu nhóm còn lại, hiệp hội có thể tham gia xây dựng tiêu chuẩn chuyên môn, tổ chức khóa học, đánh giá và xác nhận kết quả trong phạm vi chức năng, điều kiện hoạt động và thỏa thuận giữa các bên. Vì vậy, cần phân biệt giữa vai trò đại diện, kết nối và phối hợp đào tạo của hiệp hội với thẩm quyền đánh giá, cấp chứng chỉ theo pháp luật chuyên ngành hoặc theo một hệ thống chứng nhận cụ thể.
Nhìn chung, vai trò của các hiệp hội trong ba hệ thống chủ yếu mang tính đại diện, kết nối, tư vấn và huy động nguồn lực chuyên môn, trong đó phạm vi tham gia khác nhau theo từng hệ thống. Đối với Nhóm 1, hiệp hội chủ yếu kết nối cơ sở GDNN với cộng đồng doanh nghiệp và phối hợp trong phát triển, tổ chức đào tạo. Đối với Nhóm 2, hiệp hội có vai trò rõ nét hơn trong xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, góp ý danh mục nghề cần chứng nhận và hỗ trợ phát triển hoạt động đánh giá kỹ năng. Đối với Nhóm 3, hiệp hội có thể trực tiếp tham gia tổ chức đào tạo, đánh giá và chứng nhận nghề nghiệp theo chức năng, thỏa thuận và các điều kiện pháp luật tương ứng. Điểm chung là hiệp hội tạo ra cơ chế tham gia tập thể của các chủ thể trong ngành, nghề, nhưng không mặc nhiên có thẩm quyền quản lý hoặc cấp mọi loại văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận trong ba hệ thống.
Thực trạng tham gia
Phân tích dưới đây phân biệt hiệp hội trong nước, chủ yếu thực hiện chức năng đại diện và kết nối, với tổ chức nghề nghiệp/tiêu chuẩn quốc tế có thể vận hành hệ thống đánh giá, chứng nhận riêng. Mức độ tham gia được đọc theo từng nhóm và trường hợp khảo sát, không khái quát đồng đều cho mọi hiệp hội.
Xem chi tiết thực trạng tham gia của hiệp hội
Đối với Nhóm 1, sự tham gia của các hiệp hội trong nước chủ yếu được ghi nhận ở hoạt động kết nối, tư vấn và cung cấp thông tin chuyên môn phục vụ phát triển GDNN.
Một số hiệp hội ngành nghề duy trì mạng lưới chuyên gia, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp để trao đổi thông tin về nhu cầu kỹ năng, công nghệ và hoạt động đào tạo. Trong lĩnh vực kỹ thuật lạnh và điều hòa không khí, đại diện hiệp hội cho biết tổ chức tập hợp các chuyên gia, nhà khoa học và doanh nghiệp trong ngành, tham gia các hoạt động trao đổi chuyên môn, phổ biến công nghệ và kết nối với cơ sở đào tạo (HH#2). Đại diện một trường cao đẳng cũng nhấn mạnh vai trò của hiệp hội trong việc tập hợp ý kiến từ nhiều doanh nghiệp để chuyển tải yêu cầu chuyên môn của ngành nghề tới nhà trường, thay vì chỉ dựa vào thông tin từ từng doanh nghiệp riêng lẻ (CĐ#8). Những thông tin này phản ánh vai trò của hiệp hội với tư cách tổ chức tập hợp và truyền tải tiếng nói chuyên môn của ngành nghề trong hoạt động đào tạo.
Tuy nhiên, sự tham gia trực tiếp và thường xuyên của các hiệp hội trong các khâu xây dựng, thẩm định chương trình hoặc đánh giá kết quả đào tạo thuộc Nhóm 1 chưa được ghi nhận rõ nét.
Trong phạm vi dữ liệu khảo sát chưa ghi nhận trường hợp hiệp hội nào trực tiếp tham gia đóng góp xây dựng, thẩm định chương trình hoặc đánh giá kết quả đào tạo thuộc Nhóm 1. Đại diện cơ quan QLNN cũng đánh giá mức độ tham gia của các hiệp hội trong hoạt động đào tạo và đánh giá hiện chưa thật sự nổi bật (NN#2). Đáng chú ý, sự hiện diện của hiệp hội có khác biệt giữa các lĩnh vực: trong khi ngành kỹ thuật lạnh ghi nhận hoạt động kết nối và trao đổi chuyên môn, đại diện một doanh nghiệp trong lĩnh vực ô tô cho biết chưa ghi nhận sự tham gia của hiệp hội ngành trong các hoạt động đào tạo kỹ thuật mà doanh nghiệp đang thực hiện (DN#3). Như vậy, đối với Nhóm 1, vai trò kết nối và tư vấn của hiệp hội đã được ghi nhận, nhưng bằng chứng về sự tham gia trực tiếp, có hệ thống trong quá trình tổ chức và đánh giá đào tạo còn hạn chế.
Đối với Nhóm 2, vai trò của các hiệp hội trong xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và tổ chức đánh giá kỹ năng nghề quốc gia được các bên liên quan nhận định là còn khá mờ nhạt.
Một số đại diện hiệp hội và chuyên gia cho biết quá trình xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia trước đây chủ yếu có sự tham gia của các cơ sở đào tạo, trong khi hiệp hội nghề nghiệp chưa giữ vai trò nổi bật trong việc tập hợp chuyên gia ngành nghề và tổ chức xây dựng tiêu chuẩn (HH#1; QT#3). Dữ liệu khảo sát chưa ghi nhận những trường hợp cụ thể mà hiệp hội trong nước trực tiếp chủ trì xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia đã được công bố hoặc đảm nhiệm vai trò thường xuyên trong các hoạt động đánh giá kỹ năng nghề quốc gia. Do đó, trong phạm vi khảo sát, sự tham gia của hiệp hội đối với Nhóm 2 được phản ánh chủ yếu qua hoạt động góp ý, tư vấn và tham gia thảo luận chính sách, thay vì trực tiếp vận hành hệ thống tiêu chuẩn và đánh giá.
Bên cạnh đó, hoạt động chủ động nghiên cứu, tư vấn và đề xuất chính sách nhằm tăng cường vai trò của hiệp hội trong hệ thống phát triển kỹ năng nghề mới chỉ được ghi nhận ở một số tổ chức, chưa trở thành hoạt động phổ biến của các hiệp hội ngành nghề. Chẳng hạn, đại diện HH#3 cho biết tổ chức đã tham gia nghiên cứu và đề xuất mô hình đào tạo theo nhu cầu doanh nghiệp, trong đó có mô hình hội đồng kỹ năng ngành với sự tham gia của các bên liên quan. Tuy nhiên, dữ liệu khảo sát chưa ghi nhận nhiều hiệp hội thực hiện những hoạt động tương tự; sự tham gia của hiệp hội nhìn chung vẫn chủ yếu dừng ở mức trao đổi, tư vấn và góp ý, chưa thể hiện rõ vai trò chủ trì trong xây dựng tiêu chuẩn hoặc trực tiếp tổ chức đánh giá kỹ năng nghề quốc gia. Các mô hình được đề xuất cũng chưa được ghi nhận là đã triển khai thành những hoạt động đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia do hiệp hội trực tiếp thực hiện.
Đối với Nhóm 3, sự tham gia của các hiệp hội trong nước được ghi nhận chủ yếu ở hoạt động phổ biến thông tin, kết nối chuyên gia và hỗ trợ cập nhật kiến thức, công nghệ trong ngành nghề, trong khi vai trò trực tiếp tổ chức đánh giá và cấp chứng nhận chưa nổi bật.
Trong lĩnh vực kỹ thuật lạnh và điều hòa không khí, hiệp hội duy trì mạng lưới chuyên gia, nhà khoa học và các tổ chức hoạt động trong ngành, tạo điều kiện cho việc trao đổi thông tin chuyên môn và cập nhật công nghệ (HH#2). Tuy nhiên, các trường hợp được khảo sát chưa ghi nhận hiệp hội này trực tiếp vận hành một hệ thống chứng nhận kỹ thuật chung cho các doanh nghiệp thành viên. Trong lĩnh vực ô tô, đại diện doanh nghiệp cũng cho biết chưa ghi nhận vai trò trực tiếp của hiệp hội ngành đối với hoạt động đào tạo, đánh giá và chứng nhận kỹ thuật chuyên môn (DN#1, DN#3). Những bằng chứng này cho thấy sự tham gia của hiệp hội trong nước đối với Nhóm 3 hiện được phản ánh rõ hơn ở chức năng kết nối và hỗ trợ chuyên môn so với chức năng tổ chức đánh giá và chứng nhận nghề nghiệp.
"Nếu như một doanh nghiệp người ta đưa ý kiến thì đấy là ý kiến chủ quan của doanh nghiệp đó. Nhưng khi lấy ý kiến từ hội thì hội là tập hợp của rất nhiều doanh nghiệp, từ đó sẽ chọn lựa được các tiêu chí, tiêu chuẩn bao quát được chuyên môn nghề nghiệp khi đưa vào nhà trường." (CĐ#8)
Giá trị riêng của hiệp hội là có thể tổng hợp yêu cầu từ nhiều doanh nghiệp thành ý kiến tham chiếu rộng hơn cho chuẩn đầu ra và nội dung CTĐT. Đây là đóng góp về tính đại diện của thông tin, khác với ý kiến kỹ thuật riêng của một doanh nghiệp.
HH#2 bổ sung một chiều hoạt động khác: hiệp hội tiếp nhận, phổ biến và phản hồi thông tin chính sách giữa doanh nghiệp với cơ quan QLNN. Dữ kiện này làm rõ kênh đối thoại hai chiều, không thay cho chức năng tổ chức đánh giá hoặc cấp chứng nhận.
Tuy nhiên, vai trò điều phối thường xuyên trong xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng ngành và huy động doanh nghiệp tham gia đào tạo chưa được thể hiện rõ ở các trường hợp khảo sát. NN#2 nhận xét sự tham gia "cũng chưa thật sự là tốt" so với một số mô hình quốc tế mà người trả lời biết đến. Nhận định này phản ánh góc nhìn phỏng vấn, chưa đủ để khái quát mức độ hoạt động của toàn bộ hiệp hội trong nước.
Dữ liệu phỏng vấn đồng thời ghi nhận đề xuất phát triển mô hình hội đồng kỹ năng ngành với sự tham gia chủ động của doanh nghiệp và hiệp hội, nhằm tổng hợp yêu cầu năng lực từ nhiều doanh nghiệp và tạo cơ sở tham vấn cho hoạt động đào tạo (HH#3). Đây là định hướng được người tham gia phỏng vấn đề xuất, không phải một mô hình đã được xác nhận là triển khai rộng rãi trong thực tế khảo sát.
Đối tác quốc tế và tổ chức phát triển
Pháp luật Việt Nam có quy định về hợp tác quốc tế trong GDNN và phát triển kỹ năng nghề, nhưng không quy định trực tiếp một hệ thống vai trò, trách nhiệm và thẩm quyền chung của các tổ chức phát triển quốc tế đối với việc đào tạo, đánh giá và cấp văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận trong cả ba hệ thống. Theo Luật GDNN số 124/2025/QH15, Luật Việc làm số 74/2025/QH15 và các văn bản hướng dẫn, các hoạt động hợp tác quốc tế có thể được triển khai thông qua chương trình, dự án, thỏa thuận hợp tác và các cơ chế phù hợp với pháp luật Việt Nam. Trong khuôn khổ đó, các tổ chức phát triển quốc tế có thể tham gia hỗ trợ kỹ thuật, tư vấn chính sách, nghiên cứu, phát triển tiêu chuẩn và CTĐT, nâng cao năng lực cho các bên liên quan và hỗ trợ hoàn thiện hệ thống đánh giá kỹ năng nghề. Tuy nhiên, đây là những hình thức tham gia có thể thực hiện theo chương trình, dự án và thỏa thuận cụ thể, có sự phê duyệt từ cơ quan QLNN.
Xem chi tiết thực trạng tham gia của đối tác quốc tế và tổ chức phát triển
Kết quả khảo sát cho thấy các đối tác phát triển quốc tế đã có sự tham gia tích cực vào hoạt động phát triển GDNN và kỹ năng nghề tại Việt Nam, chủ yếu thông qua hỗ trợ kỹ thuật, chuyển giao kinh nghiệm, tăng cường năng lực và thí điểm các mô hình đào tạo, đánh giá mới. Vai trò này được ghi nhận rõ nhất trong Nhóm 1, với sự tham gia của các tổ chức và chương trình như QT#1, QT#2, QT#3. Đối với Nhóm 2, hoạt động được ghi nhận chủ yếu tập trung vào tư vấn, trao đổi kinh nghiệm và hỗ trợ hoàn thiện chính sách phát triển kỹ năng nghề. Trong Nhóm 3, một số đối tác tham gia xây dựng CTĐT theo tiêu chuẩn quốc tế và phối hợp xác nhận kết quả đào tạo trong khuôn khổ dự án. Nhìn chung, các đối tác phát triển chủ yếu đảm nhiệm vai trò hỗ trợ và nâng cao năng lực cho các tổ chức trong nước, thay vì trực tiếp thực hiện chức năng quản lý hoặc cấp văn bằng, chứng chỉ thuộc thẩm quyền của Nhà nước.
Đối với Nhóm 1, đóng góp nổi bật của các đối tác phát triển là hỗ trợ đồng bộ về chương trình, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất và phương thức tổ chức đào tạo. Đại diện một tổ chức hợp tác phát triển quốc tế cho biết chương trình đã hỗ trợ các trường xây dựng và triển khai bảy CTĐT định hướng theo tiêu chuẩn nước ngoài, kết hợp đầu tư thiết bị thực hành với hỗ trợ phát triển chương trình và bồi dưỡng giảng viên (QT#1). Trong hoạt động tăng cường hợp tác giữa GDNN và doanh nghiệp, tổ chức này còn tư vấn cho 11 trường thành lập 23 hội đồng tư vấn nghề, với sự tham gia của gần 140 doanh nghiệp tại thời điểm phỏng vấn (QT#1). Đại diện một cơ sở GDNN cũng xác nhận đối tác quốc tế đã hỗ trợ kỹ thuật trong nhiều năm, đặc biệt về CTĐT và thiết bị thực hành (CĐ#6). Những trường hợp này cho thấy các đối tác phát triển không chỉ cung cấp nguồn lực vật chất mà còn trực tiếp tham gia tư vấn, hỗ trợ thiết lập các cơ chế và năng lực tổ chức đào tạo tại cơ sở GDNN.
Đối tác phát triển hỗ trợ chuyển các sáng kiến của trường thành tài liệu và công cụ có thể chia sẻ. Trong hợp tác với QT#1, tài liệu của mô-đun xanh tại CĐ#1 được chia sẻ với hơn 40 cơ sở GDNN; nội dung và kết quả cấp chứng nhận của mô-đun được trình bày ở Lộ trình 2D. QT#2 hỗ trợ thí điểm tích hợp kỹ năng xanh tại ba trường cao đẳng và xây dựng cẩm nang hướng dẫn. CĐ#17 cho biết hỗ trợ kỹ thuật giúp trường hình thành quy trình lồng ghép yêu cầu chuyển đổi xanh vào môn học, mô-đun. Điểm đóng góp ở đây là phát triển phương pháp, công cụ và năng lực triển khai, không chỉ bổ sung một khóa học (CĐ#1, CĐ#17).
Bên cạnh hỗ trợ trực tiếp cho cơ sở đào tạo, một số đối tác phát triển còn tham gia tư vấn chính sách và thúc đẩy đổi mới phương thức xây dựng chương trình, đánh giá kỹ năng nghề. Đại diện QT#3 cho biết chương trình tập trung hỗ trợ tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp trong quá trình xây dựng chuẩn đầu ra và tổ chức đào tạo, đồng thời tham gia trao đổi, tư vấn về các phương thức đánh giá và công nhận kết quả học tập, kỹ năng nghề đã tích lũy. QT#1 và QT#2 cũng tổ chức hoạt động tư vấn, chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về tổ chức đào tạo, phát triển tiêu chuẩn và tăng cường sự tham gia của các bên liên quan. Tuy nhiên, đối với Nhóm 2, dữ liệu khảo sát chưa ghi nhận rõ các trường hợp đối tác phát triển trực tiếp tổ chức xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia đã được công bố, vận hành tổ chức đánh giá hoặc tham gia cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia. Vì vậy, đóng góp đối với hệ thống này được phản ánh chủ yếu ở hoạt động hỗ trợ kỹ thuật, tư vấn và phát triển năng lực, chưa thể hiện rõ ở các chức năng vận hành trực tiếp.
Đối với Nhóm 3, đối tác phát triển có thể tham gia xác nhận kết quả trong phạm vi thỏa thuận dự án. Trường hợp CĐ#1 ghi nhận hỗ trợ xây dựng CTĐT theo tiêu chuẩn nước ngoài, bồi dưỡng giảng viên và theo dõi triển khai; trong năng lượng tái tạo còn có hỗ trợ nội dung vận hành, bảo trì điện gió và phối hợp xác nhận hoàn thành chương trình với tổ chức trong nước. Vai trò này mang tính hỗ trợ chuyên môn và kiểm soát thực hiện theo chương trình hợp tác; tổ hợp văn bản được cấp chỉ được mô tả tại Lộ trình 2E.
Nhìn chung, đóng góp nổi bật nhất của các đối tác phát triển quốc tế là cung cấp hỗ trợ kỹ thuật, phương pháp và nguồn lực nhằm tăng cường năng lực của các tổ chức trong nước trong phát triển chương trình, tổ chức đào tạo và đánh giá kỹ năng nghề. Một số chương trình đã vượt ra ngoài phạm vi hỗ trợ riêng lẻ để phát triển tài liệu hướng dẫn, xây dựng mô hình thí điểm và hỗ trợ thiết lập các cơ chế hợp tác có khả năng áp dụng tại nhiều cơ sở GDNN. Tuy nhiên, mức độ tham gia khác nhau giữa ba hệ thống: hoạt động thực tế được ghi nhận rõ nét nhất trong Nhóm 1, hạn chế hơn ở Nhóm 2 và tập trung vào một số chương trình hợp tác cụ thể trong Nhóm 3. Trong các trường hợp được khảo sát, các đối tác phát triển chủ yếu đóng vai trò hỗ trợ chuyên môn, phát triển năng lực và thúc đẩy đổi mới, không thay thế chức năng quản lý, tổ chức đánh giá hoặc cấp chứng chỉ của các chủ thể có thẩm quyền trong nước.
Người học, người lao động
Người học và người lao động là chủ thể trực tiếp tham gia các hoạt động đào tạo, đánh giá và tiếp nhận văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận trong cả ba hệ thống. Khác với các bên liên quan có chức năng quản lý, tổ chức đào tạo, đánh giá hoặc cấp chứng nhận, vai trò của người học và người lao động chủ yếu được thể hiện thông qua việc tham gia các chương trình phát triển năng lực, thực hiện đánh giá kết quả học tập và kỹ năng nghề nghiệp. Đối với Nhóm 1, họ là đối tượng tham gia CTĐT và các hoạt động đánh giá do cơ sở GDNN tổ chức. Đối với Nhóm 2, người lao động và các cá nhân đáp ứng điều kiện có thể đăng ký tham gia đánh giá kỹ năng nghề quốc gia. Đối với Nhóm 3, họ là đối tượng tham gia các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, sát hạch và đánh giá năng lực tại doanh nghiệp hoặc theo chương trình, tiêu chuẩn của hãng công nghệ và tổ chức chuyên môn.
Xem chi tiết thực trạng tham gia của người học, người lao động
Kết quả khảo sát cho thấy người học và người lao động tham gia vào cả ba hệ thống văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận, nhưng với hình thức và mức độ chủ động khác nhau. Đối với Nhóm 1, sự tham gia chủ yếu được thể hiện thông qua việc đăng ký học, thực hiện CTĐT và tham gia các hoạt động đánh giá kết quả học tập tại cơ sở GDNN. Đối với Nhóm 2, hoạt động chủ động đăng ký tham gia đánh giá kỹ năng nghề quốc gia của người học, người lao động chưa được ghi nhận rõ nét. Trong khi đó, đối với Nhóm 3, dữ liệu phản ánh nhiều hình thức tham gia đa dạng hơn, từ đào tạo, sát hạch kỹ năng nội bộ đến các CTĐT, chứng nhận theo tiêu chuẩn của hãng công nghệ và tổ chức chuyên môn quốc tế.
Đối với Nhóm 1, người học tham gia hệ thống với tư cách chủ thể trực tiếp lựa chọn CTĐT, thực hiện các hoạt động học tập, thực hành, thực tập và đánh giá để hoàn thành chương trình. Kết quả khảo sát
Một số đại diện cơ sở GDNN ghi nhận những chuyển biến trong lựa chọn học nghề của học sinh và phụ huynh, đặc biệt là sự quan tâm ngày càng tăng đối với các chương trình cao đẳng có định hướng thực hành và gắn với việc làm (CĐ#8, CĐ#9). Bên cạnh các CTĐT tại trường, người học còn trực tiếp tham gia những mô hình đào tạo phối hợp, trong đó một phần quá trình học tập và thực hành được tổ chức tại doanh nghiệp (CĐ#4, TT#3). Dữ liệu thảo luận nhóm sinh viên cũng ghi nhận nhu cầu được tiếp cận thiết bị, công nghệ mới và kết hợp học tập với làm việc thực tế. Các sinh viên tham gia thảo luận nhóm bày tỏ mong muốn có thêm cơ hội thực hành trên các hệ thống xe điện, thiết bị kỹ thuật hiện đại và được bố trí lịch học linh hoạt hơn để có thể vừa học vừa làm. Những thông tin này cho thấy người học không chỉ tham gia CTĐT theo kế hoạch của nhà trường mà còn thể hiện nhu cầu chủ động lựa chọn nội dung và phương thức học tập phù hợp với định hướng nghề nghiệp của mình.
Kết quả thảo luận nhóm sinh viên cho thấy mức độ hiểu biết của người học về ngành nghề, CTĐT và các văn bằng, chứng chỉ có sự thay đổi rõ rệt giữa thời điểm lựa chọn ngành học và quá trình tham gia đào tạo. Trước khi nhập học, sinh viên chủ yếu nắm được những thông tin cơ bản như thời gian đào tạo, trình độ và văn bằng được cấp sau khi tốt nghiệp, trong khi hiểu biết về cấu trúc chương trình, hoạt động hợp tác với doanh nghiệp và cơ hội tham gia các CTĐT, chứng nhận theo tiêu chuẩn của hãng còn tương đối hạn chế. Để tìm hiểu ngành học, sinh viên sử dụng nhiều nguồn thông tin khác nhau, bao gồm website và các kênh truyền thông của nhà trường, tư vấn tuyển sinh, sinh viên khóa trước, người thân và người quen đang làm việc trong lĩnh vực chuyên môn. Trong đó, thông tin từ những người có kinh nghiệm thực tế trong nghề được một số sinh viên đặc biệt tin tưởng khi đưa ra quyết định lựa chọn ngành học. Sau khi nhập học, thông qua hoạt động giới thiệu, tư vấn của giảng viên và quá trình học tập thực tế, sinh viên thể hiện sự hiểu biết cụ thể hơn về cấu trúc chương trình, tỷ trọng thực hành, thời gian thực tập tại doanh nghiệp, yêu cầu đánh giá tay nghề và những chương trình hợp tác đào tạo với các hãng công nghệ. Những kết quả này cho thấy sự tham gia của người học không chỉ thể hiện ở việc lựa chọn và thực hiện CTĐT mà còn ở quá trình chủ động tìm kiếm, tiếp nhận và làm rõ thông tin về ngành nghề, CTĐT và các cơ hội phát triển kỹ năng.
Về định hướng phát triển nghề nghiệp, dữ liệu thảo luận nhóm cho thấy đa số sinh viên đã hình thành định hướng nghề nghiệp tương đối rõ ràng và chủ động xác định kế hoạch học tập, làm việc sau khi tốt nghiệp. Các định hướng được ghi nhận khá đa dạng, trong đó nhiều sinh viên dự kiến đi làm ngay tại các doanh nghiệp, hãng công nghệ hoặc đơn vị dịch vụ kỹ thuật để vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học và tích lũy kinh nghiệm thực tế. Một số sinh viên đã bắt đầu tham gia làm việc tại các xưởng, cơ sở dịch vụ ngay trong thời gian học và dự kiến tiếp tục làm việc tại doanh nghiệp trong khoảng 2–3 năm sau tốt nghiệp trước khi lựa chọn hướng phát triển tiếp theo. Bên cạnh đó, một bộ phận sinh viên có kế hoạch học liên thông lên đại học để nâng cao trình độ chuyên môn và chuẩn bị cho các vị trí nghề nghiệp cao hơn; một số khác dự định tích lũy kinh nghiệm, nguồn vốn để tự mở xưởng hoặc cơ sở kinh doanh dịch vụ kỹ thuật. Ngoài ra, một số sinh viên chủ động học thêm ngoại ngữ, chuẩn bị điều kiện để làm việc tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc tìm kiếm cơ hội làm việc ở nước ngoài. Những thông tin này cho thấy người học không chỉ tham gia CTĐT để hoàn thành yêu cầu tốt nghiệp mà còn chủ động định hình các hướng phát triển nghề nghiệp khác nhau, trong đó việc làm, tiếp tục học tập và tự tạo việc làm đều được xác định như những lựa chọn cụ thể sau khi hoàn thành chương trình GDNN. Tuy nhiên, các định hướng này mới phản ánh ý kiến của những sinh viên tham gia thảo luận nhóm, chưa đủ cơ sở để khái quát cho toàn bộ người học GDNN.
Đối với Nhóm 2, sự tham gia của người học và người lao động vào hoạt động đánh giá kỹ năng nghề quốc gia được phản ánh tương đối mờ nhạt trong dữ liệu khảo sát.
Dữ liệu chưa cho phép xác định quy mô hoặc tỷ lệ người lao động chủ động đăng ký đánh giá trong Nhóm 2. Mức độ sử dụng chứng chỉ và nhóm đối tượng được ghi nhận rõ hơn được phân tích ở HOW – Giá trị sử dụng của chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; các cân nhắc của cá nhân được phân tích ở WHY – Động lực người học, người lao động.
Đối với Nhóm 3, người học và người lao động tham gia tích cực hơn vào các CTĐT, sát hạch và chứng nhận kỹ năng nghề gắn với yêu cầu công việc, trong đó có cả hoạt động do doanh nghiệp tổ chức và hoạt động do cá nhân chủ động đăng ký. Một hình thức tham gia đáng chú ý trong Nhóm 3 là người lao động chủ động tham gia các CTĐT, đánh giá chuyên môn quốc tế và sẵn sàng tự đầu tư cho việc phát triển kỹ năng nghề.
Dữ liệu khảo sát ghi nhận người lao động tham gia các kỳ đánh giá năng lực nội bộ, kiểm tra tay nghề và xác nhận cấp độ chuyên môn tại các doanh nghiệp (DN#9, DN#8, DN#2). Trong những hoạt động này, người lao động trực tiếp thực hiện các bài kiểm tra hoặc đánh giá kỹ năng nghề theo chương trình và yêu cầu chuyên môn của đơn vị. Bên cạnh đó, sinh viên các ngành kỹ thuật cũng tham gia những khóa đào tạo, đánh giá theo tiêu chuẩn của hãng công nghệ được tổ chức trong khuôn khổ hợp tác giữa cơ sở GDNN và doanh nghiệp. Tại một cuộc thảo luận nhóm, một sinh viên cho biết đã tham gia CTĐT và nhận chứng nhận kỹ thuật của hãng, đồng thời đang thực hiện công việc bảo dưỡng thiết bị trong thời gian học tập. Đây là trường hợp phản ánh sự tham gia đồng thời vào hoạt động đào tạo tại trường và đào tạo, chứng nhận kỹ năng theo tiêu chuẩn doanh nghiệp.
Nhìn chung, kết quả khảo sát phản ánh sự tham gia của người học, người lao động rõ nét hơn trong các hoạt động đào tạo và đánh giá thuộc Nhóm 1 và Nhóm 3, trong khi sự tham gia chủ động vào hệ thống đánh giá kỹ năng nghề quốc gia thuộc Nhóm 2 còn tương đối hạn chế. Đặc biệt, trong Nhóm 3 đã ghi nhận một số trường hợp người lao động chủ động tham gia đào tạo, sát hạch và tự đầu tư cho phát triển kỹ năng nghề ngoài các hoạt động do doanh nghiệp bố trí. Tuy nhiên, phần lớn thông tin về nhóm chủ thể này được thu thập gián tiếp thông qua phỏng vấn cơ sở GDNN, doanh nghiệp và các bên liên quan; dữ liệu trực tiếp từ người học, người lao động còn hạn chế. Vì vậy, những nhận định trên chủ yếu phản ánh các hình thức tham gia và mức độ chủ động được ghi nhận trong khảo sát, chưa đủ cơ sở để xác định mức độ phổ biến hoặc đại diện cho toàn bộ người học, người lao động trong ba hệ thống.
Tổng hợp vai trò của các bên liên quan trong các phương pháp và hệ thống đào tạo, đánh giá và cấp văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận kỹ năng nghề
Phần A. Từ xác định nhu cầu đến tổ chức đào tạo
Bảng A.Tổng hợp vai trò từ xác định nhu cầu đến tổ chức đào tạo
Nhóm/tiểu nhóm
1. Xác định nhu cầu kỹ năng
2. Xây dựng tiêu chuẩn năng lực
3. Phát triển CTĐT
4. Tổ chức đào tạo
Nhóm 1. VB-CC-CN gắn với hệ thống GDNN
1.1. Văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận trong hệ thống giáo dục quốc dân
Cơ sở GDNN xác định nhu cầu đào tạo; doanh nghiệp cung cấp thông tin về vị trí việc làm và kỹ năng cần thiết, bao gồm kỹ năng xanh và công nghệ mới.
Cơ quan QLNN quy định chuẩn CTĐT, yêu cầu về chuẩn đầu ra theo thẩm quyền; cơ sở GDNN cụ thể hóa chuẩn đầu ra, tham khảo ý kiến doanh nghiệp.
Cơ sở GDNN chủ trì xây dựng, cập nhật CTĐT; doanh nghiệp tham gia góp ý hoặc thẩm định theo cơ chế áp dụng.
Cơ sở GDNN chủ trì giảng dạy, thực hành; doanh nghiệp phối hợp tiếp nhận và hướng dẫn sinh viên thực tập.
1.2. Văn bằng của cơ sở GDNN nước ngoài trong chương trình liên kết đào tạo
Cơ sở GDNN Việt Nam phối hợp với đối tác nước ngoài xác định nhu cầu nhân lực và yêu cầu trình độ, kỹ năng nghề.
Cơ sở GDNN và/hoặc GDNN nước ngoài áp dụng tiêu chuẩn năng lực và chuẩn đầu ra của chương trình cấp bằng; phía Việt Nam bảo đảm các yêu cầu pháp luật liên quan tại Việt Nam.
Các bên phối hợp lựa chọn, chuyển giao, điều chỉnh hoặc cùng xây dựng CTĐT theo thỏa thuận liên kết.
Cơ sở GDNN Việt Nam và đối tác nước ngoài phối hợp đào tạo tại Việt Nam hoặc phân chia các giai đoạn đào tạo giữa hai nước.
1.3. Chứng nhận mô-đun/nội dung thuộc CTĐT GDNN
Cơ sở GDNN xác định nhu cầu bổ sung các năng lực chuyên biệt như bảo vệ môi trường, sử dụng năng lượng hiệu quả và kỹ năng số.
Cơ sở GDNN xây dựng chuẩn đầu ra mô-đun; doanh nghiệp hoặc tổ chức quốc tế có thể hỗ trợ xây dựng nội dung chuyên môn.
Cơ sở GDNN thiết kế, tích hợp mô-đun vào CTĐT; đối tác có thể hỗ trợ xây dựng nội dung hoặc tài liệu.
Cơ sở GDNN tổ chức giảng dạy trực tiếp, trực tuyến hoặc kết hợp theo CTĐT.
Nhóm 2. Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
Cơ quan QLNN xác định và tổng hợp nhu cầu phát triển tiêu chuẩn, đánh giá kỹ năng nghề theo lĩnh vực quản lý.
Cơ quan có thẩm quyền tổ chức xây dựng, thẩm định và công bố tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, với sự tham gia của chuyên gia nghề và các bên liên quan.
Hoạt động cấp chứng chỉ không gắn với một CTĐT cụ thể.
Người lao động có thể tích lũy kỹ năng thông qua đào tạo, thực hành hoặc kinh nghiệm làm việc; không bắt buộc hoàn thành một CTĐT riêng trước khi đăng ký đánh giá.
Nhóm 3. Chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận gắn với thị trường lao động
3.1a. Nhóm thẻ an toàn nghề nghiệp
Cơ quan QLNN chuyên ngành xác định các đối tượng, công việc có yêu cầu huấn luyện và bảo đảm an toàn theo quy định.
Cơ quan QLNN có thẩm quyền quy định yêu cầu, nội dung và thời lượng huấn luyện an toàn tương ứng.
Tổ chức huấn luyện hoặc doanh nghiệp đủ điều kiện xây dựng nội dung, tài liệu huấn luyện cụ thể phù hợp với yêu cầu pháp luật.
Tổ chức huấn luyện đủ điều kiện hoặc doanh nghiệp tổ chức huấn luyện lý thuyết và thực hành cho người lao động.
3.1b. Nhóm chứng chỉ năng lực chuyên môn theo pháp luật chuyên ngành
Cơ quan QLNN chuyên ngành xác định yêu cầu năng lực đối với vị trí quản lý năng lượng và hoạt động kiểm toán năng lượng.
Bộ Công Thương quy định yêu cầu chuyên môn, chương trình và cơ chế đánh giá tương ứng với từng loại chứng chỉ.
Cơ sở đào tạo được giao hoặc đủ điều kiện xây dựng tài liệu, kế hoạch giảng dạy trên cơ sở chương trình, yêu cầu chuyên môn được quy định.
Cơ sở đào tạo theo quy định chuyên ngành tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng cho người đáp ứng điều kiện đầu vào.
3.2. Chứng nhận của doanh nghiệp
Doanh nghiệp xác định nhu cầu kỹ năng theo công nghệ, quy trình sản xuất và vị trí việc làm.
Doanh nghiệp xây dựng khung năng lực, tiêu chuẩn kỹ thuật và cấp độ kỹ năng nội bộ.
Doanh nghiệp xây dựng chương trình, tài liệu kỹ thuật và quy trình thao tác theo tiêu chuẩn riêng.
Bộ phận hoặc trung tâm đào tạo nội bộ tổ chức đào tạo, hướng dẫn và kèm cặp nhân viên; có thể mở rộng đến mạng lưới đại lý, đối tác.
3.3. Chứng nhận do cơ sở đào tạo trong nước tự tổ chức
Cơ sở đào tạo xác định nhu cầu kỹ năng của người lao động và thị trường đào tạo ngắn hạn.
Cơ sở đào tạo tự xây dựng mục tiêu, chuẩn đầu ra và yêu cầu năng lực của khóa học.
Cơ sở đào tạo chủ động thiết kế chương trình ngắn hạn, mô-đun chuyên môn hoặc khóa bồi dưỡng theo nhu cầu thị trường.
Cơ sở đào tạo trực tiếp tổ chức giảng dạy, thực hành hoặc bố trí hoạt động đào tạo tại cơ sở sản xuất.
3.4. Chứng nhận từ khóa đào tạo theo đặt hàng của doanh nghiệp
Doanh nghiệp đặt hàng xác định nhu cầu kỹ năng và yêu cầu đào tạo cho người lao động.
Cơ sở đào tạo và doanh nghiệp thống nhất mục tiêu, chuẩn đầu ra và yêu cầu năng lực của khóa học.
Cơ sở đào tạo thiết kế, điều chỉnh chương trình theo yêu cầu kỹ thuật và điều kiện thực tế của doanh nghiệp.
Cơ sở đào tạo tổ chức đào tạo tại cơ sở đào tạo hoặc địa điểm sản xuất của doanh nghiệp, có thể phối hợp với nhân sự kỹ thuật của doanh nghiệp.
3.5. Chứng nhận theo tiêu chuẩn doanh nghiệp/tổ chức quốc tế được ủy quyền
Doanh nghiệp hoặc tổ chức sở hữu tiêu chuẩn xác định yêu cầu năng lực đối với công nghệ, thiết bị hoặc công việc chuyên môn.
Tổ chức sở hữu tiêu chuẩn xây dựng và cập nhật tiêu chuẩn năng lực, điều kiện đánh giá và cấp chứng nhận.
Tổ chức sở hữu tiêu chuẩn xây dựng hoặc chuyển giao chương trình, tài liệu; cơ sở đào tạo được ủy quyền triển khai theo yêu cầu áp dụng.
Cơ sở đào tạo hoặc giảng viên được ủy quyền tổ chức đào tạo theo chương trình và điều kiện được chấp thuận.
3.6. Xác nhận thực tập/học tập tại doanh nghiệp
Cơ sở GDNN và doanh nghiệp thống nhất mục tiêu, nội dung và yêu cầu của đợt thực tập.
Cơ sở GDNN xác định yêu cầu thực tập và tiêu chí đánh giá; doanh nghiệp góp ý theo vị trí việc làm.
Cơ sở GDNN thiết kế học phần, kế hoạch và công cụ theo dõi thực tập trong CTĐT.
Doanh nghiệp bố trí vị trí thực tập, người hướng dẫn và điều kiện thực hành phù hợp.
3.7. Xác nhận hoàn thành CTĐT theo tiêu chuẩn quốc tế
Cơ sở GDNN và đối tác quốc tế xác định nhu cầu nâng cao chất lượng CTĐT theo tiêu chuẩn hoặc mô hình đào tạo quốc tế.
Đối tác quốc tế hỗ trợ tham chiếu, xây dựng hoặc điều chỉnh chuẩn đầu ra theo tiêu chuẩn của chương trình hợp tác.
Cơ sở GDNN phối hợp với đối tác quốc tế xây dựng, điều chỉnh hoặc triển khai CTĐT theo mô hình hợp tác.
Cơ sở GDNN chủ trì đào tạo; chuyên gia hoặc đối tác quốc tế có thể tham gia hỗ trợ chuyên môn, hướng dẫn và giám sát.
Phần B. Từ đánh giá đến công nhận và sử dụng kết quả
Bảng B.Tổng hợp vai trò từ đánh giá đến công nhận và sử dụng kết quả
Nhóm/tiểu nhóm
5. Đánh giá kết quả học tập, kỹ năng nghề
6. Cấp VB-CC-CN/xác nhận
7. Bảo đảm và kiểm soát chất lượng
8. Công nhận và sử dụng
Nhóm 1. VB-CC-CN gắn với hệ thống GDNN
1.1. Văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận trong hệ thống giáo dục quốc dân
Cơ sở GDNN tổ chức kiểm tra, đánh giá, xét hoặc thi tốt nghiệp theo quy định; doanh nghiệp có thể tham gia đánh giá kết quả thực tập.
Người đứng đầu cơ sở hoạt động GDNN có thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ hoặc giấy chứng nhận tương ứng với chương trình.
Cơ sở GDNN thực hiện bảo đảm chất lượng nội bộ; cơ quan QLNN kiểm tra, thanh tra theo thẩm quyền.
Người học sử dụng làm minh chứng trình độ đào tạo; doanh nghiệp sử dụng thông tin khi tuyển dụng, bố trí công việc.
1.2. Văn bằng của cơ sở GDNN nước ngoài trong chương trình liên kết đào tạo
Cơ sở GDNN Việt Nam và đối tác nước ngoài thực hiện đánh giá theo chương trình liên kết và yêu cầu cấp bằng tương ứng; doanh nghiệp có thể tham gia đánh giá thực hành.
Cơ sở GDNN nước ngoài cấp văn bằng; phía Việt Nam có thể cấp thêm văn bằng tương ứng nếu chương trình và thỏa thuận cho phép.
Các bên liên kết bảo đảm chất lượng theo yêu cầu của hệ thống cấp bằng và quy định pháp luật có liên quan.
Người học sử dụng văn bằng trong phạm vi được công nhận; doanh nghiệp xem xét khi tuyển dụng theo yêu cầu vị trí việc làm.
1.3. Chứng nhận mô-đun/nội dung thuộc CTĐT GDNN
Giảng viên và bộ phận chuyên môn của cơ sở GDNN đánh giá kết quả mô-đun bằng bài kiểm tra, sản phẩm thực hành hoặc hình thức phù hợp.
Cơ sở GDNN cấp giấy chứng nhận hoàn thành mô-đun hoặc ghi nhận kết quả học tập theo quy chế nội bộ.
Cơ sở GDNN quản lý chất lượng và kết quả học tập; đối tác quốc tế có thể tham gia theo dõi trong phạm vi chương trình hợp tác.
Cơ sở GDNN sử dụng để ghi nhận, tích lũy kết quả học tập; người học có thể sử dụng làm minh chứng năng lực đã đạt được.
Nhóm 2. Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
Tổ chức đánh giá kỹ năng nghề quốc gia được cấp phép thực hiện đánh giá kiến thức chuyên môn, kỹ thuật, kỹ năng thực hành và yêu cầu an toàn theo bậc nghề.
Cơ quan có thẩm quyền cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia từ bậc 1 đến bậc 5 cho người đạt yêu cầu.
Cơ quan QLNN có thẩm quyền quản lý tiêu chuẩn, công cụ đánh giá và giám sát hoạt động đánh giá, cấp chứng chỉ.
Người lao động sử dụng chứng chỉ để minh chứng trình độ kỹ năng nghề; doanh nghiệp sử dụng theo nhu cầu tuyển dụng hoặc yêu cầu pháp luật đối với một số công việc.
Nhóm 3. Chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận gắn với thị trường lao động
3.1a. Nhóm thẻ an toàn nghề nghiệp
Tổ chức huấn luyện hoặc đơn vị sử dụng lao động kiểm tra, sát hạch kiến thức và kỹ năng an toàn theo yêu cầu của từng loại thẻ.
Người sử dụng lao động hoặc tổ chức có thẩm quyền cấp thẻ an toàn theo quy định tương ứng; cần phân biệt thẻ với giấy chứng nhận huấn luyện.
Cơ quan QLNN chuyên ngành kiểm tra việc tuân thủ; đơn vị sử dụng lao động quản lý hoạt động huấn luyện và việc chấp hành quy định an toàn.
Người lao động và người sử dụng lao động sử dụng thẻ để xác nhận điều kiện an toàn khi thực hiện công việc thuộc phạm vi áp dụng.
3.1b. Nhóm chứng chỉ năng lực chuyên môn theo pháp luật chuyên ngành
Cơ sở đào tạo, đơn vị tổ chức đánh giá hoặc cơ quan có thẩm quyền thực hiện đánh giá theo cơ chế riêng của từng loại chứng chỉ.
Cơ quan hoặc cơ sở được giao thẩm quyền cấp chứng chỉ Quản lý năng lượng, chứng chỉ Kiểm toán viên năng lượng theo từng quy định cụ thể.
Bộ Công Thương quản lý, kiểm tra và giám sát việc thực hiện quy định về đào tạo, đánh giá và cấp chứng chỉ.
Cơ sở sử dụng năng lượng, tổ chức kiểm toán năng lượng sử dụng chứng chỉ để xác định việc đáp ứng yêu cầu đối với vị trí, nhiệm vụ chuyên môn.
3.2. Chứng nhận của doanh nghiệp
Giảng viên, bộ phận kỹ thuật hoặc hội đồng đánh giá của doanh nghiệp kiểm tra kiến thức và kỹ năng thực hành theo tiêu chuẩn nội bộ.
Doanh nghiệp cấp giấy chứng nhận, chứng nhận điện tử hoặc ghi nhận cấp độ kỹ năng trên hệ thống quản lý nội bộ.
Doanh nghiệp kiểm soát chất lượng đào tạo, đánh giá và cấp chứng nhận theo tiêu chuẩn, quy trình của mình.
Doanh nghiệp và mạng lưới trực thuộc sử dụng kết quả để phân công công việc, phân cấp kỹ thuật viên và phát triển nhân sự; doanh nghiệp khác không tự động công nhận tương đương.
3.3. Chứng nhận do cơ sở đào tạo trong nước tự tổ chức
Cơ sở đào tạo tổ chức kiểm tra kiến thức, đánh giá kỹ năng thực hành hoặc xác nhận hoàn thành khóa học theo tiêu chuẩn đã xây dựng.
Cơ sở đào tạo cấp giấy chứng nhận hoàn thành khóa học theo chương trình và thẩm quyền áp dụng.
Cơ sở đào tạo chịu trách nhiệm về nội dung, chất lượng và kết quả đào tạo theo cơ chế tổ chức và quy định có liên quan.
Người học sử dụng làm minh chứng tham gia hoặc hoàn thành khóa học; doanh nghiệp có thể tham khảo khi đánh giá năng lực ứng viên.
3.4. Chứng nhận từ khóa đào tạo theo đặt hàng của doanh nghiệp
Cơ sở đào tạo phối hợp với doanh nghiệp đặt hàng kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo theo tiêu chí đã thống nhất.
Cơ sở đào tạo cấp giấy chứng nhận hoàn thành khóa học theo chương trình và thỏa thuận với doanh nghiệp.
Cơ sở đào tạo và doanh nghiệp đặt hàng phối hợp theo dõi chất lượng, đánh giá kết quả theo yêu cầu hợp đồng.
Doanh nghiệp đặt hàng sử dụng kết quả để xem xét bố trí, phân công công việc và phát triển nhân sự.
3.5. Chứng nhận theo tiêu chuẩn doanh nghiệp/tổ chức quốc tế được ủy quyền
Cơ sở đào tạo hoặc tổ chức được ủy quyền đánh giá theo tiêu chuẩn, đề kiểm tra và quy trình của tổ chức sở hữu tiêu chuẩn.
Tổ chức sở hữu tiêu chuẩn hoặc cơ sở được ủy quyền cấp chứng nhận theo cơ chế áp dụng; có thể có hình thức phối hợp xác nhận.
Tổ chức sở hữu tiêu chuẩn kiểm soát điều kiện đào tạo, năng lực giảng viên và hoạt động đánh giá theo cơ chế ủy quyền.
Doanh nghiệp, đại lý, nhà thầu hoặc tổ chức có liên quan sử dụng chứng nhận theo phạm vi chấp nhận của từng hệ thống tiêu chuẩn.
3.6. Xác nhận thực tập/học tập tại doanh nghiệp
Doanh nghiệp nhận xét, đánh giá quá trình thực tập; cơ sở GDNN tổng hợp, đánh giá hoặc công nhận kết quả học phần theo quy chế đào tạo.
Doanh nghiệp cấp hoặc ký xác nhận thời gian, nội dung và kết quả thực tập cho người học.
Cơ sở GDNN theo dõi việc thực tập và kiểm tra kết quả; doanh nghiệp giám sát quá trình làm việc, thực hành tại đơn vị.
Cơ sở GDNN sử dụng làm căn cứ đánh giá, công nhận học phần thực tập; người học có thể sử dụng làm minh chứng kinh nghiệm thực hành.
3.7. Xác nhận hoàn thành CTĐT theo tiêu chuẩn quốc tế
Cơ sở GDNN và đối tác quốc tế thực hiện đánh giá theo CTĐT hợp tác; chuyên gia quốc tế có thể tham gia đánh giá trong trường hợp được thỏa thuận.
Cơ sở GDNN và/hoặc đối tác quốc tế cấp giấy xác nhận hoàn thành chương trình theo cơ chế hợp tác; không mặc nhiên cấp văn bằng hoặc chứng chỉ nghề quốc tế độc lập.
Cơ sở GDNN và đối tác quốc tế phối hợp theo dõi, đánh giá chất lượng theo nội dung chương trình hợp tác.
Người học sử dụng giấy xác nhận để minh chứng việc hoàn thành chương trình có áp dụng tiêu chuẩn quốc tế; doanh nghiệp có thể tham khảo khi tuyển dụng.
(Nguồn: Nhóm nghiên cứu tổng hợp từ dữ liệu khảo sát)
Đánh giá về vai trò và sự tham gia của các bên liên quan trong đào tạo, đánh giá và cấp văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận kỹ năng nghề
Kết quả nghiên cứu cho thấy hoạt động đào tạo, đánh giá và cấp văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận tại Việt Nam có sự tham gia của nhiều bên liên quan, với vai trò, trách nhiệm và phạm vi thẩm quyền khác nhau giữa ba hệ thống. Mặc dù khuôn khổ pháp luật đã xác định hoặc tạo cơ sở cho sự tham gia của các chủ thể, mức độ tham gia trên thực tế chưa đồng đều và không phải lúc nào cũng tương xứng với vai trò được quy định hoặc kỳ vọng. Đồng thời, thực tiễn khảo sát ghi nhận sự mở rộng, giao thoa vai trò của một số chủ thể và sự hình thành những mô hình hợp tác đa dạng trong tổ chức đào tạo, đánh giá và chứng nhận kỹ năng nghề. Từ kết quả rà soát pháp lý và khảo sát thực tế, có thể rút ra năm nhận định chính sau đây.
(1) Vị trí và mức độ chủ động của các bên liên quan có sự thay đổi đáng kể giữa ba hệ thống văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận, không phụ thuộc hoàn toàn vào loại hình hay chức năng truyền thống của từng tổ chức.
Cùng một chủ thể có thể giữ vai trò chủ trì trong hệ thống này nhưng chỉ tham gia với tư cách phối hợp hoặc hỗ trợ trong hệ thống khác. Chẳng hạn, cơ sở GDNN giữ vai trò chủ đạo trong tổ chức đào tạo và cấp văn bằng, chứng chỉ thuộc Nhóm 1, nhưng chỉ tham gia đánh giá kỹ năng nghề quốc gia khi được cấp phép trong Nhóm 2; trong khi doanh nghiệp thể hiện vai trò trực tiếp và chủ động hơn trong tổ chức đào tạo, đánh giá và chứng nhận năng lực thuộc Nhóm 3. Điều này cho thấy cần xem xét các bên liên quan dựa trên chức năng thực tế và phạm vi thẩm quyền trong từng hệ thống, thay vì mặc định một vai trò cố định cho mỗi loại hình tổ chức.
(2) Mức độ tham gia thực tế của các bên liên quan chưa tương xứng với phạm vi vai trò được xác lập hoặc khuyến khích trong khuôn khổ pháp luật.
Trong khi chức năng quản lý của cơ quan nhà nước và trách nhiệm tổ chức đào tạo của cơ sở GDNN được thể hiện tương đối rõ, sự tham gia trực tiếp của doanh nghiệp, hiệp hội và các tổ chức chuyên môn vào một số hoạt động xây dựng tiêu chuẩn, đánh giá và chứng nhận chưa được ghi nhận tương xứng với vị trí mà pháp luật dành cho họ. Khoảng cách này đặc biệt đáng chú ý trong hệ thống kỹ năng nghề quốc gia, nơi khuôn khổ pháp luật nhấn mạnh sự tham gia của các chủ thể đại diện nhu cầu sử dụng lao động, nhưng thực tiễn khảo sát chưa cho thấy vai trò nổi bật của các chủ thể này trong vận hành hệ thống. Nhận định này phản ánh sự khác biệt giữa vai trò được quy định và mức độ tham gia được ghi nhận, chưa hàm ý kết luận về nguyên nhân hoặc mức độ tuân thủ pháp luật của từng bên.
(3) Sự tham gia tích cực và có chiều sâu của các bên liên quan hiện được ghi nhận rõ hơn ở những mô hình hợp tác cụ thể, thay vì thể hiện đồng đều trên phạm vi toàn hệ thống.
Một số cơ sở GDNN, doanh nghiệp và tổ chức đối tác đã hình thành các phương thức phối hợp tương đối chặt chẽ, với sự phân công cụ thể trong phát triển chương trình, cung cấp nguồn lực, tổ chức đào tạo và đánh giá. Tuy nhiên, bên cạnh những mô hình chủ động và sáng tạo, dữ liệu cũng ghi nhận những trường hợp sự tham gia mới dừng ở hoạt động tư vấn, hỗ trợ hoặc phối hợp theo từng nhiệm vụ. Điều này cho thấy mức độ tham gia của các chủ thể có sự phân hóa đáng kể, và những mô hình hợp tác tích cực được khảo sát chưa thể xem là đại diện cho thực trạng chung của toàn bộ các cơ sở, doanh nghiệp hoặc ngành nghề.
(4) Vai trò đại diện, điều phối và kết nối ở cấp ngành của các tổ chức trung gian trong nước chưa được thể hiện rõ nét tương xứng với tiềm năng tham gia của nhóm chủ thể này.
Các hiệp hội trong nước được ghi nhận chủ yếu thông qua hoạt động tập hợp ý kiến chuyên môn, kết nối thành viên, tư vấn và tham gia đề xuất chính sách, trong khi sự hiện diện trực tiếp và thường xuyên trong xây dựng tiêu chuẩn, tổ chức đánh giá và chứng nhận còn hạn chế. Ngược lại, một số tổ chức nghề nghiệp quốc tế được khảo sát đã đảm nhiệm những chức năng chuyên môn cụ thể trong hệ thống tiêu chuẩn, đào tạo và đánh giá do họ quản lý. Sự khác biệt này cho thấy vai trò của tổ chức trung gian không chỉ nằm ở đại diện và kết nối các bên liên quan mà còn có thể mở rộng sang thực hiện các chức năng chuyên môn, song mức độ hiện thực hóa những chức năng đó trong các trường hợp khảo sát còn khác nhau.
(5) Các đối tác phát triển quốc tế đã đóng góp đáng kể vào việc mở rộng năng lực và phương thức tham gia của các chủ thể trong nước, nhưng vai trò của họ chủ yếu mang tính hỗ trợ thay vì thay thế chức năng của các tổ chức có thẩm quyền.
Những đóng góp được ghi nhận không chỉ ở việc cung cấp nguồn lực mà còn thông qua hỗ trợ kỹ thuật, phát triển phương pháp, xây dựng công cụ chuyên môn, thí điểm mô hình tổ chức và thúc đẩy sự tham gia của các bên liên quan. Một số hoạt động hỗ trợ đã góp phần hình thành những cách thức hợp tác và tổ chức đào tạo mới tại các cơ sở tham gia dự án. Tuy nhiên, trách nhiệm triển khai và vận hành các hoạt động sau hỗ trợ vẫn thuộc về các cơ quan, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và tổ chức có liên quan theo chức năng và thẩm quyền của mình.
"HOW: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG, CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HỌC TẬP VÀ KỸ NĂNG NGHỀ ĐÃ TÍCH LUỸ"
HOW
Thực trạng sử dụng, công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích luỹ
Sau khi lập bản đồ các nhóm văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận (VBCN) và xác định các bên liên quan, nghiên cứu tập trung phân tích thực trạng sử dụng và công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích luỹ. Nội dung chương này làm rõ các lộ trình đào tạo, đánh giá dẫn tới việc cấp VBCN, cơ chế chia sẻ thông tin, cũng như khả năng công nhận và chuyển đổi kết quả trong nội bộ mỗi hệ thống và giữa các hệ thống với nhau.
Các lộ trình đào tạo, đánh giá dẫn tới cấp văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận
Hình 6.Các lộ trình dẫn tới cấp văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận
Lộ trình 1: Hoàn thành một CTĐT và nhận một văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận
Đây là lộ trình người học hoàn thành một CTĐT hoặc khóa học có mục tiêu, nội dung, thời lượng và yêu cầu hoàn thành xác định, được đánh giá theo yêu cầu của chương trình và được cấp một VB-CC-CN tương ứng khi đáp ứng các điều kiện của hệ thống. Trong lộ trình này, VB-CC-CN là kết quả trực tiếp của quá trình đào tạo và đánh giá, ghi nhận phạm vi học tập hoặc kỹ năng đã đạt được. Việc tiếp nhận, công nhận hoặc chuyển đổi kết quả đó ở một chương trình, tổ chức khác là bước xem xét tiếp theo theo yêu cầu của bên tiếp nhận. Lộ trình hiện diện trong hệ thống GDNN và các hoạt động đào tạo trên thị trường lao động.
Lộ trình 2: Hoàn thành một CTĐT và nhận nhiều văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận
Đây là lộ trình trong đó người học tham gia một CTĐT được thiết kế và tổ chức thống nhất, nhưng sau khi hoàn thành và đáp ứng các yêu cầu tương ứng có thể nhận được từ hai VB-CC-CN trở lên. Khác với mô hình một CTĐT – một VB-CC-CN, mô hình này kết hợp các cơ chế cấp VB-CC-CN của nhiều hệ thống, qua đó kết quả của cùng một quá trình đào tạo được xác nhận dưới những hình thức khác nhau. Đặc trưng của mô hình này là một lộ trình đào tạo dẫn tới nhiều VB-CC-CN đầu ra, trong đó mỗi VB-CC-CN có mục đích, phạm vi xác nhận, điều kiện cấp và chủ thể chịu trách nhiệm riêng. Các VB-CC-CN có thể được cấp trên cơ sở kết quả đánh giá chung hoặc theo những yêu cầu đánh giá riêng của từng hệ thống, tại các thời điểm khác nhau trong quá trình đào tạo hoặc sau khi hoàn thành toàn bộ chương trình. Tuy nhiên, các trường hợp này chưa phải là thực tiễn phổ biến mà mới được ghi nhận trong một số CTĐT có sự hợp tác giữa cơ sở GDNN với doanh nghiệp, hiệp hội, tổ chức nghề nghiệp hoặc tổ chức phát triển quốc tế. Việc người học nhận đồng thời nhiều VB-CC-CN không đồng nghĩa với việc các VB-CC-CN đó có giá trị tương đương hoặc kết quả học tập và kỹ năng nghề được minh chứng bằng các văn bản này sẽ tự động được công nhận, chuyển đổi giữa các hệ thống.
Các lộ trình cụ thể được ghi nhận trong dữ liệu khảo sát
Lộ trình 2A: Văn bằng GDNN Việt Nam đi kèm văn bằng nước ngoài trong chương trình liên kết đào tạo đang được chuẩn bị triển khai
Dữ liệu từ CĐ#2, CĐ#3 ghi nhận phương án liên kết đào tạo ngành Xe năng lượng mới (xe điện) theo mô hình 1+1+1: một năm tại Việt Nam, một năm tại Trung Quốc và một năm học, thực tập tại doanh nghiệp Trung Quốc tại Việt Nam. Theo phương án, người hoàn thành chương trình sẽ nhận hai bằng cao đẳng, một của cơ sở Việt Nam và một của cơ sở nước ngoài. Chương trình dự kiến tuyển sinh từ năm 2027; tại thời điểm khảo sát, đây là kế hoạch đang xây dựng, chưa phải bằng chứng đã có người học nhận đồng thời hai bằng.
Lộ trình 2B: Người học nhận một văn bằng thuộc Tiểu nhóm 1.1, đồng thời nhận thêm một chứng nhận thuộc Tiểu nhóm 3.2 theo tiêu chuẩn của doanh nghiệp
Tại cơ sở GDNN nơi người trả lời CĐ#2-3 công tác, sinh viên theo học chương trình cao đẳng trong lĩnh vực Kỹ thuật điện lạnh được tham gia đào tạo bổ sung theo chương trình hợp tác với một doanh nghiệp sản xuất trong lĩnh vực điều hoà không khí. Bên cạnh CTĐT chính quy của nhà trường, sinh viên được tiếp cận nội dung đào tạo theo tiêu chuẩn kỹ thuật của doanh nghiệp và tham gia đánh giá theo yêu cầu riêng của doanh nghiệp đối tác. Những sinh viên đáp ứng đủ điều kiện có thể nhận đồng thời bằng cao đẳng do nhà trường cấp và chứng nhận đào tạo chuyên môn do doanh nghiệp cấp. Chứng nhận bổ sung không được cấp tự động cho tất cả sinh viên mà phụ thuộc vào việc tham gia và đạt yêu cầu của chương trình hợp tác. (CĐ#2–3)
Lộ trình 2C: Người học nhận một văn bằng thuộc Tiểu nhóm 1.1, đồng thời nhận thêm một xác nhận bổ trợ thuộc Tiểu nhóm 3.6
Tại cơ sở GDNN nơi người trả lời CĐ#1 công tác, sinh viên ngành Công nghệ ô tô được bố trí thực tập tại các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô trong khuôn khổ CTĐT chính quy. Theo thông tin phỏng vấn, sinh viên thực tập tại Doanh nghiệp H. được doanh nghiệp cấp giấy xác nhận đã thực tập. Sau khi hoàn thành CTĐT và đáp ứng các điều kiện tốt nghiệp, sinh viên nhận bằng trung cấp hoặc cao đẳng do nhà trường cấp, đồng thời có thêm giấy xác nhận thực tập của doanh nghiệp. Giấy xác nhận này ghi nhận quá trình thực tập tại doanh nghiệp và có thể được sinh viên sử dụng làm minh chứng kinh nghiệm thực tế khi ứng tuyển hoặc quay trở lại làm việc tại doanh nghiệp sau khi tốt nghiệp. Tuy nhiên, đây là hình thức xác nhận quá trình thực tập, không đồng nghĩa với chứng nhận đạt một trình độ năng lực nghề độc lập. (CĐ#1)
Lộ trình 2D: Người học nhận một văn bằng thuộc Tiểu nhóm 1.1, đồng thời nhận chứng nhận hoàn thành mô-đun thuộc Tiểu nhóm 1.3
Tại cơ sở GDNN của người trả lời CĐ#1, mô-đun “Bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên” có thời lượng 36 giờ, được tích hợp vào 100% CTĐT chính quy trình độ trung cấp, cao đẳng. Hoàn thành đánh giá mô-đun là điều kiện bắt buộc để xét tốt nghiệp và người học được cấp giấy chứng nhận hoàn thành mô-đun. Nhà trường còn tổ chức khóa học trực tuyến về kỹ năng số, với xác nhận hoàn thành trên hệ thống học tập. Vì vậy, người đáp ứng đầy đủ yêu cầu có thể nhận văn bằng tốt nghiệp thuộc Tiểu nhóm 1.1 và hai kết quả bổ trợ cho những nội dung học tập khác nhau. Chứng nhận từng phần ghi nhận kết quả đã đạt, không thay thế văn bằng tốt nghiệp. (CĐ#1)
Lộ trình 2E: Văn bằng GDNN đi kèm chứng nhận của doanh nghiệp và xác nhận hoàn thành chương trình hợp tác quốc tế
Theo QT#1, một số CTĐT cao đẳng hợp tác giữa nhà trường, doanh nghiệp và tổ chức phát triển quốc tế có thể dẫn tới ba kết quả khi người học đáp ứng các yêu cầu tương ứng: bằng cao đẳng chính quy do trường cấp; chứng nhận hoàn thành chương trình do doanh nghiệp đối tác cấp; và giấy xác nhận hoàn thành CTĐT theo tiêu chuẩn quốc tế do cơ sở GDNN và đối tác liên quan xác nhận. Đây là các kết quả có chức năng riêng, không phải ba văn bằng tương đương. Chứng nhận của doanh nghiệp cần được phân loại theo nội dung thực tế, không mặc nhiên xếp thành xác nhận thực tập thuộc Tiểu nhóm 3.6. Sự thay đổi cơ chế đồng ký khi dự án kết thúc được phân tích tại WHY – Cơ chế bảo đảm và kiểm chứng chất lượng.
Lộ trình 2G: Người học nhận một chứng chỉ đào tạo thuộc Tiểu nhóm 1.1, đồng thời nhận thêm một chứng nhận thuộc Nhóm 3 và một chứng chỉ về an toàn lao động thuộc Tiểu nhóm 3.1
Một trường cao đẳng kỹ thuật phối hợp với doanh nghiệp trong lĩnh vực năng lượng tái tạo và một hiệp hội chuyên ngành tổ chức khóa đào tạo ngắn hạn về lắp đặt, vận hành hệ thống điện mặt trời kết hợp pin lưu trữ năng lượng (BESS). Chương trình có thời lượng 32 giờ, kết hợp lý thuyết, thực hành và đánh giá kết quả học tập, tập trung vào thiết kế, lắp đặt, đấu nối, cấu hình, vận hành, kiểm tra hệ thống và các yêu cầu về an toàn kỹ thuật. Theo thông tin công bố của đơn vị tổ chức, học viên hoàn thành chương trình và đáp ứng các yêu cầu đào tạo được cấp đồng thời ba loại VB-CC-CN: (1) chứng chỉ đào tạo chuyên đề do trường cao đẳng cấp; (2) chứng nhận hoàn thành chương trình do hiệp hội chuyên ngành cấp; và (3) chứng chỉ An toàn lao động do trường cao đẳng cấp. Trường hợp này minh họa mô hình một khóa đào tạo dẫn tới nhiều VB-CC-CN, với sự tham gia của các tổ chức khác nhau trong việc đào tạo, xác nhận kết quả và cấp chứng chỉ. (Nguồn: Thông báo khóa đào tạo, 2026)
Lộ trình 3: Đánh giá, công nhận kỹ năng nghề đã tích lũy và cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
Đây là lộ trình trong đó người lao động được đánh giá, công nhận trình độ kỹ năng nghề đã tích lũy thông qua quá trình đào tạo, học tập hoặc kinh nghiệm làm việc thực tế và được cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia khi đáp ứng các điều kiện theo quy định. Khác với Lộ trình 1 và Lộ trình 2, việc cấp chứng chỉ không dựa trên yêu cầu hoàn thành một CTĐT cụ thể mà dựa trên kết quả đánh giá năng lực thực hiện công việc theo tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và bậc trình độ kỹ năng nghề tương ứng. Người lao động đáp ứng điều kiện tham dự theo từng bậc có thể đăng ký đánh giá tại tổ chức được cấp phép, thông qua kiểm tra kiến thức chuyên môn, kỹ thuật, kỹ năng thực hành và việc tuân thủ quy trình an toàn, vệ sinh lao động. Kết quả đánh giá đạt yêu cầu là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, xác nhận trình độ kỹ năng nghề của người lao động theo từng nghề và bậc từ 1 đến 5. Đặc trưng của lộ trình này là công nhận kỹ năng nghề đã tích lũy trên cơ sở đánh giá theo tiêu chuẩn quốc gia, không phụ thuộc vào một con đường đào tạo duy nhất; tuy nhiên, việc có văn bằng, chứng chỉ đào tạo hoặc kinh nghiệm làm việc không đồng nghĩa với việc người lao động tự động được cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia.
Thực trạng triển khai đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
Hoạt động đánh giá và cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia đã được triển khai tại Việt Nam với các hoạt động xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề, phát triển công cụ đánh giá, hình thành mạng lưới tổ chức đánh giá và cấp chứng chỉ cho người lao động. Về tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và công cụ đánh giá, tính tới tháng 02/2025, Việt Nam đã xây dựng, thẩm định và công bố tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia cho 199 nghề, trong đó có 40 nghề được xây dựng hoặc cập nhật theo Nghị định số 31/2015/NĐ-CP và 159 nghề có bộ tiêu chuẩn được xây dựng theo quy định của Luật Dạy nghề trước đây. Ngân hàng đề thi đánh giá kỹ năng nghề quốc gia đã được biên soạn, xây dựng hoặc cập nhật cho 96 nghề, trong đó có 29 nghề theo Nghị định số 31/2015/NĐ-CP. Bên cạnh đó, danh mục cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đánh giá đã được xây dựng cho 22 nghề, trong đó danh mục của 5 nghề đã được ban hành.
Về mạng lưới tổ chức và đội ngũ đánh giá, cả nước có 52 tổ chức được cấp giấy chứng nhận hoạt động đánh giá kỹ năng nghề quốc gia, với phạm vi được cấp phép liên quan đến 59 nghề. Đội ngũ nhân lực phục vụ hoạt động đánh giá gồm gần 1.750 đánh giá viên kỹ năng nghề quốc gia đã được đào tạo, bồi dưỡng và cấp thẻ. Đồng thời, trên 3.000 lượt chuyên gia đã tham gia tập huấn phục vụ công tác biên soạn, xây dựng và thẩm định tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, ngân hàng câu hỏi kiến thức và bài thi thực hành.
Về kết quả đánh giá và cấp chứng chỉ cho người lao động, tính đến thời điểm báo cáo, hệ thống đã tổ chức đánh giá cho hơn 96.000 lượt người lao động, trong đó hơn 83.000 lượt người lao động được công nhận và cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia. Hoạt động đánh giá và cấp chứng chỉ được ghi nhận ở 59 nghề, với các chứng chỉ đã cấp thuộc bậc 1, bậc 2 và bậc 3 của Khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia. Đây là số liệu lũy kế được báo cáo đến tháng 02/2025, không phải số lượng người được đánh giá hoặc cấp chứng chỉ riêng trong năm 2025. Đối với các công việc thuộc diện yêu cầu phải có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, báo cáo ghi nhận danh mục gồm 8 công việc theo quy định tại thời điểm đó. Trong số này, 7 công việc thuộc phạm vi một số nghề đã xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia. Hoạt động đánh giá và cấp chứng chỉ đã được thực hiện cho hơn 60.000 lượt người lao động ở các bậc 1, 2 và 3 thuộc ba nghề: Kỹ thuật cơ điện mỏ hầm lò, Kỹ thuật khai thác mỏ hầm lò và Kỹ thuật xây dựng mỏ hầm lò. Số lượt này là một phần kết quả đánh giá, cấp chứng chỉ đã nêu ở trên, không phải số liệu cộng thêm.
(Nguồn: Cục GDNNGDTX và kết quả phỏng vấn)
Cơ chế chia sẻ thông tin và thực trạng
[ĐANG HOÀN THIỆN]
Sử dụng và các lộ trình công nhận, chuyển đổi trong nội bộ mỗi hệ thống và giữa các hệ thống
"Tôi biết rằng lâu nay vẫn có 3 hệ thống tồn tại - nhưng dường như các hệ thống đó chưa “nói chuyện” được với nhau"
Nhóm 1 - Văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận gắn với hệ thống GDNN
[Trong nội bộ] Giá trị sử dụng, công nhận, liên thông giữa các văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận trong hệ thống GDNN và hệ thống giáo dục quốc dân
Theo quy định pháp luật, văn bằng, chứng chỉ thuộc hệ thống giáo dục quốc dân có giá trị pháp lý trong việc xác nhận trình độ đào tạo, kết quả học tập, kiến thức và kỹ năng mà người học đã đạt được theo yêu cầu của CTĐT. Giá trị này còn được thể hiện ở khả năng sử dụng văn bằng, chứng chỉ và các kết quả học tập đã tích lũy làm căn cứ xem xét tuyển sinh, công nhận kết quả học tập, miễn trừ môn học, mô-đun hoặc chuyển đổi tín chỉ khi người học chuyển chương trình, tiếp tục học tập hoặc liên thông giữa các trình độ đào tạo. Việc công nhận không mang tính tự động mà do cơ sở giáo dục tiếp nhận quyết định trên cơ sở đối sánh chuẩn đầu ra, nội dung và khối lượng học tập, phương pháp và kết quả đánh giá, mức độ đạt được của người học với yêu cầu của CTĐT. Các cơ sở giáo dục có quyền quy định tiêu chí, điều kiện, quy trình xét công nhận và ký kết thỏa thuận công nhận lẫn nhau, đồng thời phải bảo đảm người học hoàn thành tối thiểu 50% tổng khối lượng chương trình tại cơ sở cấp bằng. Những kết quả được công nhận và yêu cầu học tập bổ sung (nếu có) phải được ghi nhận trong hồ sơ học tập, bảo đảm khả năng xác thực, truy xuất dữ liệu và trách nhiệm giải trình.
Dữ liệu khảo sát về công nhận kết quả trong Nhóm 1 cho thấy một quy trình chung: người học nộp đề nghị kèm bảng điểm, thông tin CTĐT và minh chứng; Phòng Đào tạo chuyển hồ sơ đến khoa, bộ phận chuyên môn hoặc hội đồng để đối sánh nội dung, thời lượng, tín chỉ và chuẩn đầu ra. Cơ sở tiếp nhận quyết định phần được công nhận, miễn học hoặc miễn đánh giá và phần phải học bổ sung. Đối với môn chung như chính trị, pháp luật, tin học, ngoại ngữ, bảng điểm thường là căn cứ chính; môn cơ sở ngành/chuyên ngành có thể cần kiểm tra hoặc sát hạch thực hành bổ sung. Đây là nguyên tắc thực hiện chung được dùng để đối chiếu các trường hợp dưới đây, không phải cơ chế tự động chuyển toàn bộ kết quả.
Trường hợp 1.1. Liên thông trong cùng trình độ đào tạo
Liên thông trong cùng trình độ đào tạo là việc người học sử dụng kết quả học tập đã tích lũy để học tập và hoàn thành CTĐT khác trong cùng trình độ đào tạo.
Liên thông giữa các CTĐT trong cùng 1 cơ sở đào tạo [chuyển CTĐT hoặc học 2 CTĐT]
Theo quy định, việc công nhận, chuyển đổi giữa các CTĐT trong cùng một cơ sở đào tạo được thực hiện theo Điều 12. Chuyển ngành, nghề đào tạo và học cùng lúc hai chương trình. Người học được xem xét chuyển ngành, nghề đào tạo hoặc học cùng lúc hai chương trình khi đáp ứng các điều kiện theo quy định của Thông tư 79/2026 này và quy chế đào tạo của cơ sở đào tạo.
Điều 12. Chuyển ngành, nghề đào tạo và học cùng lúc hai chương trình
1. Người học được xem xét chuyển ngành, nghề đào tạo hoặc học cùng lúc hai chương trình khi đáp ứng các điều kiện theo quy định của Quy chế này và quy chế đào tạo của cơ sở đào tạo.
2. Việc chuyển ngành, nghề đào tạo phải bảo đảm các yêu cầu sau:
a) Người học có đơn đề nghị chuyển đổi ngành, nghề đào tạo.
b) Ngành, nghề chuyển đến phù hợp với điều kiện tuyển sinh và nội dung CTĐT, thuộc cùng trình độ đào tạo mà người học đang theo học.
c) Kết quả học tập, môn học, mô đun hoặc tín chỉ đã tích lũy được xem xét công nhận, chuyển đổi theo quy định.
d) Bảo đảm điều kiện tổ chức đào tạo của cơ sở đào tạo.
đ) Việc chuyển ngành, nghề không làm ảnh hưởng đến việc tổ chức đào tạo và quyền lợi của người học khác.
e) Không trong thời gian tạm dừng chương trình đang học, điều chỉnh tiến độ học, bị nhà trường kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên, bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
g) Đối với chương trình giáo dục trung học nghề việc chuyển ngành, nghề đào tạo được thực hiện theo năm học hoặc học kỳ; đối với trình độ trung cấp và cao đẳng việc chuyển đổi ngành, nghề đào tạo phải được thực hiện ngay trong học kỳ đầu tiên của chương trình; đối với trình độ sơ cấp và các chương trình đào tạo nghề khác việc chuyển ngành, nghề đào tạo được thực hiện linh hoạt theo tính chất CTĐT và điều kiện thực tế của cơ sở đào tạo.
3. Người đứng đầu cơ sở đào tạo quyết định việc chuyển ngành, nghề đào tạo và công nhận kết quả học tập đã tích lũy của người học.
4. Thời gian học tối đa để người học chuyển ngành, nghề đào tạo hoàn thành chương trình được quy định tại khoản 3 Điều 4 của Quy chế này và được tính từ khi bắt đầu nhập học ngành, nghề sau khi chuyển.
5. Điều kiện học cùng lúc hai chương trình
a) Người học có đơn đề nghị học cùng lúc hai chương trình.
b) Đã học xong học kỳ thứ nhất đối với chương trình có thời gian đào tạo từ một đến hai năm học, đã học xong học kỳ thứ hai đối với chương trình có thời gian đào tạo trên hai năm học. Kết quả học tập của từng học kỳ đã hoàn thành ở chương trình thứ nhất phải đạt loại khá trở lên.
c) Không trong thời gian tạm dừng chương trình đang học, bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên, bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
6. Cơ sở đào tạo quy định cụ thể hồ sơ, trình tự, thủ tục, thời điểm thực hiện việc chuyển ngành, nghề đào tạo, học cùng lúc hai chương trình và công nhận kết quả học tập của người học theo quy định.
Trong cùng cơ sở GDNN, lợi thế là nhà trường có thể tiếp cận trực tiếp hồ sơ và thông tin của CTĐT đã tổ chức. Việc chuyển sang ngành, nghề gần hoặc học thêm chương trình có thể cho phép kế thừa những nội dung tương ứng; khi hai ngành khác biệt đáng kể, phần chuyên ngành vẫn phải hoàn thành theo chương trình mới. Khảo sát còn ghi nhận bố trí lớp học hoặc thời gian linh hoạt để người học bổ sung phần thiếu, tùy điều kiện của trường.
Liên thông trong cùng trình độ đào tạo giữa các cơ sở đào tạo [chuyển trường]
Việc công nhận, chuyển đổi kết quả học tập trong cùng trình độ đào tạo giữa các cơ sở đào tạo được thực hiện theo quy định tại Điều 14 Thông tư 79/2026 về Chuyển trường. Người học được chuyển trường theo quyết định của cơ quan QLNN có thẩm quyền hoặc theo nguyện vọng của người học, trên cơ sở thỏa thuận giữa người học với cơ sở đào tạo nơi chuyển đi và cơ sở đào tạo nơi chuyển đến.
Điều 14. Chuyển trường
1. Người học được chuyển trường theo quyết định của cơ quan QLNN có thẩm quyền hoặc theo nguyện vọng của người học, trên cơ sở thỏa thuận giữa người học với cơ sở đào tạo nơi chuyển đi và cơ sở đào tạo nơi chuyển đến.
2. Người học được xem xét chuyển trường theo nguyện vọng khi không đang trong thời gian điều chỉnh tiến độ học tập, không đang trong thời gian bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự và không thuộc học kỳ cuối cùng của khóa học; cơ sở đào tạo nơi chuyển đến có ngành, nghề và trình độ đào tạo tương ứng, còn năng lực tiếp nhận.
3. Cơ sở đào tạo nơi chuyển đi có trách nhiệm bàn giao, đồng bộ hóa hồ sơ, dữ liệu học tập của người học trên hệ thống phần mềm quản lý cho cơ sở đào tạo nơi chuyển đến.
4. Cơ sở đào tạo nơi chuyển đến xem xét, quyết định tiếp nhận người học; công nhận, chuyển đổi kết quả học tập đã tích lũy của các môn học, mô đun, tín chỉ tương đương và bố trí người học vào lớp phù hợp.
5. Thời gian tối đa để người học hoàn thành chương trình được tính từ thời điểm nhập học tại cơ sở đào tạo nơi chuyển đến.
6. Người đứng đầu cơ sở đào tạo quy định cụ thể việc chuyển trường trong quy chế đào tạo của cơ sở đào tạo.
Khi chuyển trường, điểm khác biệt là cơ sở tiếp nhận phải sử dụng hồ sơ do đơn vị khác cung cấp. Những giấy tờ được khảo sát đề cập gồm quyết định trúng tuyển, bảng điểm và thông tin CTĐT tại nơi chuyển đi. Bộ phận chuyên môn hoặc hội đồng của trường nhận hồ sơ chịu trách nhiệm thẩm định mức độ đáp ứng yêu cầu của chương trình mới; việc ghép lớp hoặc bố trí thời điểm học phần còn thiếu phụ thuộc kế hoạch và năng lực tổ chức của trường tiếp nhận.
Khó khăn đặc thù của chuyển trường là cùng ngành, nghề nhưng CTĐT có thể được phân chia theo các đơn vị học tập khác nhau. Hãy xét ví dụ dưới đây minh họa sự khác biệt giữa mô-đun tích hợp và môn học riêng lẻ, cùng như cách đối sánh dựa vào tên môn, tín chỉ. Trong những trường hợp được phản ánh, cách đối sánh này có thể khiến nội dung có liên quan về chuyên môn vẫn phải học lại tại cơ sở tiếp nhận.
"CTĐT do các trường tự chủ, cùng 1 nghề Điện công nghiệp bên trường mình đào tạo 12 mô đun, nhưng các trường khác đào tạo hơn 30 môn học, vì bên mình theo hướng tích hợp liên môn và năng lực thực hiện, đào tạo 12 mô đun nhưng 380 giờ, nhưng họ 30 môn học nhưng tổng số giờ còn ít hơn mình. Nên nếu chỉ nhìn vào tên môn thì ko hợp lí." (CĐ#1)
"Thường người ta chỉ công nhận cái trong trường hợp hai tín chỉ bằng nhau và tên y xì nhau... Khác tên, khác môn, khác số tín chỉ là không ok rồi." (CĐ#16)
Nhìn chung, việc công nhận, chuyển đổi kết quả học tập đã tích lũy giữa các cơ sở GDNN đã được thực hiện, nhưng chủ yếu theo cơ chế từng hồ sơ, đối sánh từng chương trình và do cơ sở tiếp nhận quyết định trong phạm vi thẩm quyền. Kết quả nghiên cứu cho thấy phạm vi công nhận thường rõ ràng hơn đối với các môn học chung hoặc những nội dung có mức độ tương đương cao, trong khi việc công nhận các môn học, mô-đun chuyên ngành giữa những chương trình có cấu trúc khác nhau còn hạn chế. Những phát hiện này phản ánh thực trạng công nhận, chuyển đổi giữa các cơ sở GDNN được ghi nhận qua khảo sát, chưa đủ căn cứ để xác định tỷ lệ công nhận thành công hoặc mức độ phổ biến của từng cách thức xét công nhận trên phạm vi toàn hệ thống.
Trường hợp 1.2. Liên thông giữa các trình độ đào tạo
Liên thông giữa các trình độ đào tạo là việc người học sử dụng kết quả học tập đã tích lũy để tiếp tục học tập ở trình độ đào tạo khác nhằm đạt chuẩn đầu ra và đáp ứng điều kiện tốt nghiệp của CTĐT. Hệ thống pháp luật hiện hành đã thiết lập khuôn khổ để đào tạo liên thông giữa các trình độ trong hệ thống giáo dục quốc dân, trên cơ sở kế thừa và công nhận kết quả học tập, kỹ năng nghề đã tích lũy của người học. Các quy định tại Luật Giáo dục, Luật GDNN, Quyết định số 38/2026/QĐ-TTg, Quyết định số 39/2026/QĐ-TTg và các thông tư hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định những con đường liên thông từ trung học nghề lên cao đẳng, từ trình độ trung cấp lên cao đẳng và từ cao đẳng lên đại học. Đối với liên thông từ trung học nghề lên cao đẳng, trung cấp lên cao đẳng, chương trình và khối lượng học tập được xác định phù hợp với trình độ đầu vào, kết hợp xem xét công nhận các môn học, mô-đun và tín chỉ đã tích lũy. Đối với liên thông từ cao đẳng lên đại học, cơ sở giáo dục đại học xem xét công nhận, chuyển đổi kết quả học tập trên cơ sở đối sánh chuẩn đầu ra, nội dung, khối lượng học tập và kết quả đánh giá, đồng thời bảo đảm người học hoàn thành tối thiểu 50% tổng khối lượng chương trình tại cơ sở cấp bằng. Nhìn chung, các quy định tạo cơ sở pháp lý cho việc tiếp tục học tập giữa các trình độ mà không phải học lại những nội dung đã được công nhận, nhưng việc công nhận và xác định khối lượng học tập cần phải hoàn thành không mang tính tự động mà thuộc trách nhiệm xem xét, quyết định của cơ sở giáo dục tiếp nhận theo quy định.
Trong liên thông giữa các trình độ, dữ liệu khảo sát ghi nhận các hướng từ mô hình song bằng 9+ lên cao đẳng, từ trung cấp lên cao đẳng và từ cao đẳng lên đại học. Phần phân tích dưới đây tập trung vào cấu trúc kế thừa, cách tổ chức học bổ sung và khác biệt giữa thực tiễn đã triển khai với kỳ vọng về trung học nghề; quy trình xét công nhận chung đã trình bày ở đầu mục Nhóm 1.
Liên thông từ CTĐT trình độ trung cấp kèm theo kiến thức văn hoá THPT (mô hình 9+) lên cao đẳng, trung học nghề lên cao đẳng, trung cấp lên cao đẳng
Ở những trường đã triển khai liên thông 9+ hoặc trung cấp lên cao đẳng, việc tổ chức học bổ sung được bố trí bằng ghép lớp hoặc các thời điểm học khác nhau. Mức độ linh hoạt vẫn phụ thuộc điều kiện tổ chức của từng trường. Dữ liệu đáng chú ý hơn là một số cơ sở thiết kế sẵn cấu trúc chương trình kế thừa, qua đó giảm nhu cầu đối sánh lại từng nội dung khi người học quay lại học ở trình độ cao hơn.
Đối với khả năng tích lũy và công nhận kết quả, phỏng vấn ghi nhận một số cơ sở đào tạo đã chủ động thiết kế CTĐT theo hướng tích hợp, kế thừa giữa các trình độ, nhằm tạo thuận lợi cho việc công nhận kết quả học tập đã tích lũy và liên thông của người học (CĐ#12, CĐ#16, CĐ#17). Theo mô hình này, chương trình cao đẳng được xây dựng bao trùm chương trình trung cấp, trong khi một số mô-đun thuộc chương trình trung cấp, cao đẳng có thể được tách ra để tổ chức đào tạo trình độ sơ cấp hoặc các khóa ngắn hạn. Một đại diện trường cao đẳng cho biết: “Chương trình trung cấp là nằm trong chương trình cao đẳng [...] 2 năm đầu của cao đẳng là chương trình trung cấp [...] các bạn sẽ học tích lũy thêm bao nhiêu mô-đun nữa thì các bạn sẽ đạt chuẩn cao đẳng” (CĐ#12). Với cách thiết kế này, người học có thể hoàn thành chương trình ở trình độ thấp hơn, tham gia thị trường lao động và sau đó quay lại tiếp tục tích lũy các mô-đun còn thiếu để đạt trình độ cao hơn. Các kết quả học tập từ khóa đào tạo ngắn hạn cũng có thể được xem xét công nhận khi người học tiếp tục chương trình trung cấp hoặc cao đẳng, trên cơ sở đối sánh và đáp ứng các yêu cầu tương ứng. Mô hình này được các cơ sở GDNN đánh giá là tạo thuận lợi cho việc đối sánh, công nhận và chuyển đổi kết quả học tập do các chương trình được thiết kế có tính kế thừa ngay từ đầu, đồng thời hỗ trợ tổ chức đào tạo linh hoạt và sử dụng hiệu quả nguồn lực của nhà trường (CĐ#16, CĐ#17).
Bên cạnh đó, kết quả phỏng vấn ghi nhận mô hình trung học nghề được một số đại diện cơ quan QLNN và cơ sở GDNN đánh giá khá tích cực về khả năng kết hợp kiến thức văn hóa với đào tạo nghề, giúp người học định hướng nghề nghiệp sớm và thuận lợi hơn khi tiếp tục liên thông lên trình độ cao hơn. Đặc biệt, việc tích hợp chương trình văn hóa và chuyên môn nghề trong ba năm được kỳ vọng sẽ khắc phục tình trạng người học hoàn thành chương trình trung cấp nhưng vẫn phải chờ hoàn thành yêu cầu học tập văn hóa để đủ điều kiện liên thông.
"Mô hình trung học nghề nó giải quyết cái vấn đề học sinh được cho liên thông luôn, bởi vì nó không còn phải chờ chương trình cấp 3 nữa" (CĐ#4)
"Sau khi trung học nghề thì các bạn sẽ dành thời gian để học cao đẳng, liên thông lên cao đẳng là hoàn toàn sẽ phù hợp nhất, là bởi vì các bạn sẽ mất thêm khoảng tầm hơn 1 năm nữa... thì các bạn sẽ lấy được cái bằng cao đẳng và gần như các bạn sẽ có cái tay nghề nó vững chắc hơn nhiều." (CĐ#7)
Bên cạnh khả năng liên thông lên cao đẳng, người tốt nghiệp trung học nghề còn được kỳ vọng có thể tham gia thị trường lao động hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn và đáp ứng điều kiện tương ứng.
"Hiện tại cái chuẩn đầu ra của trung học nghề đó là được phép đăng ký lấy cái bằng đó để đi thi đại học rồi nhá, nó như trung học phổ thông trước đây. Nó chỉ ghi là thêm một cái trong cái trung học nghề, cái bảng điểm của em đó là có cả phần nghề và phần văn hóa. Vậy thì em chọn tổ hợp môn để đi thi đại học vẫn đủ điều kiện nếu trong tổ hợp môn của em có cái phần đó." (CĐ#4)
Qua quá trình tổ chức đào tạo cái mô hình 9+, các em học trung cấp sau học tốt nghiệp lớp 9 xong đi học trung cấp. Thì các em nó ra trường chưa đủ 18 tuổi. Nó mới 17 thôi, nó tham gia thị trường lao động thì một số doanh nghiệp nhỏ vừa thì còn tiếp nhận, một số tập đoàn, một số công ty lớn, đặc biệt là cái công ty có vốn nước ngoài là họ từ chối, hạn chế cái lao động dưới 18. Thì cái này cũng là một cái rào cản. Khi có cái hệ trung học nghề thì các em học xong cái trung học nghề các em học trung cấp thì nó sẽ đảm bảo được cái đầu ra quy định về đầy đủ để các em sẵn sàng tham gia cái thị trường lao động thì nó sẽ tốt hơn ạ. (CĐ#12)
Tuy nhiên, tại thời điểm khảo sát, mô hình này chưa được triển khai trên thực tế, nên những lợi ích về khả năng liên thông, khối lượng học tập được công nhận và thời gian đào tạo vẫn là kỳ vọng của người tham gia phỏng vấn, chưa phải kết quả đã được kiểm chứng.
Liên thông từ cao đẳng lên đại học
Đối với liên thông từ cao đẳng lên đại học, dữ liệu khảo sát ghi nhận việc cơ sở giáo dục đại học trực tiếp rà soát, đối sánh chương trình cao đẳng đã hoàn thành với CTĐT đại học, trong một số trường hợp thông qua cơ chế phối hợp giữa trường cao đẳng và trường đại học. Những tín chỉ, học phần có nội dung và yêu cầu tương đương được xem xét công nhận; người học tập trung hoàn thành khối lượng kiến thức, kỹ năng còn thiếu, đặc biệt là các nội dung chuyên môn ở trình độ đại học. Một số trường hợp được khảo sát ghi nhận thời gian học liên thông khoảng 1,5-2 năm, tùy thuộc vào chương trình và khối lượng học tập được công nhận. Đối với người học có nhu cầu chuyển sang ngành đào tạo khác biệt lớn, phạm vi công nhận thu hẹp đáng kể. Dữ liệu phản ánh những trường hợp người học không được tiếp nhận theo lộ trình liên thông trực tiếp mà phải đăng ký CTĐT văn bằng thứ hai, đồng thời hoàn thành các học phần chuyên ngành theo yêu cầu của chương trình mới.
Nhìn chung, dữ liệu liên thông cho thấy hai cách tổ chức: xem xét từng hồ sơ sau khi người học đã hoàn thành CTĐT trước đó, hoặc thiết kế quan hệ kế thừa giữa các trình độ ngay từ đầu. Khác biệt này có ý nghĩa đối với khối lượng đối sánh và khả năng bố trí lộ trình học tiếp. Các thời gian và lợi ích được nêu trong từng trường hợp cần được đọc cùng điều kiện đầu vào, CTĐT tiếp nhận và trạng thái triển khai, không suy thành thời gian liên thông chung cho mọi người học.
[Từ Nhóm 1 sang Nhóm 2] Giá trị sử dụng, công nhận, liên thông từ văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận gắn với hệ thống GDNN sang hệ thống Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
Giá trị sử dụng
Theo Điều 21 Nghị định số 138/2026/NĐ-CP, văn bằng, chứng chỉ GDNN được sử dụng để xác định điều kiện đăng ký dự đánh giá kỹ năng nghề quốc gia ở các bậc tương ứng. Bảng dưới đây so sánh yêu cầu kinh nghiệm làm việc theo trình độ đã có, giúp phân biệt điều kiện tiếp cận kỳ đánh giá với kết quả đánh giá để được cấp chứng chỉ.
Bảng. So sánh điều kiện về kinh nghiệm làm việc để tham dự đánh giá kỹ năng nghề quốc gia theo trình độ đào tạo đã tích lũy
Bậc đánh giá KNNQG
Không có văn bằng, chứng chỉ
Có chứng chỉ sơ cấp
Có bằng trung học nghề/trung cấp
Có bằng cao đẳng
Bậc 2
3 năm
2 năm
Được dự đánh giá ngay
Được dự đánh giá ngay
Bậc 3
6 năm
5 năm
2 năm
Được dự đánh giá ngay
Bậc 4
10 năm
9 năm
6 năm
3 năm
Bậc 5
15 năm
14 năm
12 năm
9 năm
(Nguồn: Tổng hợp từ khoản 2–5 Điều 21 Nghị định số 138/2026/NĐ-CP)
Đơn vị: Số năm kinh nghiệm làm việc tối thiểu trong nghề.
Các chênh lệch trong bảng thể hiện việc kinh nghiệm làm việc và trình độ đào tạo được kết hợp để xác định điều kiện dự đánh giá. Điều cần lưu ý là người học được tiếp cận kỳ đánh giá theo lộ trình phù hợp, không phải được miễn nội dung đánh giá hoặc quy đổi sẵn sang chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia.
Lưu ý: Bảng chỉ so sánh điều kiện về kinh nghiệm làm việc để được đăng ký đánh giá, không phải số năm được miễn học hay mức độ tương đương giữa văn bằng GDNN và chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia.
Ngoài ra, theo Điều 14 Nghị định số 138/2026/NĐ-CP, văn bằng đào tạo còn được sử dụng làm một trong các căn cứ xác định điều kiện chuyên môn đối với đánh giá viên kỹ năng nghề quốc gia. Tùy theo phạm vi bậc trình độ kỹ năng nghề được phép đánh giá, người có bằng cao đẳng hoặc đại học thuộc ngành học phù hợp có thể đáp ứng một trong các phương án về trình độ chuyên môn, khi đồng thời có kinh nghiệm nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu về hoạt động chuyên môn và hoàn thành đào tạo nghiệp vụ đánh giá theo quy định. Trong trường hợp này, văn bằng, chứng chỉ Nhóm 1 được sử dụng để xác định điều kiện tham gia thực hiện hoạt động đánh giá thuộc hệ thống Nhóm 2, thay vì chỉ phục vụ việc đăng ký đánh giá với tư cách người lao động.
Công nhận, liên thông và chuyển đổi từ Nhóm 1 sang Nhóm 2
Kết quả rà soát chưa ghi nhận cơ chế chuyển đổi trực tiếp văn bằng, chứng chỉ thuộc Nhóm 1 thành chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, hoặc miễn một phần/toàn bộ đánh giá chỉ dựa trên việc có văn bằng, chứng chỉ đào tạo. Dữ liệu khảo sát cũng chưa ghi nhận trường hợp chuyển đổi trực tiếp. Kết luận này cần phân biệt với giá trị xác định điều kiện dự đánh giá đã trình bày ở mục Giá trị sử dụng và bảng so sánh ngay trước đó.
[Từ Nhóm 1 sang Nhóm 3] Giá trị sử dụng, công nhận, liên thông từ văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận gắn với hệ thống GDNN sang hệ thống chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận gắn với thị trường lao động
Giá trị sử dụng
Kết quả rà soát pháp lý cho thấy văn bằng thuộc hệ thống giáo dục quốc dân (Nhóm 1) có giá trị làm căn cứ xác định điều kiện về trình độ chuyên môn đối với một số vị trí công việc như người trực tiếp vận hành nhà máy điện có công suất dưới 30MW. Bên cạnh đó, văn bằng Nhóm 1 còn là điều kiện đầu vào để tham gia các CTĐT cấp chứng chỉ quản lý năng lượng và chứng chỉ kiểm toán viên năng lượng. Ngoài ra, kết quả rà soát chưa ghi nhận quy định chung bắt buộc các doanh nghiệp phải sử dụng văn bằng Nhóm 1 làm căn cứ cho quyết định tuyển dụng, bố trí công việc, xếp lương hoặc phát triển nghề nghiệp trong các hệ thống thuộc Nhóm 3.
Theo Điều 3 Nghị định 61/2025/NĐ-CP quy định về tổ chức được cấp giấy phép hoạt động điện lực trong lĩnh vực phát điện khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
...
- Có ít nhất 04 người trực tiếp tham gia công tác vận hành được đào tạo, kiểm tra đáp ứng yêu cầu về vận hành nhà máy điện theo quy định về điều độ, vận hành hệ thống điện quốc gia; được huấn luyện, sát hạch đáp ứng yêu cầu theo quy định về an toàn điện và đáp ứng điều kiện chuyên môn sau đây:
+ Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên chuyên ngành kỹ thuật đối với công trình phát điện có công suất trên 30 MW;
+ Có bằng tốt nghiệp cao đẳng trở lên chuyên ngành kỹ thuật đối với công trình phát điện có công suất từ 10 MW đến 30 MW;
+ Có bằng tốt nghiệp trung cấp trở lên hoặc tương đương chuyên ngành kỹ thuật đối với công trình phát điện có công suất dưới 10 MW.
Theo Thông tư số 53/2025/TT-BCT, người tham gia đào tạo quản lý năng lượng phải có trình độ chuyên môn phù hợp, từ trung cấp hoặc cao đẳng trở lên tùy lĩnh vực hoạt động; đối với đào tạo kiểm toán viên năng lượng, yêu cầu cần bằng cao đẳng trở lên thuộc chuyên ngành năng lượng hoặc kỹ thuật liên quan.
Kết quả khảo sát cho thấy văn bằng, chứng chỉ thuộc hệ thống GDNN có giá trị quan trọng trong tuyển dụng và sử dụng lao động, trước hết với tư cách là minh chứng về trình độ đào tạo và năng lực chuyên môn ban đầu của người lao động.
Theo kết quả khảo sát, doanh nghiệp sử dụng văn bằng, chứng chỉ để xem xét hồ sơ ứng tuyển, xác định mức độ phù hợp với yêu cầu vị trí việc làm và, trong một số trường hợp, làm căn cứ xếp bậc hoặc áp dụng chế độ nhân sự. Một đại diện hiệp hội nhận định, bằng cấp vẫn có giá trị trong tuyển dụng, nhưng “không phải là […] yếu tố quan trọng nhất”, mà được doanh nghiệp sử dụng như một thông tin tham chiếu quan trọng khi xem xét hồ sơ ứng viên (HH#3). Tương tự, một đại diện cơ quan QLNN cho rằng văn bằng thuộc hệ thống giáo dục quốc dân có phạm vi sử dụng tương đối rộng, giúp người tốt nghiệp có nhiều lựa chọn việc làm hơn so với các chứng nhận được thiết kế cho một nhiệm vụ hoặc phạm vi kỹ năng cụ thể (NN#3). Tuy nhiên, giá trị của văn bằng trong tuyển dụng không đồng nghĩa với việc người có bằng đương nhiên đáp ứng yêu cầu công việc. Đối với các vị trí kỹ thuật, đặc biệt là công việc trực tiếp vận hành thiết bị, doanh nghiệp còn xem xét kỹ năng thực hành, kết quả kiểm tra tay nghề và mức độ phù hợp với điều kiện làm việc cụ thể.
Đáng chú ý, đa số người tham gia phỏng vấn đánh giá cao giá trị sử dụng của bằng cao đẳng đối với các vị trí lao động kỹ thuật trực tiếp, phản ánh những tín hiệu tích cực trong đánh giá chất lượng đầu ra của GDNN trong những năm gần đây.
Theo phản ánh của đại diện một số cơ sở GDNN, doanh nghiệp trong các lĩnh vực sản xuất, cơ khí, điện và dịch vụ kỹ thuật có nhu cầu tuyển dụng tương đối lớn đối với người tốt nghiệp cao đẳng, bởi CTĐT chú trọng thực hành và chuẩn bị kỹ năng nghề nghiệp. Một đại diện trường cao đẳng nhận xét: “Đối với cái trình độ cao đẳng, người ta rất thích. Thậm chí có khi thích hơn so với cái đại học” (CĐ#8). Từ góc nhìn doanh nghiệp, đại diện một công ty dịch vụ kỹ thuật cho biết không nhận thấy quá nhiều khác biệt giữa lao động tốt nghiệp cao đẳng và đại học khi tiếp nhận vào công việc, đồng thời đánh giá người học cao đẳng có lợi thế về thời lượng thực hành và khả năng thích ứng với những nhiệm vụ kỹ thuật cụ thể (DN#7). Một đại diện doanh nghiệp trong ngành điện lực cũng nhấn mạnh đặc điểm đào tạo thực hành của các trường nghề: “Trường nghề là thực chiến, là cầm tay chỉ việc” (DN#8). Những nhận định này cho thấy giá trị của bằng cao đẳng được một số doanh nghiệp đánh giá dựa trên mức độ phù hợp với yêu cầu vị trí việc làm và năng lực thực hành, không đơn thuần dựa trên bằng cấp, trình độ đào tạo.
Dữ liệu phỏng vấn cũng phản ánh sự khác biệt về giá trị sử dụng của văn bằng, chứng chỉ giữa các trình độ đào tạo. Trong khi bằng cao đẳng được một số cơ sở GDNN đánh giá là có khả năng đáp ứng tốt nhu cầu tuyển dụng lao động kỹ thuật, bằng trung cấp được phản ánh là gặp khó khăn hơn khi tiếp cận một số doanh nghiệp.
"Bằng cao đẳng thì doanh nghiệp họ rất là hào hứng để họ tiếp nhận, còn bằng trung cấp thì gần như là cũng hơi khó" (CĐ#7)
Đối với chứng chỉ sơ cấp và các chứng chỉ đào tạo ngắn hạn, giá trị sử dụng được ghi nhận rõ hơn trong những trường hợp người lao động đang làm việc cần bổ sung kiến thức, kỹ năng hoặc đáp ứng yêu cầu chuyên môn đối với một công việc cụ thể. Đại diện một cơ sở GDNN cho biết một bộ phận người học sơ cấp là những người đã làm việc tại cơ quan, doanh nghiệp và tham gia đào tạo để đáp ứng yêu cầu về bằng cấp, chứng chỉ đối với công việc đang đảm nhận (CĐ#8). Như vậy, giá trị sử dụng của từng loại văn bằng, chứng chỉ có sự khác biệt theo mục đích tuyển dụng, tính chất công việc và nhu cầu bổ sung năng lực của người lao động; không thể chỉ đánh giá thông qua trình độ hoặc thời lượng đào tạo.
Công nhận, liên thông và chuyển đổi từ Nhóm 1 sang Nhóm 3
Kết quả rà soát pháp lý chưa ghi nhận quy định về cơ chế công nhận, liên thông hoặc chuyển đổi trực tiếp từ văn bằng, chứng chỉ thuộc hệ thống giáo dục quốc dân (Nhóm 1) sang các chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận gắn với hệ thống thị trường lao động (Nhóm 3). Trên thực tế, dữ liệu khảo sát cũng chưa ghi nhận trường hợp văn bằng, chứng chỉ Nhóm 1 được công nhận, chuyển đổi, miễn trừ tín chỉ trong các CTĐT dẫn tới chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận thuộc Nhóm 3.
Nhóm 2 - Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
[Từ Nhóm 2 sang Nhóm 1] Giá trị sử dụng, công nhận, chuyển đổi từ Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia sang văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận thuộc hệ thống giáo dục quốc dân
Giá trị sử dụng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia đối với hệ thống GDNN (Nhóm 1)
Theo khoản 2 Điều 9 Nghị định số 138/2026/NĐ-CP, tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia là cơ sở tham khảo khi xây dựng chuẩn CTĐT và CTĐT. Đồng thời, Quyết định số 39/2026/QĐ-TTg xác lập yêu cầu chuẩn đầu ra của các trình độ trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam. Hai hệ quy chiếu hỗ trợ đối chiếu yêu cầu năng lực, nhưng không tự xác lập tương đương giữa bậc kỹ năng nghề với trình độ đào tạo hoặc miễn học, miễn thi, chuyển đổi tín chỉ.
Trong dữ liệu khảo sát, tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia chủ yếu được sử dụng như nguồn tham khảo bổ sung; các trường vẫn căn cứ chuẩn chương trình, chuẩn đầu ra và yêu cầu quản lý đào tạo để xây dựng CTĐT. Người trả lời nhận xét: “Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia nó chỉ là một trong nguồn tài liệu tham khảo để xây dựng CTĐT thôi. Còn việc CTĐT thì bắt buộc phải căn cứ vào cái chuẩn đầu ra do trường tự xác định” (HH#3-5). Nhận định này phù hợp với ý kiến NN#3 về mức độ chú trọng còn hạn chế. Dữ liệu chưa cho phép xác định tỷ lệ cơ sở hoặc mức độ tích hợp tiêu chuẩn trong từng CTĐT.
Đối với việc sử dụng kết quả, cần phân biệt tham chiếu tiêu chuẩn để phát triển CTĐT với sử dụng tiêu chuẩn để quyết định công nhận tín chỉ. Khảo sát chưa ghi nhận rõ trường hợp áp dụng trực tiếp tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia để xác định tương đương môn học, mô-đun; những đề xuất phát triển công cụ đối sánh được phân tích ở WHY – Lý do 1.
Công nhận, chuyển đổi từ Nhóm 2 sang Nhóm 1
Các quy định mới ban hành đã tạo cơ sở pháp lý để chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia được sử dụng làm căn cứ xem xét công nhận kết quả học tập đã tích lũy và chuyển đổi tín chỉ khi người lao động tiếp tục tham gia đào tạo trong hệ thống GDNN. Tuy nhiên, kết quả rà soát văn bản pháp lý chưa ghi nhận quy định về đối sánh và xác định mức độ tương đương giữa Khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia và Khung trình độ quốc gia Việt Nam. Việc thiếu cơ chế quy đổi thống nhất giữa hai hệ thống có thể hạn chế khả năng áp dụng các quy định về công nhận và chuyển đổi kết quả học tập trên thực tế, do cơ sở GDNN phải tự xác định mức độ tương thích giữa năng lực nghề đã được chứng nhận với yêu cầu của CTĐT. Do đây là quy định mới ban hành nên dữ liệu khảo sát chưa ghi nhận trường hợp triển khai trong thực tiễn.
Theo quy định về liên thông giữa các trình độ đào tạo và công nhận kết quả học tập, người có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia có thể được cơ sở giáo dục xem xét công nhận năng lực nghề nghiệp tương ứng với nội dung, mục tiêu và chuẩn đầu ra của CTĐT. Trên cơ sở đánh giá và quyết định của cơ sở tiếp nhận, người học có thể được miễn học, miễn kiểm tra hoặc miễn thi đối với những môn học, mô-đun hoặc nội dung học tập đã được thể hiện tương đương trong Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia. Quy định này tạo cơ sở để kết quả đánh giá kỹ năng nghề được sử dụng trong lộ trình tiếp tục học tập, giảm việc phải học lại những kiến thức, kỹ năng đã đạt yêu cầu. Tuy nhiên, chứng chỉ không tự động được chuyển đổi thành tín chỉ hoặc thay thế văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân; phạm vi công nhận phụ thuộc vào kết quả đối sánh, đánh giá và yêu cầu cụ thể của cơ sở đào tạo tiếp nhận.
[Từ Nhóm 2 sang Nhóm 3] Giá trị sử dụng, công nhận, chuyển đổi từ Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia sang hệ thống chứng chỉ, chứng nhận gắn với thị trường lao động
Giá trị sử dụng
Theo quy định pháp luật, chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia có giá trị pháp lý trong việc xác nhận năng lực thực hiện công việc của người lao động theo một nghề và bậc trình độ kỹ năng nghề xác định.
Khác với văn bằng trong hệ thống giáo dục quốc dân, chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia không xác nhận việc hoàn thành một CTĐT hoặc đạt một trình độ học vấn, mà công nhận khả năng thực hiện công việc đạt yêu cầu trên cơ sở kết quả đánh giá theo tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia. Vì vậy, chứng chỉ này có thể được sử dụng để minh chứng năng lực nghề nghiệp đã tích lũy, bao gồm cả năng lực hình thành thông qua học tập và kinh nghiệm làm việc, khi người lao động đáp ứng điều kiện và đạt yêu cầu đánh giá. Đây là cơ sở pháp lý để năng lực thực tế của người lao động được đánh giá và công nhận độc lập với con đường đào tạo mà họ đã tham gia.
Trong thị trường lao động, chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia có giá trị làm căn cứ xem xét tuyển dụng, bố trí việc làm, sử dụng lao động và thực hiện các chế độ phát triển nghề nghiệp.
Theo Điều 25 Nghị định số 138/2026/NĐ-CP, người có chứng chỉ được người sử dụng lao động xem xét ưu tiên tuyển dụng, bố trí vào vị trí phù hợp với nghề và bậc trình độ kỹ năng đã được công nhận; đồng thời được xem xét xếp lương, nâng bậc, hưởng phụ cấp và các chế độ đãi ngộ tương ứng theo quy định và thỏa thuận lao động. Người đạt bậc trình độ kỹ năng nghề cao hơn còn có thể được ưu tiên trong sử dụng lao động, phát triển nghề nghiệp và tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng nâng cao. Bên cạnh đó, chứng chỉ là một căn cứ để hỗ trợ kết nối cung – cầu lao động và giới thiệu việc làm. Các quy định này xác lập giá trị sử dụng của chứng chỉ trong quản lý và phát triển nguồn nhân lực, nhưng không có nghĩa việc được cấp chứng chỉ sẽ tự động làm phát sinh quyền tuyển dụng, nâng lương hoặc thăng tiến.
Đối với những nghề, công việc ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn, sức khỏe của người lao động hoặc cộng đồng, chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia còn có giá trị như một điều kiện pháp lý bắt buộc.
Điều 26 Luật Việc làm năm 2025 và Điều 30 Nghị định số 138/2026/NĐ-CP quy định người lao động thực hiện các nghề, công việc thuộc danh mục phải có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia phải đáp ứng yêu cầu về bậc trình độ kỹ năng nghề tương ứng. Trong trường hợp này, chứng chỉ không chỉ là minh chứng bổ trợ trong hồ sơ năng lực mà còn gắn trực tiếp với điều kiện thực hiện nghề, công việc thuộc phạm vi pháp luật quy định.
Ở phạm vi khu vực và quốc tế, pháp luật cũng quy định khả năng công nhận, thừa nhận lẫn nhau về chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia giữa Việt Nam với các quốc gia khác.
Theo khoản 5 Điều 24 Luật Việc làm năm 2025, khi có cơ chế công nhận hoặc thừa nhận lẫn nhau, chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia đã đổi tác có thể có giá trị tại Việt Nam và ngược lại. Quy định này tạo cơ sở pháp lý cho việc mở rộng phạm vi sử dụng kết quả đánh giá kỹ năng nghề ra ngoài hệ thống quốc gia, góp phần hỗ trợ khả năng dịch chuyển lao động có kỹ năng. Tuy nhiên, giá trị công nhận xuyên biên giới phụ thuộc vào sự tồn tại và phạm vi của cơ chế công nhận, thừa nhận lẫn nhau giữa các quốc gia; việc sở hữu chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia của Việt Nam không đồng nghĩa với việc chứng chỉ đó được nhiên có giá trị tại mọi quốc gia.
Kết quả khảo sát cho thấy giá trị sử dụng của chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia trên thị trường lao động còn hạn chế so với phạm vi quyền lợi và khả năng sử dụng được quy định trong pháp luật.
Một số đại diện hiệp hội và cơ sở GDNN nhận định doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm đến chứng chỉ này trong quá trình tuyển dụng, bố trí công việc và xác định chế độ đãi ngộ. Thay vào đó, doanh nghiệp thường chú trọng đánh giá năng lực thực hành, kết quả kiểm tra tay nghề hoặc khả năng đáp ứng yêu cầu công việc thực tế của người lao động. Một đại diện cơ sở GDNN đã được cấp phép tổ chức đánh giá kỹ năng nghề quốc gia cho biết: “Thực tế thì thị trường lao động người ta cũng ít quan tâm đến cái này và người ta vẫn quan tâm đến năng lực thực tế của lao động” (CĐ#17). Tương tự, một đại diện hiệp hội nhận xét: “Doanh nghiệp người ta không thừa nhận, người ta không sử dụng […] tôi cứ làm được là được thôi” (HH#1). Những ý kiến này phản ánh việc chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia chưa được sử dụng rộng rãi như một căn cứ độc lập trong các quyết định tuyển dụng, xếp lương và sử dụng lao động tại những doanh nghiệp được đề cập trong khảo sát.
Về đối tượng sử dụng, kết quả phỏng vấn ghi nhận hoạt động đánh giá và cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia được một số người trả lời liên hệ nhiều với đội ngũ nhà giáo tại các cơ sở GDNN hơn là với người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp.
Theo NN#3, hoạt động đánh giá trong thời gian được người trả lời quan sát chủ yếu liên quan đến giáo viên và những nhóm có yêu cầu chứng chỉ cụ thể; HH#1, CĐ#8 và CĐ#17 cũng liên hệ việc tham gia đánh giá với yêu cầu nâng cao năng lực của nhà giáo thường. Trong khi đó, các trường hợp người lao động chủ động đăng ký hoặc tham gia đánh giá định kỳ để tuyển dụng, nâng bậc, phát triển nghề nghiệp được ghi nhận rõ trong phỏng vấn. Đại diện cơ quan QLNN đặt câu hỏi: “Đỗ thì được cấp chứng chỉ xong thì ai công nhận? Dùng để làm gì?” (NN#3). Như vậy, dữ liệu cho thấy sự khác biệt giữa nhóm có yêu cầu chứng chỉ xác định và người lao động chưa nhận diện rõ mục đích sử dụng, chứ không đủ để ước lượng tỷ lệ người dự đánh giá trong toàn hệ thống.
Nhìn chung, kết quả nghiên cứu phản ánh sự tương phản rõ rệt giữa giá trị sử dụng được pháp luật quy định và giá trị được ghi nhận trong thực tế đối với chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia. Trong khi pháp luật xác lập nhiều khả năng sử dụng chứng chỉ trong tuyển dụng, đãi ngộ, phát triển nghề nghiệp và tiếp tục học tập, dữ liệu khảo sát cho thấy chứng chỉ chưa được những người trả lời ghi nhận là căn cứ được sử dụng phổ biến trong các quyết định nhân sự của doanh nghiệp. Hoạt động đánh giá, cấp chứng chỉ được phản ánh rõ hơn đối với một số nhóm có yêu cầu nghề nghiệp cụ thể, đặc biệt là đội ngũ nhà giáo GDNN, còn việc sử dụng trong công nhận kết quả học tập và liên thông mới chủ yếu được đề cập như một khả năng theo quy định.
Khả năng công nhận, liên thông và chuyển đổi từ Nhóm 2 sang Nhóm 3
Kết quả rà soát pháp lý chưa ghi nhận quy định bắt buộc công nhận hoặc cơ chế chuyển đổi trực tiếp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia (Nhóm 2) sang các chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận gắn với thị trường lao động (Nhóm 3). Tương tự, kết quả phỏng vấn chưa ghi nhận cơ chế hoặc trường hợp công nhận, chuyển đổi trực tiếp từ Nhóm 2 sang Nhóm 3 trong thực tế. Chẳng hạn, người lao động đã có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia bậc 3 trong lĩnh vực Điện lạnh hoặc Điện công nghiệp vẫn phải đáp ứng các yêu cầu đào tạo, sát hạch và đánh giá riêng của doanh nghiệp thay vì được tự động miễn trừ hoặc chuyển đổi sang chứng nhận, bậc thợ nội bộ của doanh nghiệp.
Nhóm 3 - Chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận gắn với thị trường lao động
[Trong nội bộ] Giá trị sử dụng, công nhận, chuyển đổi giữa các chứng chỉ, chứng nhận trong nội bộ hệ thống thị trường lao động
Giá trị sử dụng
Theo quy định pháp luật, giá trị pháp lý và phạm vi sử dụng của các chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận thuộc Nhóm 3 có thể được phân chia thành hai trường hợp chính: các loại thẻ, chứng chỉ thuộc Tiểu nhóm 3.1 được điều chỉnh trực tiếp bởi pháp luật chuyên ngành, còn các chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận thuộc Tiểu nhóm 3.2–3.7 hiện chưa có quy định pháp luật riêng xác lập thống nhất giá trị pháp lý của chúng.
Đối với Tiểu nhóm 3.1, giá trị pháp lý được xác lập trực tiếp thông qua các quy định chuyên ngành về điều kiện thực hiện công việc và yêu cầu năng lực nghề nghiệp.
Trong lĩnh vực an toàn lao động, thẻ an toàn được cấp cho người lao động thuộc đối tượng quy định sau khi hoàn thành huấn luyện và kiểm tra đạt yêu cầu, làm căn cứ xác nhận việc đáp ứng yêu cầu huấn luyện an toàn đối với công việc tương ứng và là điều kiện bắt buộc để người lao động được làm việc trong các công việc liên quan tới an toàn. Trong lĩnh vực điện, thẻ an toàn điện xác nhận kết quả huấn luyện, sát hạch và bậc an toàn điện của người lao động, và là điều kiện bắt buộc để xác định điều kiện và phạm vi thực hiện các công việc có yêu cầu về an toàn điện. Đối với lĩnh vực sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, chứng chỉ quản lý năng lượng và chứng chỉ kiểm toán viên năng lượng được cấp theo các điều kiện, CTĐT, kiểm tra và thẩm quyền quy định tại Thông tư số 53/2025/TT-BCT của Bộ Công Thương. Các chứng chỉ này có giá trị xác nhận việc đáp ứng yêu cầu chuyên môn đối với hoạt động quản lý năng lượng hoặc kiểm toán năng lượng theo phạm vi pháp luật điều chỉnh. Theo quy định mới tại Thông tư 53/2025/TT-BCT, chứng chỉ quản lý năng lượng được coi là chứng chỉ hành nghề bắt buộc còn chứng chỉ kiểm toán viên năng lượng có giá trị như một chứng chỉ chứng nhận năng lực chuyên môn. Như vậy, giá trị của các loại thẻ, chứng chỉ thuộc Tiểu nhóm 3.1 được xác lập trực tiếp thông qua quy định chuyên ngành, nhưng không đồng nhất giữa các loại và không vượt ra ngoài phạm vi công việc, điều kiện hoặc chức năng mà pháp luật quy định.
Đối với Tiểu nhóm 3.5, đáng chú ý là trường hợp của Chứng nhận GWO trong lĩnh vực điện gió. Mặc dù tại Việt Nam chưa có văn bản pháp lý nào quy định bắt buộc cần có chứng nhận này, nhưng do yêu cầu kỹ thuật khắt khe của các dự án điện gió, chứng nhận này là điều kiện bắt buộc và có giá trị quan trọng trong lĩnh vực này. Chứng nhận GWO không đơn thuần xác nhận việc hoàn thành một khóa đào tạo mà còn được sử dụng để kiểm soát điều kiện an toàn khi làm việc, đáp ứng yêu cầu của chủ đầu tư, hỗ trợ hoạt động tuyển dụng và mở rộng cơ hội nghề nghiệp của người lao động.
Thứ nhất, chứng nhận GWO là điều kiện bắt buộc trên thực tế đối với nhiều vị trí làm việc trên tuabin điện gió.
Theo các doanh nghiệp được phỏng vấn, người lao động phải hoàn thành những CTĐT an toàn phù hợp và có chứng nhận còn hiệu lực trước khi được phép thực hiện các công việc trên tuabin. Yêu cầu này xuất phát từ tính chất đặc thù của môi trường làm việc, bao gồm làm việc trên cao, nguy cơ cháy nổ và các tình huống khẩn cấp cần có kỹ năng tự bảo vệ, cứu hộ và ứng phó. Đại diện DN#7, DN#9 khẳng định: “Không có cái đó thì không cho lên làm việc ở trên trụ turbin... Cái này là yêu cầu bắt buộc, phải có cái này mới đủ an toàn để làm việc trên cao”.
Thứ hai, chứng nhận GWO góp phần đáp ứng các yêu cầu của chủ đầu tư và nhà thầu quốc tế, qua đó hỗ trợ doanh nghiệp tham gia các dự án điện gió. Đối với các dự án có yêu cầu cao về an toàn lao động, việc sử dụng nhân sự đã hoàn thành đào tạo theo tiêu chuẩn được chấp nhận rộng rãi là một trong những biện pháp kiểm soát rủi ro.
Đại diện Trung tâm đào tạo GWO TT#1 giải thích rằng các chủ đầu tư lớn đặt ra tiêu chuẩn an toàn cao nhằm bảo vệ nhân sự, công trình và uy tín của dự án; do đó, các nhà thầu phải đáp ứng những yêu cầu này để được tham gia thực hiện công việc. Tương tự, đại diện DN#7 cho biết các chứng nhận GWO là yêu cầu bắt buộc khi doanh nghiệp thực hiện công việc cho một số chủ đầu tư nước ngoài. Như vậy, giá trị của chứng nhận không chỉ giới hạn ở cấp độ cá nhân người lao động mà còn gắn với khả năng đáp ứng yêu cầu hợp đồng và tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp.
Thứ ba, chứng nhận GWO có thể mở rộng cơ hội tham gia công việc chuyên môn và cải thiện thu nhập của người lao động. Trong những doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kỹ thuật hoặc tham gia quản lý, vận hành các dự án điện gió, nhân sự đáp ứng các yêu cầu chứng nhận có thể được ưu tiên cử tham gia những nhiệm vụ hoặc hợp đồng cần năng lực chuyên môn và điều kiện an toàn đặc thù.
Đại diện doanh nghiệp điện gió DN#6 cho biết những nhân sự có chứng chỉ đáp ứng yêu cầu của đối tác được cử tham gia các hoạt động quản lý dự án hoặc cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp khác và được hưởng phụ cấp, qua đó cải thiện đáng kể thu nhập so với khi làm việc tại đơn vị. Phát hiện này cho thấy chứng nhận quốc tế có thể mang lại giá trị kinh tế trực tiếp thông qua việc mở rộng phạm vi công việc mà người lao động đủ điều kiện tham gia. Tuy nhiên, không thể từ đó kết luận rằng việc sở hữu chứng nhận GWO tự động dẫn đến mức lương cao hơn, bởi lợi ích thu nhập còn phụ thuộc vào vị trí việc làm, yêu cầu hợp đồng và chính sách của từng doanh nghiệp.
Thứ tư, cơ chế quản lý và xác minh kết quả đào tạo ở phạm vi quốc tế góp phần cùng cổ niềm tin của người sử dụng lao động và giảm chi phí xác minh, đào tạo lại. Một đặc điểm được các bên phỏng vấn đánh giá cao là khả năng tra cứu kết quả đào tạo theo tiêu chuẩn GWO thông qua hệ thống dữ liệu tập trung.
Đại diện DN#9 cho biết doanh nghiệp có thể kiểm tra trực tiếp tình trạng chứng nhận trên hệ thống GWO và sử dụng thông tin về hiệu lực của chứng nhận để xem xét việc đáp ứng yêu cầu đào tạo an toàn của nhân sự. Đại diện một Trung tâm đào tạo GWO cũng nhấn mạnh khả năng xác minh thông tin về khóa học, thời điểm hoàn thành và thời hạn hiệu lực thông qua mã định danh hoặc mã QR (TT#1). Đồng thời, việc tuyển dụng được nhân sự đã hoàn thành những CTĐT cần thiết có thể giúp doanh nghiệp giảm thời gian và chi phí tổ chức đào tạo trước khi bố trí công việc. Tuy nhiên, khả năng xác minh chứng nhận không thay thế hoàn toàn việc đánh giá năng lực kỹ thuật chuyên môn hoặc các yêu cầu an toàn bổ sung đối với từng vị trí cụ thể.
Nhìn chung, trường hợp GWO minh họa rõ nét một mô hình chứng nhận có giá trị sử dụng cao nhờ sự kết hợp giữa tiêu chuẩn năng lực được ngành công nghiệp chấp nhận, yêu cầu áp dụng thực tế của doanh nghiệp và chủ đầu tư, cơ chế đánh giá, bảo đảm chất lượng và hệ thống xác minh kết quả. Giá trị của chứng nhận vì vậy không chỉ nằm ở việc được cấp bởi một tổ chức quốc tế mà còn ở sự tin tưởng và việc sử dụng thực tế của các chủ thể trên thị trường lao động.
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cho thấy giá trị sử dụng cao của các chứng nhận GWO cũng đặt ra vấn đề về khả năng tiếp cận, nhất là chi phí đào tạo, yêu cầu về trang thiết bị chuyên dụng và điều kiện tổ chức đào tạo theo tiêu chuẩn quốc tế. Bên cạnh đó, các chương trình chứng nhận an toàn hoặc kỹ thuật chuyên biệt không thay thế cho nhu cầu phát triển năng lực nghề nghiệp toàn diện trong lĩnh vực điện gió. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cần mở rộng khả năng tiếp cận các chứng nhận quốc tế cần đối với phát triển năng lực của các cơ sở GDNN trong nước, xây dựng những CTĐT kỹ thuật theo tiêu chuẩn quốc tế và thiết lập cơ chế hợp tác với các tổ chức đánh giá, công nhận phù hợp.
Đối với các Tiểu nhóm còn lại, hiện chưa có quy định pháp luật riêng xác lập giá trị pháp lý thống nhất cho các chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận do doanh nghiệp, cơ sở đào tạo, hiệp hội, tổ chức quốc tế hoặc đối tác phát triển cấp theo chương trình và tiêu chuẩn riêng. Kết quả khảo sát cho thấy chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận thuộc Nhóm 3 có giá trị sử dụng khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp, tùy thuộc vào mục đích đào tạo, đánh giá và cơ chế quản lý nhân sự của từng tổ chức. Có thể phân biệt hai trường hợp chính: (i) chứng nhận, xác nhận hoặc kết quả học tập được ghi nhận chủ yếu để xác nhận việc tham gia, hoàn thành đào tạo và duy trì năng lực thực hiện công việc, không trực tiếp gắn với các quyết định nhân sự; và (ii) chứng chỉ, chứng nhận hoặc kết quả đánh giá năng lực được sử dụng làm căn cứ cho các quyết định về bố trí công việc, phân cấp kỹ năng, chế độ đãi ngộ và phát triển nghề nghiệp. Hai hình thức này có thể cùng tồn tại trong một doanh nghiệp, thậm chí áp dụng cho những CTĐT khác nhau đối với cùng một nhóm lao động.
Trường hợp thứ nhất, chứng nhận, xác nhận và kết quả học tập chủ yếu có giá trị ghi nhận việc tham gia hoặc hoàn thành đào tạo, không trực tiếp gắn với các quyết định nhân sự. Đây là hình thức được ghi nhận trong các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên nhằm cập nhật kiến thức sản phẩm, công nghệ, quy trình kỹ thuật hoặc duy trì năng lực thực hiện công việc.
Chẳng hạn, tại một số doanh nghiệp trong lĩnh vực thiết bị điện và năng lượng mặt trời, nhân sự được yêu cầu thường xuyên tham gia các chương trình giới thiệu sản phẩm, giải pháp công nghệ và tập huấn kỹ thuật, nhưng kết quả hoàn thành đào tạo không trực tiếp quyết định tiền lương, tiền thưởng hoặc vị trí việc làm (DN#4, DN#5). Tương tự, tại một số doanh nghiệp ô tô, các khóa bồi dưỡng định kỳ về công nghệ xe hybrid, xe điện và kỹ năng thực hành chủ yếu phục vụ việc cập nhật năng lực chuyên môn của kỹ thuật viên, không nhất thiết dẫn đến việc cấp chứng chỉ hoặc thay đổi cấp bậc nghề nghiệp (DN#1, DN#3). Dữ liệu trực tiếp từ CSV#5, một thợ lắp đặt và sửa chữa điều hòa không khí làm việc tự do, xác nhận đã dự các khóa cấp nhật công nghệ của DN#5 kéo dài từ một ngày đến một tuần và được cấp chứng nhận. Trường hợp này bổ sung góc nhìn người lao động về việc tiếp cận đào tạo, không tự nó chứng minh có thay đổi về lương hoặc vị trí việc làm.
Hình thức ghi nhận này cũng xuất hiện trong các CTĐT hội nhập, hướng dẫn thực hành tại nơi làm việc và nâng cao nhận thức chung. Trong những trường hợp này, giá trị sử dụng của xác nhận hoặc kết quả đào tạo chủ yếu nằm ở việc ghi nhận quá trình học tập, đáp ứng yêu cầu bồi dưỡng thường xuyên và quản lý việc thực hiện kế hoạch đào tạo của doanh nghiệp, không đồng nghĩa với việc công nhận một cấp độ kỹ năng hoặc trao thêm quyền lợi nhân sự.
Tại một số doanh nghiệp sản xuất, người lao động mới được yêu cầu tham gia đào tạo về quy trình làm việc, an toàn và kỹ năng thực hiện nhiệm vụ; kết quả tham gia được ghi nhận trong hồ sơ đào tạo nội bộ mà không nhất thiết gắn với quyết định nhân sự riêng (DN#1, DN#2, DN#5). Bên cạnh đó, các chương trình tập huấn về tiết kiệm năng lượng, sử dụng tài nguyên hiệu quả hoặc nhận thức về hệ thống quản lý năng lượng ISO 50001 có thể cấp giấy xác nhận tham gia hoặc hoàn thành cho người học (TT#3, TT#4).
Trường hợp thứ hai, chứng chỉ, chứng nhận và kết quả đánh giá kỹ năng được sử dụng trực tiếp làm căn cứ cho các quyết định quản lý và sử dụng lao động. Trước hết, một số doanh nghiệp sử dụng kết quả đào tạo, sát hạch hoặc cấp độ năng lực đã được công nhận để xác định điều kiện và phạm vi công việc người lao động được đảm nhận.
Tại DN#5, kết quả đào tạo, đánh giá theo cấp độ được cấp nhật vào hồ sơ kỹ thuật viên và hệ thống quản lý công việc, làm căn cứ phân quyền tiếp nhận, bảo hành, bảo trì hoặc sửa chữa nhiệm vụ tương ứng. Với đại lý và kỹ thuật viên lắp đặt trên thị trường, người đạt sát hạch thực hành có thể được cấp giấy chứng nhận hoặc thẻ kỹ thuật viên và tham gia quản lý dịch vụ, kích hoạt bảo hành, chương trình khuyến khích của doanh nghiệp. Tại DN#2, kết quả kiểm tra an toàn và sát hạch kỹ năng hàn xác định phạm vi công việc sản xuất được đảm nhận. Trong điện và năng lượng tái tạo, kết quả an toàn, kỹ thuật chuyên ngành và sát hạch nội bộ cũng được dùng khi phân công nhiệm vụ đặc thù. Ở những trường hợp này, giá trị của kết quả thể hiện ở quyền thực hiện công việc, thay vì chỉ ở việc hoàn thành khóa học.
Bên cạnh đó, kết quả đánh giá và công nhận năng lực còn được sử dụng trong xếp bậc tay nghề, xác định chế độ đãi ngộ và phát triển nghề nghiệp. Trong những trường hợp này, kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy được công nhận và sử dụng như một căn cứ quản lý nhân sự, nhưng không nhất thiết tự động dẫn đến nâng lương hoặc bổ nhiệm.
Tại DN#2, kết quả sát hạch kỹ năng hàn được sử dụng để phân bậc thợ và xem xét phụ cấp tay nghề. Tại DN#9, hệ thống đánh giá năng lực kỹ thuật kết hợp với kết quả thực hiện công việc là căn cứ xem xét nâng cấp độ nghề nghiệp, thay đổi chức danh và chế độ tương ứng. Một số doanh nghiệp dịch vụ kỹ thuật và năng lượng còn sử dụng kết quả hoàn thành đào tạo chuyên sâu, đánh giá kỹ năng và kinh nghiệm thực hiện công việc để lựa chọn nhân sự đảm nhận vị trí trưởng nhóm kỹ thuật, quản lý công trường hoặc tham gia chương trình phát triển chuyên gia (DN#6, DN#7, DN#9). Tại DN#5, việc đạt yêu cầu đánh giá giảng viên được ủy quyền là căn cứ giao nhiệm vụ đào tạo chính thức cho mạng lưới kỹ thuật viên, đại lý và các cơ sở đào tạo đối tác. Các ví dụ này được sử dụng để phân biệt giá trị trong quản lý nhân sự với khả năng sử dụng chứng nhận bên ngoài doanh nghiệp; hai phạm vi không mặc nhiên trùng nhau.
Một hình thức sử dụng khác được ghi nhận là đánh giá năng lực của lao động mới trước khi quyết định kết quả thử việc hoặc giao nhiệm vụ độc lập.
Tại một số doanh nghiệp sản xuất, công nghệ và năng lượng, người lao động sau giai đoạn đào tạo ban đầu có thể phải hoàn thành bài kiểm tra kiến thức, sát hạch kỹ thuật hoặc đánh giá thao tác thực hành. Kết quả đánh giá được sử dụng để xác định mức độ đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm, xem xét hoàn thành thử việc hoặc bố trí công việc phù hợp. Khác với hoạt động đào tạo hội nhập chỉ nhằm phổ biến kiến thức và quy trình, kết quả đánh giá trong trường hợp này có tác động trực tiếp đến quyết định tuyển dụng lao động. Tuy nhiên, việc công nhận năng lực không nhất thiết được thể hiện bằng một chứng chỉ riêng mà có thể thông qua kết quả kiểm tra, quyết định nội bộ hoặc dữ liệu được ghi nhận trên hệ thống quản lý nhân sự.
Nhìn chung, giá trị sử dụng của chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận thuộc Nhóm 3 trong nội bộ thị trường lao động có sự phân hóa rõ rệt, từ ghi nhận việc hoàn thành đào tạo đến xác nhận năng lực làm căn cứ cho những quyết định quản lý nhân sự cụ thể. Đáng chú ý, giá trị sử dụng không hoàn toàn phụ thuộc vào việc có được cấp chứng chỉ, chứng nhận hay không: một số giấy xác nhận hoàn thành đào tạo chỉ phục vụ mục đích ghi nhận, trong khi kết quả sát hạch hoặc cấp độ kỹ năng được lưu trữ nội bộ có thể quyết định trực tiếp phạm vi công việc, bậc tay nghề hoặc cơ hội phát triển nghề nghiệp của người lao động. Các phát hiện cho thấy giá trị sử dụng thực tế được xác định chủ yếu bởi mục đích công nhận và cách thức doanh nghiệp sử dụng kết quả đó, thay vì chỉ bởi tên gọi hoặc hình thức của chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận.
Công nhận, chuyển đổi trong nội bộ thị trường lao động
Kết quả rà soát pháp lý chưa ghi nhận cơ chế chung quy định việc công nhận tương đương hoặc chuyển đổi giữa các loại chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận thuộc nhiều nhóm khác nhau của Nhóm 3. Tương tự, dữ liệu phỏng vấn chưa ghi nhận trường hợp chứng chỉ, chứng nhận thuộc một tiểu nhóm được trực tiếp chuyển đổi thành chứng chỉ, chứng nhận của tiểu nhóm khác hoặc được sử dụng để tự động miễn trừ các yêu cầu đánh giá tương ứng. Tuy nhiên, trong phạm vi từng loại chứng chỉ, chứng nhận hoặc hệ thống chứng nhận cụ thể, khả năng được công nhận và tiếp tục sử dụng khi người lao động chuyển vị trí việc làm, đơn vị hoặc doanh nghiệp có sự khác biệt đáng kể.
Đối với các thẻ, chứng chỉ được pháp luật chuyên ngành quy định (Tiểu nhóm 3.1), giá trị pháp lý không giới hạn trong phạm vi một doanh nghiệp hoặc sử dụng. Tuy nhiên, việc người lao động đã có thẻ, chứng chỉ phù hợp không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp tiếp nhận được miễn mọi yêu cầu huấn luyện, kiểm tra hoặc xác nhận điều kiện thực hiện công việc. Cần phân biệt giữa giá trị pháp lý của thẻ, chứng chỉ đã được cấp và việc đáp ứng các yêu cầu an toàn cụ thể tại nơi làm việc mới; yêu cầu huấn luyện bổ sung không nhất thiết đồng nghĩa với việc thẻ, chứng chỉ trước đó mất giá trị pháp lý.
Ví dụ trong lĩnh vực điện, một đại diện doanh nghiệp cho biết khi người lao động chuyển sang đơn vị hoặc địa bàn làm việc khác, doanh nghiệp vẫn tổ chức huấn luyện, kiểm tra an toàn theo yêu cầu của công việc và điều kiện vận hành tại đơn vị tiếp nhận (DN#8). Tương tự, tại một số doanh nghiệp sản xuất cơ khí và năng lượng (DN#2, DN#9), người lao động đã có chứng chỉ an toàn từ bên ngoài vẫn có thể phải tham gia huấn luyện và sát hạch theo quy trình an toàn riêng trước khi được phân công công việc.
Đối với các chứng nhận nội bộ của doanh nghiệp (Tiểu nhóm 3.2), khả năng công nhận được ghi nhận rõ nhất trong phạm vi doanh nghiệp, tập đoàn hoặc hệ thống quản lý nhân sự thống nhất. Trong các trường hợp này, kết quả đào tạo, sát hạch và cấp độ năng lực đã đạt được có thể tiếp tục được sử dụng khi người lao động chuyển giữa các đơn vị thành viên hoặc vị trí thuộc cùng hệ thống, tùy theo yêu cầu công việc.
Một ví dụ là hệ thống chứng nhận kỹ thuật viên của DN#1 và DN#3, trong đó kết quả chứng nhận được quản lý và công nhận trong mạng lưới đại lý của hãng. Đại diện một đại lý cho biết: "Nếu mà một nhân sự ở một đại lý này đi qua một đại lý khác thì có thể sử dụng cái cấp chứng chỉ đó được, người ta vẫn công nhận." Tại DN#5, chứng nhận và thẻ còn được sử dụng trong mạng lưới đại lý, trạm dịch vụ ủy quyền, nhà thầu và đối tác lắp đặt/bảo hành trên toàn quốc; chứng nhận giảng viên được ủy quyền có thể được chấp nhận trong hệ thống đào tạo của tập đoàn ở các quốc gia khác nhau. Dữ liệu DN#4, QT#1 cũng ghi nhận các chương trình theo chuẩn hãng/đối tác công nghệ trong điện, tự động hóa và năng lượng mặt trời. Những phạm vi này là sử dụng trong mạng lưới cùng tiêu chuẩn, không tự động là công nhận tương đương giữa các hãng.
Ngược lại, việc công nhận chứng nhận nội bộ giữa các doanh nghiệp độc lập, đặc biệt giữa những doanh nghiệp sử dụng hệ thống tiêu chuẩn hoặc công nghệ khác nhau, chưa được ghi nhận là thông lệ trong các trường hợp khảo sát. Khi tiếp nhận người lao động từ doanh nghiệp khác, các đơn vị được phỏng vấn thường đánh giá lại năng lực thực tế thay vì công nhận tương đương chứng nhận hoặc cấp độ tay nghề do doanh nghiệp trước đó cấp.
Đại diện một doanh nghiệp cơ khí nhận xét: "Khi mà họ phỏng vấn tuyển dụng […] thì hầu như là anh chỉ test họ về tay nghề, về thực tế, thực tiễn để đánh giá" (DN#2). Tương tự, đại diện một đại lý ô tô cho biết doanh nghiệp không sử dụng chứng nhận năng lực của hãng khác để thay thế quy trình đánh giá kỹ thuật riêng khi tuyển dụng (DN#3). Điều này cho thấy các chứng nhận nội bộ có khả năng được duy trì và sử dụng trong cùng hệ thống tổ chức, nhưng chưa ghi nhận việc chuyển đổi trực tiếp sang chứng nhận hoặc bậc tay nghề của doanh nghiệp khác.
Các chứng nhận theo tiêu chuẩn quốc tế có thể được tiếp nhận ngoài phạm vi một doanh nghiệp khi các bên cùng áp dụng hệ tiêu chuẩn tương ứng. Dữ liệu điện gió đề cập GWO và chứng nhận tiếp cận bằng dây IRATA; doanh nghiệp, chủ đầu tư hoặc nhà thầu lựa chọn chương trình, bố trí nhân sự và sử dụng kết quả của tổ chức đào tạo, đánh giá phù hợp (DN#9, DN#7). Vai trò tổ chức tham gia của doanh nghiệp không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp trực tiếp cấp chứng nhận quốc tế. Sự chấp nhận còn phụ thuộc phạm vi, hiệu lực và yêu cầu công việc, không tự thay thế mọi điều kiện an toàn hoặc đánh giá kỹ thuật tại nơi làm việc mới.
DN#9 cho biết người lao động hoàn thành khóa học, đạt sát hạch được cấp chứng nhận GWO kèm mã định danh cá nhân, có thể tra cứu trên hệ thống dữ liệu của GWO; chứng nhận được người trả lời đề cập có thời hạn hai năm. Đối với kết quả còn hiệu lực, doanh nghiệp có thể chấp nhận mà không yêu cầu sát hạch lại nếu nội dung: "Nếu mà đã có GWO rồi thì đâu cần phải test lại làm gì đâu […] miễn sao nó còn hạn là được" (DN#9). TT#1 và DN#9 cũng nhấn mạnh khả năng tra cứu, xác minh trực tuyến. Đây là bằng chứng về chấp nhận kết quả đã có trong hệ thống tiêu chuẩn chung; yêu cầu tiếp cận công trình trong nước hoặc quốc tế vẫn phải xem xét theo quy định và điều kiện của bên sử dụng.
Một hình thức khác là công nhận chứng nhận kỹ thuật trong mạng lưới doanh nghiệp sử dụng sản phẩm hoặc công nghệ của cùng một hãng quốc tế. Tuy nhiên, khả năng sử dụng chứng nhận trong mạng lưới của một hãng không đồng nghĩa với sự công nhận tương đương giữa các hãng. Dữ liệu phỏng vấn chưa ghi nhận trường hợp chứng nhận của hãng này được trực tiếp chuyển đổi thành chứng nhận kỹ thuật của hãng khác mà không phải đáp ứng yêu cầu đào tạo, đánh giá tương ứng.
Đối với các chứng nhận hoàn thành khóa đào tạo theo chương trình riêng, theo đặt hàng của doanh nghiệp, xác nhận thực tập hoặc xác nhận hoàn thành chương trình có sự tham gia của đối tác quốc tế (các Tiểu nhóm 3.3, 3.4, 3.6 và 3.7), dữ liệu khảo sát chưa ghi nhận trường hợp công nhận tương đương hoặc chuyển đổi trực tiếp giữa các doanh nghiệp, tổ chức cấp. Những kết quả này có thể được người lao động dùng cấp như minh chứng về quá trình học tập, thực tập hoặc kinh nghiệm nghề nghiệp khi chuyển sang đơn vị khác, nhưng việc tiếp nhận và sử dụng phụ thuộc vào yêu cầu và quyết định đánh giá của tổ chức tiếp nhận. Việc sử dụng làm minh chứng không đồng nghĩa với việc được miễn trừ các yêu cầu đào tạo hoặc được cấp chứng nhận mới tương ứng.
Nhìn chung, khả năng công nhận trong nội bộ thị trường lao động của Nhóm 3 được ghi nhận ở những phạm vi khác nhau: trong cùng doanh nghiệp; giữa các đơn vị thuộc cùng tập đoàn hoặc mạng lưới hãng; và giữa các doanh nghiệp độc lập cùng áp dụng một hệ thống tiêu chuẩn quốc tế hoặc một sản phẩm của hãng quốc tế. Trong khi một số chứng nhận có thể tiếp tục được sử dụng khi người lao động chuyển đơn vị hoặc doanh nghiệp mà không cần đánh giá lại cùng nội dung, các chứng nhận nội bộ thường chỉ được công nhận trong phạm vi hệ thống tổ chức đã cấp hoặc áp dụng chúng. Dữ liệu khảo sát chưa ghi nhận cơ chế chuyển đổi trực tiếp giữa các tiểu nhóm của Nhóm 3 hoặc cơ chế công nhận tương đương phổ biến giữa các doanh nghiệp sử dụng những hệ thống chứng nhận khác nhau. Do đó, cần phân biệt việc tiếp tục sử dụng một chứng nhận đã có với việc công nhận tương đương, miễn trừ đánh giá hoặc chuyển đổi sang chứng nhận khác.
[Từ Nhóm 3 sang Nhóm 1] Giá trị sử dụng, khả năng công nhận, chuyển đổi giữa chứng chỉ, chứng nhận gắn với hệ thống thị trường lao động sang văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận gắn với hệ thống GDNN
Theo quy định pháp luật, các quy định mới về công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy đã tạo cơ sở pháp lý để kết quả đào tạo và kinh nghiệm nghề nghiệp hình thành ngoài hệ thống đào tạo chính quy có thể được xem xét công nhận trong hệ thống GDNN. Tuy nhiên, do đây là quy định mới nên dữ liệu khảo sát chưa ghi nhận trường hợp nào đã triển khai trong thực tế.
Theo Điều 37 Quy chế đào tạo trong GDNN ban hành kèm theo Thông tư số 79/2026/TT-BGDĐT, người học đã tích lũy năng lực nghề nghiệp thông qua chứng chỉ kỹ năng nghề, quá trình học tập, làm việc, thực hành nghề hoặc các hình thức phù hợp khác được xem xét công nhận kết quả học tập đối với môn học, mô-đun tương ứng khi đáp ứng yêu cầu về nội dung, mục tiêu và chuẩn đầu ra của CTĐT. Việc công nhận được thực hiện thông qua đánh giá năng lực nghề nghiệp thực tế bởi Hội đồng đánh giá của cơ sở đào tạo, có sự tham gia của đại diện doanh nghiệp. Trên cơ sở kết quả đánh giá, người đứng đầu cơ sở đào tạo quyết định công nhận và cho phép miễn học, miễn kiểm tra, miễn thi đối với những nội dung đã được công nhận. Quy định này có ý nghĩa đối với người học và người lao động sở hữu các chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận thuộc Nhóm 3. Những kết quả đào tạo và kinh nghiệm nghề nghiệp tích lũy tại doanh nghiệp, trong các khóa đào tạo theo tiêu chuẩn hãng, CTĐT chuyên biệt hoặc quá trình thực tập có thể được sử dụng làm minh chứng khi người lao động đề nghị đánh giá, công nhận năng lực để tiếp tục học tập trong hệ thống GDNN. Tuy nhiên, giá trị này không phát sinh tự động từ việc sở hữu chứng chỉ, chứng nhận hoặc xác nhận, mà phụ thuộc vào việc người học chứng minh được năng lực tương ứng và đáp ứng yêu cầu đánh giá của cơ sở đào tạo tiếp nhận. Do đó, cần phân biệt giữa giá trị xác nhận kết quả do tổ chức cấp chứng nhận xác lập và giá trị công nhận kết quả học tập do cơ sở GDNN quyết định sau quá trình đánh giá.
Cần phân biệt cơ chế công nhận kết quả hình thành ngoài CTĐT với việc nhà trường sử dụng đánh giá thực tập vốn đã nằm trong chương trình của mình. Ở trường hợp thứ hai, dữ liệu CĐ#6, CĐ#8, DN#2, DN#5 ghi nhận các đợt thực tập trải nghiệm/tốt nghiệp kéo dài 8–15 tuần tại nhà máy, xưởng dịch vụ hoặc công trình. Người học ghi công việc hằng ngày trong nhật ký/báo cáo; cán bộ kỹ thuật hướng dẫn và đại diện doanh nghiệp nhận xét, chấm điểm, ký, đóng dấu. Xác nhận thể hiện thời lượng, khối lượng công việc, kỷ luật lao động và mức độ đáp ứng kỹ năng; xác nhận là minh chứng bắt buộc gửi về nhà trường để chấm điểm học phần thực tập. Người học còn
Ở các CTĐT hợp tác theo tiêu chuẩn quốc tế, người trả lời CĐ#1, CĐ#6 và QT#1 cho biết thời gian học, làm việc trên đây chuyền doanh nghiệp chiếm khoảng 30%-50% khóa học; nhân sự kỹ thuật đã được bồi dưỡng nghiệp vụ phối hợp hướng dẫn, giám sát. Giấy xác nhận thời gian và khối lượng học tập tại doanh nghiệp, thường dưới dạng văn bản A4 chuẩn hóa có chữ ký của đại diện doanh nghiệp, nhà trường và tổ chức quốc tế theo thỏa thuận, ghi nhận số giờ thực hành và tác phong công nghiệp để nhà trường xem xét tính vào học phần tương ứng. Giấy này cũng bổ sung thông tin cho doanh nghiệp tiếp nhận, nhưng không tự tạo quyền miễn đánh giá hoặc công nhận tương đương ở đơn vị khác. Đây là xác nhận quá trình học tập tại nơi làm việc, cần phân biệt với giấy xác nhận hoàn thành toàn bộ CTĐT theo tiêu chuẩn quốc tế.
[Từ Nhóm 3 sang Nhóm 2] Giá trị sử dụng, khả năng công nhận, chuyển đổi giữa chứng chỉ, chứng nhận gắn với hệ thống thị trường lao động sang Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
Kết quả rà soát pháp lý chưa ghi nhận quy định về việc công nhận tương đương hoặc chuyển đổi trực tiếp các chứng chỉ, chứng nhận, xác nhận gắn với hệ thống thị trường lao động (Nhóm 3) thành chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia (Nhóm 2), cũng như cơ chế miễn trừ đánh giá kỹ năng nghề quốc gia trên cơ sở các chứng nhận này. Trên thực tế, dữ liệu khảo sát chưa ghi nhận trường hợp công nhận hoặc chuyển đổi giữa hai nhóm. Các doanh nghiệp được phỏng vấn nhìn chung chưa thể hiện sự quan tâm hoặc nhu cầu chuyển đổi các chứng nhận đang sử dụng sang chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia. Về phía người lao động, cả 5 người tham gia thảo luận nhóm đều không biết tới chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, do đó chưa hình thành nhận thức hoặc nhu cầu chuyển đổi những kết quả đào tạo, kỹ năng đã được chứng nhận trong doanh nghiệp sang hệ thống này. Như vậy, trong phạm vi khảo sát, khả năng công nhận, chuyển đổi từ Nhóm 3 sang Nhóm 2 chưa được ghi nhận cả về cơ chế thực hiện lẫn nhu cầu, động lực sử dụng thực tế.
Đánh giá thực trạng sử dụng, công nhận, chuyển đổi của các văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận
Kết quả nghiên cứu cho thấy giá trị pháp lý, giá trị sử dụng trên thị trường lao động và giá trị phục vụ tiếp tục học tập của các văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận không hoàn toàn đồng nhất. Một văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận có thể được pháp luật xác lập giá trị hoặc được sử dụng trong một hệ thống nhất định, nhưng không đương nhiên được công nhận tương đương hoặc chuyển đổi thành kết quả học tập, kỹ năng nghề trong hệ thống khác. Từ kết quả rà soát pháp lý và khảo sát thực tế, có thể rút ra năm nhận định chính sau đây.
(1) Việc công nhận kết quả học tập đã tích lũy được ghi nhận rõ nét nhất trong nội bộ hệ thống GDNN, đặc biệt giữa các chương trình có nội dung chuyên môn tương đồng.
Các cơ sở GDNN đã thực hiện việc công nhận, chuyển đổi kết quả học tập khi người học chuyển chương trình, chuyển trường hoặc liên thông giữa các trình độ đào tạo. Việc liên thông trong cùng 1 cơ sở đào tạo diễn ra tương đối thuận lợi. Tuy nhiên, khi liên thông giữa các cơ sở đào tạo, phạm vi công nhận chủ yếu được xác định thông qua đối sánh các môn học, mô-đun và yêu cầu của chương trình tiếp nhận, thay vì mặc nhiên công nhận toàn bộ kết quả học tập trước đó. Một số cơ sở GDNN đã chủ động thiết kế chương trình theo hướng tích hợp, kế thừa giữa các trình độ, tạo thuận lợi cho việc công nhận kết quả học tập khi người học tiếp tục học tập đào tạo. Như vậy, trong phạm vi khảo sát, đây là hệ thống đã ghi nhận những lộ trình công nhận, chuyển đổi được triển khai tương đối rõ ràng, mặc dù mức độ công nhận vẫn phụ thuộc vào từng chương trình và quyết định của cơ sở tiếp nhận.
(2) Trong thị trường lao động, phạm vi công nhận kết quả phụ thuộc vào từng loại chứng nhận; một số chứng nhận được chấp nhận giữa các doanh nghiệp cùng áp dụng tiêu chuẩn, còn chuyển đổi tương đương giữa các hệ thống tiêu chuẩn khác nhau chưa được ghi nhận.
Các doanh nghiệp được khảo sát sử dụng kết quả đào tạo, đánh giá kỹ năng ở những mức độ khác nhau, từ xác nhận hoàn thành đào tạo đến làm căn cứ bố trí công việc, xếp bậc tay nghề và phát triển nhân sự. Một số chứng nhận được tiếp tục công nhận khi người lao động chuyển giữa các đơn vị thuộc cùng doanh nghiệp, tập đoàn hoặc mạng lưới của một hãng; các chứng nhận theo tiêu chuẩn quốc tế có thể được chấp nhận tại nhiều doanh nghiệp cùng áp dụng tiêu chuẩn tương ứng. Ngược lại, giữa các doanh nghiệp sử dụng những hệ thống chứng nhận khác nhau, kết quả khảo sát chưa ghi nhận việc chuyển đổi trực tiếp hoặc công nhận tương đương chứng nhận; doanh nghiệp tiếp nhận thường thực hiện đánh giá năng lực theo yêu cầu riêng. Điều này cho thấy khả năng tiếp tục sử dụng chứng nhận trong thị trường lao động đã được ghi nhận ở những phạm vi nhất định, nhưng chưa đồng nghĩa với khả năng chuyển đổi chứng nhận giữa các hệ thống doanh nghiệp.
(3) Giá trị sử dụng của chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia được pháp luật xác lập tương đối rộng, nhưng chưa được phản ánh tương ứng trong thực tiễn sử dụng tại các đơn vị được khảo sát.
Mặc dù chứng chỉ được quy định có thể làm căn cứ xem xét trong tuyển dụng, bố trí việc làm, đãi ngộ và phát triển nghề nghiệp, dữ liệu phỏng vấn chưa ghi nhận việc doanh nghiệp sử dụng phổ biến chứng chỉ này trong các quyết định quản lý nhân sự. Hoạt động đánh giá, cấp chứng chỉ được phản ánh rõ hơn đối với một số nhóm có yêu cầu nghề nghiệp cụ thể (ví dụ các nghề trong danh mục bắt buộc phải có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia), trong khi việc sử dụng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia để xây dựng CTĐT hoặc đối sánh kết quả học tập giữa các cơ sở GDNN còn hạn chế. Như vậy, những trường hợp sử dụng được ghi nhận trong thực tế chưa phản ánh đầy đủ các khả năng sử dụng chứng chỉ đã được pháp luật quy định.
(4) Các quy định mới đã mở rộng khả năng công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề tích lũy ngoài hệ thống đào tạo chính quy vào chương trình GDNN, nhưng việc triển khai chưa thể được đánh giá tại thời điểm khảo sát.
Những quy định này tạo cơ sở để năng lực nghề nghiệp được xác nhận thông qua chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, kết quả đào tạo tại doanh nghiệp hoặc quá trình làm việc có thể được xem xét công nhận tương đương kết quả học tập tương ứng. Đây là sự mở rộng đáng chú ý về phạm vi kết quả có thể được xem xét công nhận, không chỉ giới hạn ở các môn học, mô-đun đã hoàn thành trong cơ sở đào tạo. Tuy nhiên, do các quy định mới được ban hành, dữ liệu khảo sát chưa ghi nhận trường hợp áp dụng cụ thể để xác định mức độ công nhận, phạm vi miễn trừ học tập hoặc khả năng rút ngắn thời gian đào tạo. Vì vậy, những lợi ích dự kiến của cơ chế này cần được phân biệt với kết quả đã được kiểm chứng trên thực tế.
(5) Giữa ba hệ thống chưa ghi nhận các lộ trình công nhận tương đương và chuyển đổi trực tiếp mang tính hai chiều, mặc dù đã tồn tại một số hình thức sử dụng kết quả của hệ thống này trong hệ thống khác.
Các quy định hiện hành đã cho phép sử dụng một số văn bằng, chứng chỉ làm căn cứ xác định điều kiện tham gia đánh giá, đào tạo hoặc thực hiện công việc; tuy nhiên, những hình thức này không đồng nghĩa với việc kết quả đã có được tự động chuyển đổi hoặc thay thế yêu cầu cấp chứng chỉ, chứng nhận của hệ thống tiếp nhận. Kết quả khảo sát chưa ghi nhận trường hợp chuyển đổi trực tiếp từ Nhóm 1 sang Nhóm 2 hoặc Nhóm 3, từ Nhóm 2 sang Nhóm 3 và từ Nhóm 3 sang Nhóm 2. Đối với chiều chuyển đổi từ Nhóm 2 và Nhóm 3 sang Nhóm 1, pháp luật đã mở ra khả năng xem xét công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy, nhưng chưa có đủ dữ liệu thực tiễn để xác nhận mức độ triển khai. Như vậy, các hình thức sử dụng kết quả giữa các hệ thống đã được xác lập ở một số phương diện, song chưa hình thành những lộ trình chuyển đổi tương đương được ghi nhận đầy đủ trong phạm vi nghiên cứu.
Tóm lại, kết quả nghiên cứu cho thấy hoạt động công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy đã có những thực hành cụ thể trong từng hệ thống, trong khi khả năng công nhận và chuyển đổi giữa các hệ thống vẫn chủ yếu được ghi nhận ở mức độ sử dụng kết quả cho những mục đích nhất định hoặc thông qua các cơ chế pháp lý mới được thiết lập. Điều này cho thấy cần phân biệt ba mức độ: sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận làm minh chứng; tiếp tục công nhận kết quả đã có trong phạm vi một hệ thống; và chính thức công nhận, chuyển đổi kết quả để thay thế yêu cầu học tập hoặc đánh giá của hệ thống tiếp nhận. Trong phạm vi nghiên cứu, hai mức độ đầu đã có những trường hợp triển khai cụ thể, trong khi mức độ thứ ba chủ yếu được ghi nhận trong nội bộ hệ thống GDNN.
"WHY: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO, ĐÁNH GIÁ, CÔNG NHẬN VÀ LIÊN THÔNG"
WHY
Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đào tạo, đánh giá, công nhận và liên thông kết quả học tập, kỹ năng nghề
Trong khuôn khổ nghiên cứu về các phương pháp và hệ thống đào tạo, đánh giá và cấp VB-CC-CN kỹ năng nghề, phần này tập trung giải thích những yếu tố ảnh hưởng đến việc công nhận, sử dụng và chuyển đổi kết quả học tập, kỹ năng nghề trong từng hệ thống và giữa các hệ thống. Kết quả khảo sát gợi ra năm nhóm yếu tố: tiêu chuẩn và công cụ đối sánh; phương thức đánh giá và sự tin cậy; thông tin và minh chứng; động lực tham gia; hướng dẫn và năng lực tổ chức thực hiện. Các yếu tố này vừa liên quan đến sự vận hành, chất lượng và giá trị sử dụng của các hệ thống, vừa giúp lý giải những hạn chế kết nối được trình bày ở phần trước. Phân tích dựa trên các trường hợp khảo sát, không nhằm khẳng định quan hệ nhân quả hay mức độ phổ biến của từng yếu tố trên phạm vi toàn quốc.
Lý do 1. Thiếu cơ sở chuẩn hóa và đối sánh kết quả học tập, kỹ năng nghề giữa các hệ thống
Một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc thiết kế CTĐT, tổ chức đánh giá, công nhận và liên thông kết quả học tập, kỹ năng nghề là sự khác biệt về mục tiêu, phạm vi và cách thức mô tả năng lực giữa các hệ thống, trong khi các bên chưa thống nhất sử dụng những cơ sở tham chiếu và công cụ đối sánh phù hợp. Mỗi hệ thống đều có những tiêu chuẩn và yêu cầu đánh giá riêng, các tiêu chuẩn này không được xây dựng theo một cấu trúc hoàn toàn tương ứng. Sự khác biệt đó không chỉ ảnh hưởng đến khả năng xác định chuẩn đầu ra và nội dung đào tạo đáp ứng yêu cầu thực tế của công việc, mà còn gây khó khăn khi xác định mức độ tương đương giữa các kết quả học tập hoặc năng lực nghề nghiệp đã đạt được trong các hệ thống khác nhau. Như vậy, vấn đề không đơn thuần là thiếu tiêu chuẩn, mà chủ yếu là thiếu cơ sở chung để mô tả, so sánh và xác định mức độ tương ứng giữa các tiêu chuẩn khác nhau.
Khác biệt về mục tiêu, phạm vi năng lực và cấu trúc chương trình, tiêu chuẩn
Sự khác biệt về mục tiêu và phạm vi năng lực giữa các hệ thống ảnh hưởng ngay từ quá trình xác định yêu cầu đào tạo, xây dựng chuẩn đầu ra và thiết kế nội dung CTĐT. Đồng thời, sự khác biệt này làm cho kết quả đào tạo và đánh giá không thể đối sánh trực tiếp nếu chỉ dựa trên tên ngành, nghề, trình độ hoặc chứng chỉ.
CTĐT thuộc hệ thống GDNN hướng đến việc trang bị nền tảng kiến thức, kỹ năng và năng lực nghề nghiệp tương đối rộng, nhằm chuẩn bị cho người học khả năng đảm nhiệm nhiều công việc, vị trí việc làm sau khi tốt nghiệp. Trong khi đó, tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia tập trung vào năng lực thực hiện công việc ở các bậc trình độ kỹ năng nghề, còn CTĐT và chứng nhận của doanh nghiệp thường được thiết kế theo yêu cầu của vị trí việc làm, quy trình sản xuất hoặc công nghệ cụ thể. Do phạm vi năng lực được mô tả khác nhau, một CTĐT có thể bao quát nhiều nhóm công việc nhưng không thể hiện đầy đủ các yêu cầu chuyên sâu của từng vị trí; ngược lại, một chứng nhận kỹ năng chuyên biệt có thể xác nhận năng lực thực hiện một công việc cụ thể nhưng không bao quát toàn bộ chuẩn đầu ra của CTĐT chính quy. Những khác biệt này đặt ra yêu cầu đối với cơ sở đào tạo trong việc xác định mức độ phù hợp của nội dung chương trình với tiêu chuẩn nghề nghiệp và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Vì thế, bên tiếp nhận phải xác định phần năng lực thực sự tương ứng và những yêu cầu còn thiếu, thay vì suy ra toàn bộ kết quả tương đương từ tên văn bản.
Sự khác biệt này được thể hiện rõ trong các cuộc phỏng vấn. Đại diện cơ quan QLNN nhận xét: "Phạm vi công nhận cấp chứng chỉ thì nó hẹp hơn, nó đi vào cái vị trí việc làm [...] Thế còn khi mà cấp bằng trong hệ thống giáo dục quốc dân thì người ta cấp rộng hơn" (NN#3). Tương tự, đại diện hiệp hội cho rằng doanh nghiệp xác định yêu cầu năng lực theo vị trí việc làm, trong khi một CTĐT có thể chuẩn bị cho người học đảm nhiệm nhiều vị trí khác nhau (HH#1). Đại diện chương trình hợp tác phát triển quốc tế cũng phân biệt giữa chuẩn đầu ra đào tạo, vốn thể hiện những năng lực người học được kỳ vọng đạt khi hoàn thành chương trình, với tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia được xây dựng theo các bậc năng lực nghề nghiệp trong quá trình làm việc (QT#3).
Ngay trong các hệ thống chứng nhận gắn với thị trường lao động, phạm vi và cấu trúc năng lực cũng có thể khác nhau giữa các doanh nghiệp.
Đại diện một doanh nghiệp trong lĩnh vực ô tô cho biết CTĐT và tiêu chuẩn đánh giá kỹ thuật viên của các hãng không hoàn toàn giống nhau, do mỗi hãng sử dụng những yêu cầu chuyên môn và quy trình kỹ thuật riêng (DN#3). Vì vậy, sự tương đồng về ngành nghề hoặc tên vị trí công việc chưa đủ để xác định mức độ tương ứng giữa các kết quả đánh giá. Khi xem xét công nhận kết quả đã tích lũy, cần xác định cụ thể phần kiến thức, kỹ năng và mức độ thực hiện công việc tương ứng, thay vì mặc định các chương trình hoặc chứng nhận cùng lĩnh vực có nội dung tương đương.
Đối với các lĩnh vực năng lượng tái tạo, hiệu quả năng lượng và công nghệ xanh, sự khác biệt về mục tiêu và phạm vi năng lực còn thể hiện giữa các CTĐT nghề trong nước với những tiêu chuẩn đào tạo, chứng nhận quốc tế được các doanh nghiệp trong ngành sử dụng. Chẳng hạn, các CTĐT theo tiêu chuẩn của Global Wind Organisation (GWO) bao gồm những nhóm năng lực khác nhau, từ an toàn lao động, kỹ thuật cơ bản đến các năng lực chuyên biệt trong ngành điện gió. Mặc dù các chương trình này có thể liên quan đến những nội dung đào tạo đã được tích hợp trong CTĐT của cơ sở GDNN, nhưng sự tương đồng về chủ đề hoặc lĩnh vực kỹ thuật không đồng nghĩa với việc hai chương trình có cùng phạm vi năng lực, mức độ thành thạo hoặc yêu cầu đánh giá. Đặc biệt, việc hoàn thành một mô-đun đào tạo về năng lượng tái tạo không mặc nhiên có nghĩa người học đã đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của thị trường lao động (cần có chứng nhận quốc tế). Điều này cho thấy cần phân biệt giữa chương trình có nội dung liên quan đến kỹ năng xanh, chương trình được thiết kế tham chiếu tiêu chuẩn quốc tế và chương trình đáp ứng những điều kiện để được tổ chức có thẩm quyền đánh giá, công nhận theo tiêu chuẩn quốc tế.
Thiếu công cụ đối sánh nội dung và mức độ năng lực trong nội bộ mỗi hệ thống và giữa các hệ thống
Khó khăn trong việc đối sánh các tiêu chuẩn và kết quả đánh giá không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động công nhận, liên thông mà còn đặt ra yêu cầu đối với quá trình phát triển CTĐT và xác định phương pháp đánh giá năng lực. Những khó khăn này không chỉ xuất hiện giữa ba hệ thống mà còn tồn tại trong nội bộ từng hệ thống, khi các tổ chức sử dụng những cấu trúc chương trình, tiêu chuẩn và cách thức mô tả năng lực khác nhau. Để xác định mức độ đáp ứng của CTĐT đối với một tiêu chuẩn năng lực, hoặc xem xét công nhận một kết quả đã đạt được, bên tiếp nhận cần xác định những thành phần năng lực cụ thể, mức độ thành thạo và sự tương ứng với chuẩn đầu ra hoặc tiêu chuẩn đang áp dụng. Tuy nhiên, các công cụ và phương pháp phục vụ việc đối sánh này chưa được phát triển, sử dụng một cách đồng đều giữa các chủ thể. Vì vậy, ngay cả khi hai chương trình hoặc chứng nhận thuộc cùng một ngành, nghề hoặc cùng một hệ thống, việc xác định mức độ tương ứng về nội dung và năng lực vẫn có thể gặp khó khăn.
Trong nội bộ Nhóm 1, quyền tự chủ xây dựng CTĐT một mặt tạo điều kiện cho các cơ sở GDNN chủ động xây dựng, điều chỉnh CTĐT, nhưng mặt khác đồng thời làm gia tăng sự đa dạng về cấu trúc chương trình và cách thức xác định chuẩn đầu ra.
"Đại diện QT#4 đánh giá quyền tự chủ thiết kế CTĐT là định hướng tích cực, cho phép trường đáp ứng đặc điểm và điều kiện riêng. Vấn đề kết nối phát sinh khi sự đa dạng đó chưa đi kèm công cụ xác định năng lực thành phần và mức độ đạt được tương ứng. Do đó, khi người học thực hiện liên thông, các cơ sở GDNN hiện chưa đối sánh các CTĐT dựa trên chuẩn đầu ra mà chủ yếu dựa vào tên môn học/mô-đun, số tín chỉ."
Trong nội bộ Nhóm 3, sự khác biệt về tiêu chuẩn năng lực và cấu trúc CTĐT của các doanh nghiệp, hãng công nghệ cũng đặt ra yêu cầu đối sánh tương tự.
Từ sự khác biệt chuẩn hãng đã nêu ở tiểu mục trước, yêu cầu kỹ thuật đặt ra là có công cụ xác định phần năng lực tương ứng theo nhiệm vụ, sản phẩm và mức độ thành thạo. Chưa đủ dữ liệu để đưa ra nhận định tương tự về mức độ thiếu công cụ đối sánh giữa các tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia trong nội bộ Nhóm 2.
Ở cấp độ giữa các hệ thống, khó khăn đối sánh càng rõ khi kết quả đào tạo và đánh giá được mô tả theo những đơn vị và thang đo không hoàn toàn tương ứng. CTĐT GDNN thường sử dụng đơn vị là môn học, mô-đun, tín chỉ và chuẩn đầu ra; hệ thống kỹ năng nghề quốc gia xác định năng lực theo yêu cầu thực hiện công việc và bậc trình độ kỹ năng nghề; trong khi doanh nghiệp có thể sử dụng bộ tiêu chí theo vị trí việc làm, nhiệm vụ kỹ thuật hoặc công nghệ cụ thể. Sự thiếu tương thích trong cách mô tả năng lực có thể ảnh hưởng đến cả việc thiết kế mô-đun đào tạo theo yêu cầu doanh nghiệp và việc lựa chọn các tiêu chí, phương pháp đánh giá phù hợp. Đồng thời, nó hạn chế khả năng xác định phần kết quả học tập có thể được công nhận hoặc chuyển đổi giữa các chương trình và hệ thống khác nhau. Như vậy, vấn đề đặt ra không phải là phải thống nhất toàn bộ chương trình và tiêu chuẩn trong từng hệ thống hoặc giữa các hệ thống, mà là cần phát triển những cơ sở tham chiếu và công cụ kỹ thuật đủ cụ thể để xác định sự tương ứng giữa các yêu cầu năng lực được sử dụng trong thiết kế CTĐT, đánh giá và công nhận kết quả học tập, kỹ năng nghề.
Để giải quyết vấn đề này, người trả lời CĐ#2-3 đề xuất một "ngân hàng kỹ năng" hoặc hệ thống mô tả kỹ năng thành phần làm cơ sở tham chiếu giữa đào tạo tại trường và năng lực tích lũy tại doanh nghiệp. Người trả lời đặt câu hỏi: "Cơ sở để mà nhà trường công nhận cái mô-đun đó ở doanh nghiệp là như thế nào?", đồng thời cho rằng khi kỹ năng được xác định thống nhất, "nhà trường sẽ có cái cơ sở để mình đánh giá để mình công nhận lẫn nhau". Đây là đề xuất về công cụ đối sánh, chưa phải bằng chứng một cơ chế dùng chung đã vận hành. Tương tự, đại diện hiệp hội nhấn mạnh rằng để các bên có thể xem xét công nhận kết quả của nhau, trước hết cần có "cùng tiếng nói, cùng thang đo" về năng lực (HH#1). Điều này không có nghĩa các hệ thống phải sử dụng một CTĐT hoặc một bộ tiêu chuẩn hoàn toàn giống nhau, mà cần có phương pháp đối sánh cho phép xác định các năng lực tương ứng, mức độ thành thạo và những nội dung chưa được bao phủ.
Đối với các lĩnh vực ưu tiên của dự án, kết quả phỏng vấn cũng đặt ra yêu cầu đối sánh cần được mở rộng đến các tiêu chuẩn nghề nghiệp và tiêu chuẩn đào tạo quốc tế có giá trị sử dụng trên thị trường lao động. Việc xác định sự tương ứng giữa chuẩn đầu ra của CTĐT trong nước với các đơn vị năng lực, yêu cầu thực hiện công việc và tiêu chí đánh giá theo tiêu chuẩn quốc tế có thể tạo cơ sở để điều chỉnh, phát triển các mô-đun đào tạo phù hợp. Đây cũng là bước cần thiết để xác định những nội dung đào tạo có thể được kế thừa, những năng lực cần bổ sung và các điều kiện tiếp theo để chương trình hoặc kết quả đào tạo được đối tác quốc tế xem xét công nhận. Tuy nhiên, đối sánh tiêu chuẩn không đồng nghĩa với việc chương trình hoặc kết quả đào tạo tự động được quốc tế công nhận, bởi việc công nhận còn phụ thuộc vào các yêu cầu về đánh giá, bảo đảm chất lượng và thẩm quyền của tổ chức công nhận.
Sự tham gia chưa đầy đủ của các chủ thể sử dụng lao động trong quá trình phát triển tiêu chuẩn năng lực
Một yếu tố có thể làm gia tăng sự khác biệt giữa các tiêu chuẩn là mức độ tham gia chưa đầy đủ và chưa thực chất của doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề trong quá trình xác định và xây dựng yêu cầu năng lực. Khi tiêu chuẩn được xây dựng chủ yếu từ góc độ của chủ thể đào tạo, những yêu cầu về nhiệm vụ công việc, điều kiện thực hiện và mức độ thành thạo tại nơi làm việc có thể chưa được phản ánh đầy đủ. Ngược lại, doanh nghiệp xây dựng tiêu chuẩn dựa trên yêu cầu công nghệ và vận hành riêng, không nhất thiết tham chiếu cấu trúc chuẩn đầu ra của hệ thống GDNN hoặc tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia. Sự khác biệt về chủ thể và cách tiếp cận trong quá trình phát triển tiêu chuẩn vì vậy có thể làm giảm mức độ tương thích ngay từ khâu xác định nội dung năng lực. Đồng thời, việc thiếu sự tham gia thực chất của doanh nghiệp có thể hạn chế khả năng cập nhật CTĐT và tiêu chí đánh giá theo những thay đổi của công nghệ, quy trình sản xuất và yêu cầu của thị trường lao động.
Kết quả phỏng vấn ghi nhận một số ý kiến cho rằng quá trình xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia trước đây có sự tham gia nổi bật của các cơ sở đào tạo, trong khi tiếng nói của doanh nghiệp và các tổ chức đại diện ngành nghề còn hạn chế. Đại diện hiệp hội nhận xét rằng việc xây dựng tiêu chuẩn ở Việt Nam trong nhiều trường hợp "lại xuất phát từ các trường", thay vì bắt đầu từ yêu cầu của doanh nghiệp (HH#1). Đại diện tổ chức quốc tế cũng cho rằng quá trình xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia chưa thu hút được nhiều sự tham gia của doanh nghiệp và người tuyển dụng, trong khi các mô hình đào tạo theo nhu cầu doanh nghiệp thường bắt đầu bằng việc xác định yêu cầu năng lực từ vị trí công việc (QT#3).
Đại diện cơ quan QLNN cũng nhìn nhận một số tiêu chuẩn được xây dựng trước đây chưa tham chiếu đầy đủ yêu cầu của thị trường lao động và tiếng nói của doanh nghiệp (NN#3). Các nhận định trên không có nghĩa tất cả tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia đều thiếu sự tham gia của doanh nghiệp, mà cho thấy một khoảng trống được các bên liên quan nhận diện trong những giai đoạn và trường hợp cụ thể. Về phương diện tổ chức đào tạo, điều này có thể làm giảm mức độ phù hợp giữa chuẩn đầu ra, nội dung CTĐT và những năng lực doanh nghiệp cần sử dụng trong thực tế. Về phương diện đánh giá và công nhận, vấn đề đáng chú ý là khi các tiêu chuẩn không được xây dựng trên cơ sở tham chiếu đầy đủ yêu cầu năng lực của nhau, sự tương ứng giữa kết quả đào tạo, đánh giá kỹ năng nghề và năng lực thực hiện công việc khó được xác lập ngay từ đầu. Điều này làm tăng yêu cầu phải đối chiếu, phân tích lại nội dung và mức độ năng lực khi xem xét công nhận kết quả đã tích lũy giữa các hệ thống.
Trong các lĩnh vực chịu tác động mạnh của chuyển đổi công nghệ và chuyển đổi xanh, sự tham gia của doanh nghiệp còn có ý nghĩa đối với việc xác định những kỹ năng mới và cập nhật yêu cầu năng lực theo tiêu chuẩn ngành nghề quốc tế. Các doanh nghiệp hoạt động trong chuỗi cung ứng quốc tế có thể cung cấp thông tin về những tiêu chuẩn kỹ thuật, yêu cầu an toàn và năng lực nghề nghiệp đang được sử dụng trong thực tiễn, trong khi các tổ chức tiêu chuẩn, chứng nhận quốc tế có thể cung cấp cơ sở tham chiếu cho việc thiết kế và đánh giá chương trình. Việc kết nối các chủ thể này ngay từ giai đoạn xác định tiêu chuẩn năng lực có thể góp phần nâng cao tính phù hợp của CTĐT và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc đối sánh, công nhận kết quả đào tạo giữa các hệ thống trong nước và quốc tế.
Nhìn chung, nhóm yếu tố thứ nhất phản ánh những hạn chế về tính tương thích của tiêu chuẩn năng lực và cơ sở kỹ thuật phục vụ đối sánh giữa các hệ thống, chứ không phải sự thiếu vắng hoàn toàn các tiêu chuẩn. Sự khác biệt về mục tiêu, phạm vi và cấu trúc mô tả năng lực ảnh hưởng đến quá trình xác định chuẩn đầu ra, thiết kế CTĐT, lựa chọn nội dung và tiêu chí đánh giá, đồng thời làm phức tạp việc công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, kỹ năng nghề. Trong khi đó, các công cụ đối sánh ở cấp độ năng lực thành phần chưa được sử dụng rộng rãi, cùng với sự tham gia chưa đầy đủ của các chủ thể sử dụng lao động và sự khác biệt giữa tiêu chuẩn trong nước với tiêu chuẩn quốc tế, tiếp tục đặt ra yêu cầu tăng cường tính kết nối giữa các hệ thống. Đây là nhóm yếu tố liên quan chủ yếu đến việc xác định những năng lực nào cần được đào tạo, đánh giá và có thể đối sánh, công nhận; cần được phân biệt với các vấn đề về điều kiện nguồn lực và năng lực tổ chức đào tạo, độ tin cậy của hoạt động đánh giá, thông tin minh chứng, động lực tham gia và cơ chế tổ chức thực hiện được phân tích trong các mục tiếp theo.
Lý do 2. Điều kiện nguồn lực và năng lực tổ chức đào tạo chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu phát triển kỹ năng nghề
Một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng và khả năng đáp ứng nhu cầu kỹ năng của các CTĐT là điều kiện nguồn lực và năng lực tổ chức thực hiện của các chủ thể cung cấp đào tạo. Các điều kiện này bao gồm năng lực chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn của đội ngũ giảng viên, mức độ phù hợp của trang thiết bị và môi trường thực hành, khả năng tổ chức đào tạo gắn với hoạt động sản xuất, cũng như năng lực triển khai các chương trình theo những tiêu chuẩn nghề nghiệp và công nghệ mới. Kết quả phỏng vấn cho thấy một số cơ sở GDNN đã chủ động cập nhật chương trình, đầu tư trang thiết bị và tăng cường hợp tác với doanh nghiệp, trong đó có những mô hình được hỗ trợ bởi các tập đoàn công nghệ và đối tác phát triển quốc tế. Tuy nhiên, các điều kiện này chưa đồng đều giữa những cơ sở được khảo sát và còn chịu ảnh hưởng bởi sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ, khả năng huy động nguồn lực và những yêu cầu ngày càng cao về đào tạo kỹ năng nghề. Đối với các lĩnh vực điện, năng lượng tái tạo, hiệu quả năng lượng và công nghệ xanh, những yếu tố này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng do hoạt động đào tạo thường đòi hỏi sự kết hợp giữa kiến thức chuyên môn, kỹ năng thực hành trên thiết bị và khả năng đáp ứng những tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn trong môi trường làm việc thực tế.
Năng lực giảng viên và khả năng cập nhật công nghệ, yêu cầu thực tiễn nghề nghiệp
Năng lực của đội ngũ giảng viên là một điều kiện quan trọng bảo đảm chất lượng đào tạo, đặc biệt đối với những ngành nghề có sự thay đổi nhanh về công nghệ, thiết bị và quy trình sản xuất. Bên cạnh kiến thức chuyên môn và kỹ năng sư phạm, việc tổ chức đào tạo theo yêu cầu năng lực nghề nghiệp đòi hỏi giảng viên thường xuyên cập nhật công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật và phương pháp thực hiện công việc trong môi trường doanh nghiệp. Đối với các lĩnh vực liên quan đến chuyển đổi xanh, yêu cầu này thể hiện ở khả năng tích hợp những công nghệ và quy trình mới vào nội dung giảng dạy, từ thiết bị điện, hệ thống điều hòa không khí tiết kiệm năng lượng đến các công nghệ phục vụ sản xuất và sử dụng năng lượng hiệu quả.
Kết quả khảo sát ghi nhận một số mô hình hợp tác tích cực giữa doanh nghiệp và cơ sở GDNN trong phát triển năng lực giảng viên. Thay vì chỉ cử chuyên gia trực tiếp tham gia giảng dạy từng khóa, một số doanh nghiệp triển khai phương thức đào tạo giảng viên nguồn nhằm chuyển giao chương trình và mở rộng khả năng tổ chức đào tạo tại các trường.
"Chúng tôi đi theo hướng khác, không phải là người của doanh nghiệp sẽ đến trường để đào tạo. Mà thay vào đó thì sẽ đào tạo giảng viên nguồn để mở rộng cái nguồn nhân lực"
DN#5
Mô hình này cho thấy việc chuyển giao năng lực cho giảng viên có thể tạo điều kiện duy trì hoạt động đào tạo lâu dài tại cơ sở GDNN, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào việc doanh nghiệp trực tiếp cung cấp nhân sự giảng dạy. Bên cạnh đó, các hoạt động hợp tác phát triển quốc tế cũng được ghi nhận đã hỗ trợ chuyển giao chương trình và bồi dưỡng giảng viên trong những lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ xanh.
Tuy nhiên, khả năng tiếp cận môi trường sản xuất thực tế và cập nhật công nghệ của giảng viên vẫn là một vấn đề được một số bên liên quan đề cập. Ngược lại, việc huy động chuyên gia có kinh nghiệm từ doanh nghiệp tham gia đào tạo tại cơ sở GDNN có thể gặp khó khăn do các yêu cầu về điều kiện giảng dạy.
Đại diện hiệp hội nhận xét: "Cái yếu là giảng viên ở các trường cao đẳng lại ít được đến doanh nghiệp", đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường trải nghiệm thực tế để giảng viên có thể điều chỉnh chương trình và phương pháp đào tạo phù hợp hơn với quy trình sản xuất, tiêu chuẩn và yêu cầu của công nghiệp (HH#1). Đối với các công nghệ đang thay đổi nhanh, khoảng cách giữa kinh nghiệm giảng dạy tại trường và yêu cầu vận hành thực tế có thể ảnh hưởng đến việc cập nhật nội dung đào tạo cũng như khả năng hướng dẫn người học thực hiện những nhiệm vụ nghề nghiệp mới.
Đại diện một tổ chức hợp tác phát triển quốc tế cho rằng những quy định liên quan đến chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm có thể tạo ra rào cản đối với việc doanh nghiệp cử kỹ sư, chuyên gia kỹ thuật tham gia giảng dạy chính thức tại trường (QT#1). Nhận định này cần được xem xét trong phạm vi những trường hợp và hình thức tham gia cụ thể, bởi yêu cầu đối với người giảng dạy có thể khác nhau theo loại chương trình và nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, ý kiến phỏng vấn cho thấy sự cần thiết phải có những cơ chế phối hợp phù hợp nhằm khai thác kinh nghiệm thực tiễn của chuyên gia doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm yêu cầu về chất lượng và năng lực sư phạm trong tổ chức đào tạo.
Như vậy, vấn đề không chỉ nằm ở trình độ chuyên môn sẵn có của giảng viên mà còn ở điều kiện để đội ngũ này thường xuyên cập nhật năng lực và kết nối với môi trường nghề nghiệp thực tế. Những mô hình đào tạo giảng viên nguồn, chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp và hợp tác phát triển quốc tế cho thấy các hướng tiếp cận khả thi, nhưng khả năng triển khai rộng rãi còn phụ thuộc vào nguồn lực của cơ sở GDNN, mức độ tham gia của doanh nghiệp và các cơ chế phối hợp phù hợp.
Điều kiện trang thiết bị và môi trường thực hành chưa theo kịp yêu cầu công nghệ trong một số lĩnh vực
Trang thiết bị và môi trường thực hành là điều kiện trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng hình thành kỹ năng nghề, đặc biệt đối với các ngành kỹ thuật đòi hỏi người học phải thực hiện thao tác, vận hành thiết bị và xử lý tình huống trong điều kiện gần với thực tế sản xuất. Trong những lĩnh vực liên quan đến chuyển đổi xanh, sự phát triển của các công nghệ mới đặt ra yêu cầu cập nhật thường xuyên trang thiết bị và học liệu thực hành. Các hệ thống điện, thiết bị sử dụng năng lượng hiệu quả, công nghệ điện lạnh, phương tiện điện và những hệ thống năng lượng tái tạo có đặc điểm kỹ thuật khác nhau, do đó cũng đòi hỏi những điều kiện thực hành phù hợp với yêu cầu của từng nghề.
Kết quả phỏng vấn ghi nhận sự tham gia của một số doanh nghiệp trong việc hỗ trợ cơ sở vật chất và trang thiết bị cho các trường cao đẳng. Doanh nghiệp DN#5 có kế hoạch tiếp tục hỗ trợ trường về máy móc, thiết bị và vật tư phục vụ đào tạo. Một số trường cao đẳng đào tạo lĩnh vực công nghệ kỹ thuật ô tô cho biết đã được doanh nghiệp tài trợ phương tiện điện để phục vụ hoạt động đào tạo (CĐ#7, CĐ#4-5). Những trường hợp này cho thấy hợp tác với doanh nghiệp có thể tạo điều kiện để cơ sở GDNN tiếp cận những công nghệ đang được sử dụng trên thị trường, qua đó tăng tính thực tiễn của CTĐT và giảm một phần gánh nặng đầu tư ban đầu.
Mặc dù vậy, khả năng đầu tư và cập nhật trang thiết bị của cơ sở GDNN khó có thể theo kịp toàn bộ sự thay đổi và đa dạng của công nghệ trong doanh nghiệp.
Đại diện hiệp hội nhận xét rằng ngay cả khi các trường có nhiều trang thiết bị, điều kiện thực hành tại trường cũng khó đạt được mức độ đa dạng tương đương với các doanh nghiệp sản xuất (HH#1). Sự khác biệt này đặc biệt đáng chú ý đối với những công nghệ có giá trị đầu tư lớn, quy mô thiết bị phức tạp hoặc yêu cầu điều kiện vận hành chuyên biệt. Trong các lĩnh vực như điện gió, điện mặt trời hoặc hệ thống điện công nghiệp, việc tái hiện đầy đủ môi trường và thiết bị sản xuất tại cơ sở đào tạo có thể đòi hỏi nguồn lực vượt quá khả năng đầu tư độc lập của một trường cao đẳng.
Bên cạnh hạn chế về kinh phí và điều kiện cơ sở vật chất, việc tiếp cận công nghệ cũng có thể chịu ảnh hưởng bởi chính sách bảo mật thông tin kỹ thuật của doanh nghiệp và nhà sản xuất. Do đó, năng lực tổ chức đào tạo thực hành cần được xem xét trong mối quan hệ giữa cơ sở vật chất của nhà trường và khả năng khai thác môi trường sản xuất thực tế tại doanh nghiệp. Việc phát triển xưởng thực hành, thiết bị mô phỏng và các mô hình đào tạo chuyên biệt có thể hỗ trợ hình thành kỹ năng cơ bản, nhưng khó thay thế hoàn toàn trải nghiệm trên thiết bị và quy trình công nghệ thực tế. Điều này đặt ra yêu cầu phối hợp các nguồn lực đào tạo giữa cơ sở GDNN với doanh nghiệp, nhất là trong những ngành nghề có tốc độ đổi mới công nghệ cao hoặc chi phí trang thiết bị lớn.
Người trả lời CĐ#8 cho biết một số thành phần công nghệ quan trọng của ô tô điện, đặc biệt là những nội dung liên quan đến hệ thống điện và điều khiển, còn được các hãng bảo mật và chưa phổ biến đầy đủ cho các cơ sở đào tạo. Trường hợp này cho thấy hạn chế về điều kiện thực hành không chỉ xuất phát từ khả năng đầu tư trang thiết bị mà còn liên quan đến quyền tiếp cận công nghệ, học liệu kỹ thuật và những điều kiện chuyển giao từ doanh nghiệp.
Khả năng tổ chức đào tạo thực hành và đào tạo tại doanh nghiệp còn phụ thuộc vào điều kiện phối hợp, an toàn và nguồn lực của các bên
Bên cạnh đội ngũ giảng viên và trang thiết bị, chất lượng đào tạo kỹ năng nghề còn phụ thuộc vào cách thức tổ chức hoạt động thực hành và khả năng kết nối quá trình học tập tại trường với môi trường làm việc thực tế. Kết quả khảo sát cho thấy các cơ sở GDNN được phỏng vấn đã chú trọng hoạt động thực hành, áp dụng những bài tập tích hợp, thực hiện nhiệm vụ trên thiết bị và tổ chức các hình thức đào tạo gắn với doanh nghiệp. Một số cơ sở phát triển những mô hình phối hợp trong đó người học được đào tạo một phần tại trường, một phần tại trung tâm đào tạo của doanh nghiệp và tiếp tục thực tập tại vị trí việc làm (CĐ#17, TT#2, CĐ#6). Những cách thức tổ chức này tạo điều kiện để người học tiếp cận quy trình sản xuất, rèn luyện tác phong công nghiệp và hình thành kỹ năng thực hiện công việc trong bối cảnh nghề nghiệp thực tế.
Tuy nhiên, tổ chức đào tạo thực hành trong môi trường doanh nghiệp cũng đặt ra những yêu cầu và rủi ro riêng. Đối với các ngành nghề sử dụng thiết bị có giá trị lớn, công nghệ phức tạp hoặc môi trường làm việc có nguy cơ cao, việc tiếp nhận người học tham gia thực hành, thực tập phải được cân nhắc trên cơ sở yêu cầu an toàn, năng lực của người học và trách nhiệm của các bên.
Đại diện doanh nghiệp điện gió DN#6 cho rằng trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, doanh nghiệp có thể phải gánh chịu những rủi ro đáng kể khi tiếp nhận người học thực hành trên thiết bị, bao gồm nguy cơ tai nạn lao động và sự cố đối với hệ thống tuabin có giá trị lớn. Ý kiến này cho thấy ngay cả khi doanh nghiệp có nhu cầu phát triển nguồn nhân lực, việc mở rộng cơ hội đào tạo tại nơi làm việc vẫn phụ thuộc vào khả năng kiểm soát rủi ro và những điều kiện tổ chức phù hợp của doanh nghiệp.
Chi phí nguyên vật liệu và thiết bị phục vụ thực hành cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng mở rộng các hoạt động đào tạo.
Đại diện Trường Cao đẳng Điện tử Điện lạnh Hà Nội cho biết việc để người học trực tiếp thực hành, thực hiện nhiệm vụ và sử dụng vật tư tại doanh nghiệp có thể làm phát sinh chi phí đáng kể đối với đơn vị tiếp nhận (CĐ#8). Bên cạnh đó, một số cơ sở GDNN cũng ghi nhận sự khác biệt giữa nội dung đào tạo tương đối rộng tại trường và những yêu cầu kỹ thuật cụ thể của doanh nghiệp. Đại diện Trường Cao đẳng nghề Việt – Đức Hà Tĩnh nhận xét rằng mặc dù chương trình dành tỷ lệ thời gian đáng kể cho thực hành, một số nội dung vẫn còn mang tính hàn lâm và chưa sát hoàn toàn với yêu cầu thực tế tại doanh nghiệp (CĐ#7). Điều này cho thấy tỷ lệ thời lượng thực hành cao chưa đủ để bảo đảm mức độ phù hợp với công việc nếu nội dung, thiết bị, nhiệm vụ và bối cảnh thực hành chưa phản ánh đầy đủ yêu cầu nghề nghiệp.
Nhìn chung, khả năng tổ chức đào tạo thực hành và đào tạo tại doanh nghiệp phụ thuộc vào sự kết hợp giữa năng lực tổ chức của cơ sở GDNN, mức độ sẵn sàng hợp tác của doanh nghiệp và các điều kiện về thiết bị, nguyên vật liệu, an toàn và trách nhiệm trong quá trình đào tạo. Những mô hình hợp tác chặt chẽ đã được ghi nhận cho thấy tiềm năng nâng cao tính thực tiễn của đào tạo, nhưng việc áp dụng rộng rãi cần tính đến đặc điểm công nghệ, môi trường làm việc và khả năng chia sẻ nguồn lực, rủi ro giữa các bên.
Năng lực phát triển và triển khai CTĐT theo tiêu chuẩn quốc tế còn phụ thuộc vào điều kiện bảo đảm chất lượng và hợp tác kỹ thuật
Đối với các lĩnh vực năng lượng, hiệu quả năng lượng và công nghệ xanh, yêu cầu phát triển kỹ năng không chỉ gắn với việc cập nhật công nghệ trong nước mà còn liên quan đến những tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn và nghề nghiệp được sử dụng trong chuỗi cung ứng quốc tế. Trong bối cảnh này, việc phát triển CTĐT đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế có thể góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, tạo điều kiện để kết quả học tập được các doanh nghiệp quốc tế tin tưởng và mở rộng cơ hội nghề nghiệp của người lao động. Tuy nhiên, cần phân biệt giữa chương trình có nội dung tham chiếu tiêu chuẩn quốc tế, chương trình được thiết kế đáp ứng một bộ tiêu chuẩn quốc tế cụ thể và chương trình được tổ chức có thẩm quyền đánh giá, công nhận. Những mức độ này đòi hỏi các điều kiện triển khai và cơ chế bảo đảm chất lượng khác nhau.
Kết quả khảo sát cho thấy đã có những mô hình hợp tác giữa cơ sở GDNN với doanh nghiệp và đối tác phát triển quốc tế nhằm chuyển giao chương trình, cập nhật công nghệ và nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên. Mô hình đào tạo giảng viên nguồn trong lĩnh vực điều hoà không khí (DN#5) là một ví dụ về việc doanh nghiệp tham gia phát triển năng lực đào tạo tại trường theo tiêu chuẩn kỹ thuật của hãng. Những chương trình hợp tác tại CĐ#6 cũng cho thấy khả năng kết hợp giữa cơ sở GDNN và doanh nghiệp trong tổ chức đào tạo trên thiết bị, quy trình và yêu cầu nghề nghiệp thực tế. Các trường hợp này phản ánh tiềm năng phát triển năng lực cung cấp đào tạo thông qua hợp tác kỹ thuật, thay vì chỉ phụ thuộc vào những CTĐT được thiết kế độc lập tại từng cơ sở.
Tuy nhiên, việc phát triển một chương trình theo tiêu chuẩn quốc tế thường đòi hỏi nhiều điều kiện hơn so với việc bổ sung một số nội dung kỹ thuật mới vào CTĐT hiện hành. Bên cạnh việc đối sánh và điều chỉnh chuẩn đầu ra, cơ sở đào tạo có thể cần đáp ứng các yêu cầu về đội ngũ giảng viên, trang thiết bị, môi trường thực hành, quy trình quản lý chất lượng và điều kiện đánh giá do tổ chức tiêu chuẩn hoặc đối tác công nhận quy định. Đối với những lĩnh vực sử dụng thiết bị có giá trị lớn hoặc đòi hỏi điều kiện an toàn chuyên biệt, chi phí đầu tư và duy trì các điều kiện này có thể trở thành rào cản đối với việc mở rộng các CTĐT được quốc tế công nhận.
Trường hợp các CTĐT theo tiêu chuẩn GWO trong ngành điện gió minh họa cho mối quan hệ giữa yêu cầu của thị trường lao động quốc tế và điều kiện tổ chức đào tạo. Những chứng nhận theo tiêu chuẩn GWO được các doanh nghiệp điện gió được phỏng vấn đánh giá cao và sử dụng như điều kiện đối với một số vị trí công việc (DN#7; DN#9). Tuy nhiên, để tổ chức đào tạo theo các tiêu chuẩn này, đơn vị cung cấp phải đáp ứng những yêu cầu cụ thể về nội dung, năng lực giảng viên, trang thiết bị, điều kiện an toàn và cơ chế đánh giá, chứng nhận áp dụng. Đây là ví dụ cho thấy giá trị sử dụng của chứng nhận quốc tế gắn với những điều kiện bảo đảm chất lượng tương ứng, đồng thời đặt ra yêu cầu về nguồn lực và năng lực tổ chức đối với các cơ sở mong muốn tham gia cung cấp đào tạo.
Vấn đề tương tự cũng đặt ra đối với những lĩnh vực khác thuộc phạm vi ưu tiên của dự án, dù yêu cầu cụ thể có thể khác nhau giữa các ngành nghề và tổ chức tiêu chuẩn. Trong lĩnh vực điện lạnh và điều hòa không khí, quá trình cập nhật công nghệ và tiêu chuẩn của nhà sản xuất đòi hỏi cơ sở đào tạo phải được hỗ trợ về nội dung, giảng viên và thiết bị thực hành. Trong lĩnh vực điện, tự động hóa và hiệu quả năng lượng, việc phát triển các mô-đun kỹ thuật phù hợp với công nghệ và tiêu chuẩn nghề nghiệp mới cũng phụ thuộc vào khả năng tiếp cận thiết bị, học liệu và chuyên gia. Đối với năng lượng tái tạo, các yêu cầu về an toàn và vận hành thiết bị tiếp tục làm gia tăng nhu cầu phối hợp giữa cơ sở GDNN, doanh nghiệp và tổ chức chuyên môn.
Như vậy, hạn chế về năng lực cung cấp đào tạo theo tiêu chuẩn quốc tế không nên được hiểu đơn thuần là thiếu CTĐT có nội dung phù hợp, mà còn liên quan đến khả năng đáp ứng đồng bộ những điều kiện để triển khai, đánh giá và duy trì chất lượng chương trình. Các mô hình chuyển giao chương trình, đào tạo giảng viên nguồn, hỗ trợ trang thiết bị và hợp tác với tổ chức quốc tế cho thấy những hướng tiếp cận có thể phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, việc phát triển các mô hình được quốc tế công nhận và có khả năng duy trì lâu dài còn phụ thuộc vào năng lực nội tại của cơ sở đào tạo, sự tham gia của doanh nghiệp, cơ chế hợp tác kỹ thuật và nguồn lực đầu tư phù hợp.
Nhìn chung, nhóm yếu tố thứ hai cho thấy điều kiện nguồn lực và năng lực tổ chức đào tạo có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng chuyển hóa các yêu cầu kỹ năng nghề thành những chương trình và hoạt động đào tạo có chất lượng, đáp ứng nhu cầu thực tế của thị trường lao động. Trong khi một số cơ sở GDNN đã phát triển những mô hình hợp tác tích cực với doanh nghiệp và đối tác quốc tế, sự khác biệt về năng lực giảng viên, điều kiện trang thiết bị, khả năng tổ chức đào tạo thực hành và mức độ tiếp cận tiêu chuẩn, công nghệ mới tiếp tục đặt ra những thách thức đối với việc mở rộng các mô hình đào tạo chất lượng cao. Đối với các lĩnh vực ưu tiên của dự án, việc nâng cao năng lực cung cấp đào tạo theo tiêu chuẩn quốc tế cần được xem xét đồng thời với phát triển quan hệ hợp tác kỹ thuật và cơ chế bảo đảm chất lượng phù hợp. Đây là nhóm yếu tố liên quan chủ yếu đến khả năng tổ chức hoạt động đào tạo đáp ứng các yêu cầu năng lực đã xác định, cần được phân biệt với sự khác biệt về tiêu chuẩn năng lực và cơ chế đối sánh ở Lý do 1, cũng như những vấn đề về chất lượng đánh giá, thông tin minh chứng, động lực tham gia và điều kiện thể chế được phân tích trong các lý do tiếp theo.
Lý do 3. Sự khác biệt về phương thức đánh giá, cơ chế bảo đảm chất lượng và mức độ tin cậy giữa các chủ thể
Một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động đánh giá, giá trị sử dụng của VB-CC-CN và khả năng công nhận, liên thông kết quả học tập, kỹ năng nghề là sự khác biệt về phương thức đánh giá, yêu cầu bảo đảm chất lượng và mức độ tin cậy đối với kết quả do các tổ chức khác nhau thực hiện. Chất lượng đánh giá trước hết liên quan đến khả năng xác định đúng năng lực mà người học, người lao động đã đạt được so với những yêu cầu hoặc tiêu chuẩn được áp dụng. Trong khi đó, khả năng công nhận kết quả giữa các chủ thể còn phụ thuộc vào việc bên tiếp nhận có đủ cơ sở tin tưởng rằng năng lực đã được đánh giá một cách phù hợp, khách quan và đáp ứng yêu cầu chất lượng hay không. Kết quả phỏng vấn cho thấy các cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và tổ chức chứng nhận áp dụng những phương thức đánh giá khác nhau; trong một số trường hợp, bên tiếp nhận lựa chọn đánh giá lại năng lực thay vì chỉ dựa vào kết quả đã được xác nhận trước đó. Vấn đề này không nhất thiết phản ánh chất lượng đánh giá thấp của các tổ chức cấp chứng nhận, mà cho thấy mức độ tin cậy giữa các chủ thể chưa được thiết lập đầy đủ hoặc chưa có đủ cơ sở để bên tiếp nhận sử dụng trực tiếp kết quả đánh giá của bên khác. Bên cạnh đó, sự khác biệt về năng lực của người đánh giá, mức độ tham gia của các chủ thể bên ngoài và cơ chế kiểm soát chất lượng cũng đặt ra những yêu cầu khác nhau đối với việc bảo đảm tính nhất quán và độ tin cậy của kết quả đánh giá trong từng hệ thống.
Khác biệt về phương thức đánh giá và yêu cầu bảo đảm chất lượng
Phương thức đánh giá có ảnh hưởng trực tiếp đến loại năng lực được xác nhận và mức độ phản ánh khả năng thực hiện công việc thực tế của người học, người lao động. Trong hệ thống GDNN, kết quả học tập thường được đánh giá theo môn học, mô-đun và chuẩn đầu ra của chương trình, thông qua các hình thức kiểm tra lý thuyết, thực hành hoặc kết hợp cả hai. Trong khi đó, doanh nghiệp có thể đánh giá năng lực thông qua bài kiểm tra tay nghề, sản phẩm thực tế, phỏng vấn kỹ thuật hoặc quan sát khả năng thực hiện công việc trong điều kiện sản xuất. Những phương thức này không nhất thiết đối lập về chất lượng, nhưng tạo ra sự khác biệt về loại bằng chứng được sử dụng để xác nhận năng lực. Đối với hoạt động đánh giá trong từng hệ thống, vấn đề đặt ra là mức độ phù hợp giữa phương pháp đánh giá với chuẩn năng lực cần xác nhận. Một kết quả kiểm tra kiến thức có thể chưa cung cấp đầy đủ bằng chứng về khả năng thực hiện công việc, trong khi việc hoàn thành một nhiệm vụ thực hành cụ thể cũng chưa nhất thiết phản ánh đầy đủ toàn bộ năng lực nghề nghiệp được quy định trong chuẩn đầu ra của chương trình. Vì vậy, bên tiếp nhận có thể cần thêm cơ sở để xác định kết quả đánh giá trước đó có phản ánh được khả năng thực hiện công việc theo yêu cầu của mình hay không.
Sự khác biệt về phương thức đánh giá cũng phản ánh những mục đích sử dụng kết quả khác nhau. Đối với các CTĐT chính quy, hoạt động đánh giá cần xác định mức độ đạt chuẩn đầu ra của người học. Đối với CTĐT tại doanh nghiệp, trọng tâm có thể là khả năng thực hiện một nhiệm vụ kỹ thuật hoặc vận hành thiết bị theo yêu cầu của vị trí việc làm. Đối với các chứng nhận nghề nghiệp chuyên biệt, đánh giá có thể tập trung vào việc chứng minh năng lực đáp ứng một tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn hoặc quy trình được tổ chức chứng nhận quy định. Những khác biệt này có thể phù hợp với mục đích của từng hệ thống, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu phải xác định rõ phạm vi năng lực đã được đánh giá khi sử dụng kết quả cho những mục đích khác.
Một vấn đề liên quan là mức độ độc lập giữa hoạt động đào tạo và hoạt động đánh giá có thể ảnh hưởng đến sự tin cậy của kết quả. Khi các hệ thống áp dụng những mức độ độc lập và kiểm soát đánh giá khác nhau, bên tiếp nhận có thể có cách nhìn nhận khác nhau về mức độ tin cậy của kết quả được xác nhận. Từ góc độ chất lượng đánh giá, vấn đề quan trọng không chỉ là hoạt động đào tạo và đánh giá có được thực hiện bởi các tổ chức độc lập hay không, mà còn là sự hiện diện của những cơ chế kiểm soát phù hợp nhằm hạn chế xung đột lợi ích, bảo đảm tính khách quan và nhất quán trong đánh giá. Sự tham gia của doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp hoặc chuyên gia bên ngoài có thể bổ sung góc nhìn thực tiễn về năng lực thực hiện công việc, nhất là đối với các nội dung đánh giá kỹ năng nghề chuyên sâu. Tuy nhiên, mức độ tham gia và trách nhiệm của các chủ thể này cần được xác định phù hợp với loại hình chương trình, yêu cầu đánh giá và thẩm quyền của tổ chức cấp VB-CC-CN.
Đại diện cơ quan QLNN đặt vấn đề về trường hợp cùng một hệ thống vừa xác định chuẩn đào tạo, vừa tổ chức đánh giá theo chuẩn đó và tự xác nhận kết quả, sử dụng cách diễn đạt "vừa đá bóng vừa thổi còi" để chỉ nguy cơ thiếu tính độc lập, khách quan trong đánh giá (NN#3). Dữ liệu khảo sát ghi nhận rất ít trường hợp doanh nghiệp, hiệp hội hoặc tổ chức bên ngoài cùng tham gia đánh giá kết quả học tập của người học trong ở cơ sở GDNN (CĐ#1, CĐ#9) và doanh nghiệp cũng không tham gia thường xuyên trong mọi hoạt động đánh giá. Nhận định này không đồng nghĩa với việc kết quả đánh giá do cơ sở đào tạo thực hiện là thiếu khách quan, mà đặt ra yêu cầu phải có cơ chế bảo đảm chất lượng phù hợp khi hoạt động đào tạo và đánh giá do cùng một chủ thể đảm nhiệm. Ngược lại đối với các chứng chỉ, chứng nhận thuộc Nhóm 3, trừ các hoạt động đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp thuộc Tiểu nhóm 3.4 hoặc đào tạo theo tiêu chuẩn của nhà sản xuất quốc tế thuộc Tiểu nhóm 3.5, kết quả khảo sát chưa ghi nhận trường hợp cơ sở GDNN nào tham gia với tư cách đánh giá viên trong các CTĐT nội bộ của doanh nghiệp.
Sự tin cậy đối với kết quả đánh giá chưa được thiết lập đầy đủ giữa các bên liên quan
Kết quả khảo sát ghi nhận sự tin cậy đối với chứng nhận và kết quả đánh giá của tổ chức khác chưa được thiết lập đồng đều, đặc biệt giữa các doanh nghiệp, hãng công nghệ và giữa cơ sở GDNN với hệ thống chứng nhận doanh nghiệp. Trong một số trường hợp, bên tiếp nhận không sử dụng trực tiếp kết quả đánh giá đã có mà tiếp tục tổ chức kiểm tra, sát hạch theo yêu cầu riêng. Điều này cho thấy việc một cá nhân đã được đánh giá và xác nhận năng lực bởi một tổ chức chưa đủ để tổ chức khác mặc nhiên tin tưởng vào kết quả đó. Tuy nhiên, cần phân biệt giữa việc không tin tưởng chất lượng đánh giá với việc kết quả đánh giá chưa phù hợp với yêu cầu công việc hoặc chương trình tiếp nhận; hai vấn đề có thể cùng xuất hiện nhưng không hoàn toàn đồng nhất.
HH#2 nhận xét sự tin tưởng và thừa nhận lẫn nhau giữa các hãng còn hạn chế, kể cả trong cùng lĩnh vực chuyên môn. Ý kiến này bổ sung góc nhìn về quan hệ giữa các tổ chức, cần phân biệt với bằng chứng về yêu cầu kỹ thuật khác nhau ở Lý do 1 và hiện tượng kiểm tra lại trong HOW. Cùng một hành vi đánh giá lại có thể xuất phát từ yêu cầu công việc khác biệt, thông tin chưa đủ hoặc sự thận trọng về chất lượng; dữ liệu hiện có chưa cho phép tách riêng mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố hay khái quát cho mọi doanh nghiệp.
Sự thận trọng đối với kết quả đánh giá của tổ chức khác cũng xuất phát từ những trải nghiệm thực tế về sự khác biệt giữa năng lực được mô tả và khả năng thực hiện công việc. Mức độ tin cậy đối với kết quả đánh giá không chỉ phụ thuộc vào uy tín của tổ chức cấp mà còn liên quan đến khả năng các bên cùng thừa nhận tiêu chuẩn, phương thức đánh giá và cơ chế bảo đảm chất lượng được áp dụng. Khi những điều kiện này được xác định rõ và sử dụng nhất quán, kết quả đánh giá có thể được chấp nhận rộng rãi hơn trong phạm vi ngành nghề liên quan. Ngược lại, khi chưa có đủ thông tin hoặc cơ sở kiểm chứng, các bên tiếp nhận có xu hướng duy trì hoạt động đánh giá bổ sung nhằm tự xác lập căn cứ chuyên môn trước khi sử dụng hoặc công nhận kết quả.
Đại diện một doanh nghiệp kỹ thuật cho biết từng tuyển dụng người lao động có kinh nghiệm làm việc tại các hãng lớn nhưng năng lực thực tế sau tuyển dụng không hoàn toàn tương ứng với những thông tin được thể hiện trong hồ sơ (DN#7). Trường hợp này không trực tiếp chứng minh chứng nhận của đơn vị trước đó thiếu chất lượng, nhưng cho thấy bên sử dụng lao động có thể chưa đủ tin tưởng vào các thông tin xác nhận năng lực sẵn có và cần kiểm tra lại trước khi sử dụng. Đây là biểu hiện của sự thận trọng trong tiếp nhận kết quả đánh giá, đồng thời cho thấy niềm tin giữa các tổ chức cần được xây dựng trên cơ sở chất lượng và tính nhất quán của quá trình đánh giá.
Đối với chiều công nhận từ doanh nghiệp sang cơ sở GDNN, kết quả phỏng vấn cũng ghi nhận sự thận trọng nhất định. Đại diện một hiệp hội cho rằng các trường khó có thể sử dụng trực tiếp chứng nhận của hãng khi chưa biết rõ chương trình và phương thức đánh giá được áp dụng, bởi hoạt động đào tạo của hãng trước hết phục vụ yêu cầu kỹ thuật riêng của doanh nghiệp (HH#2). Tuy nhiên, ý kiến này phản ánh quan điểm của người được phỏng vấn, chưa đủ để kết luận các cơ sở GDNN nói chung không tin tưởng hoặc không công nhận chứng nhận do doanh nghiệp cấp. Vấn đề có thể xác định từ dữ liệu là bên tiếp nhận cần có cơ sở để đánh giá chất lượng của kết quả đã được xác nhận, thay vì chỉ căn cứ vào việc chứng nhận được cấp bởi một doanh nghiệp hoặc tổ chức có tên tuổi.
Ở chiều ngược lại, các hệ thống chứng nhận có tiêu chuẩn đánh giá được sử dụng và chấp nhận rộng rãi trong một ngành nghề có thể tạo ra mức độ tin cậy tương đối cao giữa các doanh nghiệp. Trường hợp GWO trong ngành điện gió minh họa cho vai trò của tiêu chuẩn đào tạo và đánh giá được ngành công nghiệp sử dụng chung. Doanh nghiệp DN#9 cho biết khi người lao động có chứng nhận GWO còn hiệu lực, doanh nghiệp có thể sử dụng kết quả đó làm căn cứ xác định việc đáp ứng yêu cầu đào tạo an toàn tương ứng mà không nhất thiết phải tổ chức kiểm tra lại nội dung đã được chứng nhận. Tuy nhiên, sự tin tưởng này cần được hiểu trong phạm vi những năng lực và yêu cầu đào tạo cụ thể được chứng nhận, không đồng nghĩa với việc người lao động được miễn tất cả các hoạt động đánh giá năng lực kỹ thuật hoặc điều kiện an toàn khác.
Cơ chế bảo đảm và kiểm chứng chất lượng đánh giá chưa đồng đều giữa các hệ thống
Mức độ tin cậy đối với kết quả đánh giá còn phụ thuộc vào sự hiện diện và tính minh bạch của các cơ chế bảo đảm chất lượng, đặc biệt là tiêu chuẩn đối với tổ chức đánh giá, năng lực của người đánh giá và hoạt động kiểm tra, giám sát độc lập. Một kết quả đánh giá có thể được xem là đáng tin cậy hơn khi bên tiếp nhận có cơ sở xác định rằng quá trình đánh giá được thực hiện theo quy trình chuyên môn rõ ràng, bởi đội ngũ đủ năng lực và chịu sự kiểm soát chất lượng phù hợp. Ngược lại, khi không xác định được mức độ kiểm soát chất lượng của hoạt động đánh giá, bên tiếp nhận có thể thận trọng hơn trong việc sử dụng kết quả do tổ chức khác xác nhận. Vấn đề ở đây không phải là hình thức của văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận mà là mức độ bảo đảm chất lượng của quá trình đánh giá làm căn cứ cấp kết quả đó.
Đối với hoạt động đánh giá trong từng hệ thống, cơ chế bảo đảm chất lượng cần được xem xét trên nhiều phương diện, bao gồm sự phù hợp của tiêu chí đánh giá với chuẩn năng lực, năng lực của người đánh giá, mức độ thống nhất trong áp dụng phương pháp đánh giá, quy trình kiểm tra và giám sát, cũng như cơ chế xử lý những trường hợp kết quả đánh giá không đáp ứng yêu cầu. Các điều kiện này có quan hệ với nhau và ảnh hưởng đến khả năng bảo đảm rằng những người được xác nhận đạt cùng một tiêu chuẩn thực sự đáp ứng các yêu cầu năng lực tương ứng. Vì vậy, việc có quy trình hoặc tiêu chuẩn đánh giá chưa đủ để khẳng định chất lượng nếu thiếu những cơ chế bảo đảm việc áp dụng nhất quán trong thực tế.
Dữ liệu khảo sát cho thấy việc áp dụng tiêu chuẩn quốc tế và cơ chế kiểm định độc lập có thể góp phần nâng cao độ tin cậy của hoạt động đào tạo, đánh giá, nhưng hiệu quả còn phụ thuộc vào khả năng duy trì chất lượng triển khai tại từng cơ sở. Trường hợp GWO cho thấy các tổ chức đào tạo phải tuân thủ những yêu cầu chuyên môn cụ thể, được đánh giá bởi tổ chức kiểm định bên ngoài và chịu sự giám sát định kỳ. Đại diện một trung tâm đào tạo theo tiêu chuẩn GWO cho biết việc đáp ứng các yêu cầu này được kiểm tra hằng năm, qua đó tạo cơ sở để các bên liên quan tin tưởng vào chất lượng đào tạo và đánh giá (TT#1). Tuy nhiên, một số người trả lời phản ánh rằng chất lượng triển khai giữa các trung tâm được chấp nhận vẫn có thể khác nhau, trong khi tần suất và hiệu quả giám sát chưa phải lúc nào cũng bảo đảm phát hiện, xử lý kịp thời những sai lệch trong thực hiện (TT#1, DN#9). Điều này cho thấy việc thiết lập tiêu chuẩn chung và kiểm định tổ chức đào tạo là những điều kiện quan trọng nhưng chưa đủ để bảo đảm chất lượng đồng đều hoặc sự công nhận tự động đối với mọi kết quả đánh giá. Đối với việc phát triển các CTĐT và chứng nhận theo tiêu chuẩn quốc tế trong những lĩnh vực ưu tiên của dự án, yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng số lượng cơ sở đủ điều kiện cung cấp đào tạo mà còn phải bảo đảm cơ chế giám sát, đánh giá và duy trì chất lượng trong suốt quá trình triển khai.
Một vấn đề khác là tính liên tục của cơ chế xác nhận sau khi đối tác phát triển hỗ trợ rút khỏi chương trình. Đối với những chương trình được phát triển thông qua hợp tác quốc tế, tính bền vững của cơ chế bảo đảm chất lượng vì vậy cần được xem xét ngay từ giai đoạn thiết kế và chuyển giao. Việc đối tác quốc tế tham gia xây dựng, thẩm định hoặc hỗ trợ triển khai chương trình không mặc nhiên đồng nghĩa với việc cơ sở đào tạo được công nhận lâu dài hoặc được ủy quyền cấp chứng nhận quốc tế. Cần làm rõ phạm vi trách nhiệm của mỗi bên, điều kiện duy trì tiêu chuẩn, cơ chế đánh giá sau chuyển giao và những yêu cầu cần tiếp tục đáp ứng nếu cơ sở GDNN mong muốn cung cấp chương trình có sự công nhận của đối tác quốc tế.
"Theo QT#1, giấy xác nhận bổ sung về hoàn thành CTĐT theo tiêu chuẩn quốc tế có chữ ký của tổ chức phát triển và cơ sở GDNN trong thời gian dự án còn hỗ trợ, giám sát; sau khi dự án kết thúc, giấy xác nhận chỉ còn chữ ký của cơ sở GDNN. Dữ kiện này cho thấy cần làm rõ chủ thể tiếp tục chịu trách nhiệm về tiêu chuẩn, đánh giá và xác nhận kết quả sau dự án. Dữ liệu này cho thấy việc thay đổi chữ ký không tự chứng minh chất lượng suy giảm hoặc văn bản mất giá trị, nhưng đặt ra yêu cầu minh bạch về cơ chế bảo đảm chất lượng được duy trì."
Ở chiều ngược lại, một số bên liên quan đặt vấn đề về mức độ độc lập và khả năng kiểm chứng chất lượng của các hoạt động đánh giá do chính tổ chức đào tạo hoặc doanh nghiệp thực hiện.
Đại diện một hiệp hội đề xuất cần có các trung tâm đánh giá tay nghề độc lập với đơn vị đào tạo, nhằm hạn chế tình huống tổ chức vừa thực hiện đào tạo vừa tự đánh giá kết quả của mình (HH#2). Đây là quan điểm đề xuất về mô hình bảo đảm tính khách quan, không phải bằng chứng cho thấy tất cả hoạt động đánh giá do nhà trường hoặc doanh nghiệp tổ chức đều thiếu độc lập hoặc thiếu chất lượng. Tuy nhiên, ý kiến này phản ánh một yêu cầu được các bên liên quan nhận diện: bên tiếp nhận cần có cơ sở tin tưởng vào tính khách quan và chất lượng của quy trình đánh giá, đặc biệt khi kết quả được sử dụng ngoài phạm vi tổ chức đã thực hiện đánh giá.
Bên cạnh đó, đại diện một cơ sở GDNN cho rằng một số chứng nhận do doanh nghiệp cấp còn có nội dung xác nhận khá chung và chưa tạo được sự tin tưởng đủ lớn để nhà trường sử dụng trực tiếp làm căn cứ xem xét công nhận kết quả học tập. Người trả lời đề xuất có thể kết hợp sát hạch kiến thức và kỹ năng thực tế khi tiếp nhận những trường hợp này (đại diện một cơ sở GDNN). Ý kiến này cho thấy sự tin cậy không chỉ phụ thuộc vào uy tín của đơn vị cấp mà còn gắn với việc bên tiếp nhận có thể xác định được chứng nhận được cấp trên cơ sở đánh giá năng lực thực chất. Trong trường hợp chưa đủ cơ sở tin tưởng, hoạt động đánh giá bổ sung được xem là một cách để bên tiếp nhận tự xác lập căn cứ chuyên môn trước khi quyết định công nhận.
Nhìn chung, nhóm yếu tố thứ ba cho thấy chất lượng và độ tin cậy của kết quả đánh giá chịu ảnh hưởng bởi sự phù hợp của phương thức đánh giá với yêu cầu năng lực, năng lực của người đánh giá, mức độ độc lập và sự tham gia của các chủ thể bên ngoài, cũng như cơ chế bảo đảm và kiểm chứng chất lượng. Những khác biệt này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng đánh giá trong từng hệ thống mà còn quyết định mức độ tin tưởng và khả năng sử dụng kết quả giữa các hệ thống. Các trường hợp khảo sát cho thấy những cơ chế đánh giá theo tiêu chuẩn được thừa nhận rộng rãi, có kiểm soát chất lượng và giám sát từ bên ngoài có thể góp phần củng cố niềm tin của người sử dụng lao động. Tuy nhiên, dữ liệu không cho phép kết luận rằng các hệ thống đánh giá hiện có nhìn chung thiếu chất lượng hoặc thiếu khách quan. Vấn đề cốt lõi là chất lượng và mức độ tin cậy của quá trình đánh giá chưa được bảo đảm và thừa nhận đồng đều giữa các chủ thể, qua đó ảnh hưởng đến giá trị sử dụng của VB-CC-CN và khả năng công nhận, chuyển đổi kết quả học tập, kỹ năng nghề ngoài phạm vi tổ chức hoặc hệ thống đã thực hiện đánh giá. Đây là nhóm yếu tố liên quan chủ yếu đến việc xác định năng lực được đánh giá và xác nhận có đáng tin cậy hay không, cần được phân biệt với các vấn đề về tính tương thích của tiêu chuẩn, điều kiện tổ chức đào tạo, thông tin minh chứng và các cơ chế quản trị được phân tích trong những nhóm yếu tố khác.
Lý do 4. Hạn chế về minh bạch thông tin, ghi nhận minh chứng và khả năng chia sẻ, xác minh dữ liệu
Một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc tổ chức đào tạo, đánh giá, công nhận và liên thông kết quả học tập, kỹ năng nghề là mức độ đầy đủ, minh bạch và khả năng tiếp cận, sử dụng thông tin giữa các chủ thể. Thông tin về CTĐT, chuẩn đầu ra, nội dung học tập, phương thức đánh giá và kết quả đạt được không chỉ phục vụ việc tổ chức và bảo đảm chất lượng đào tạo mà còn là căn cứ để người học lựa chọn chương trình, doanh nghiệp nhận diện năng lực và các tổ chức xem xét công nhận kết quả đã được xác nhận trước đó. Trong thực tế, những thông tin này có thể không được tạo lập đầy đủ, chỉ được sử dụng trong phạm vi nội bộ hoặc không dễ dàng tiếp cận từ bên ngoài. Kết quả khảo sát cho thấy những hạn chế về thông tin xuất hiện ở nhiều khâu, từ công bố nội dung và yêu cầu của chương trình, ghi nhận kết quả đào tạo, đánh giá, minh chứng về năng lực tại nơi làm việc đến lưu trữ và xác thực VB-CC-CN. Vấn đề vì vậy không chỉ nằm ở sự thiếu hụt dữ liệu mà còn ở cách thức tổ chức, chia sẻ và sử dụng dữ liệu giữa các hệ thống đào tạo, đánh giá và công nhận kỹ năng nghề.
Thông tin về chương trình, tiêu chuẩn năng lực và kết quả đào tạo, đánh giá chưa được công bố và chia sẻ đầy đủ
Việc công bố đầy đủ thông tin về CTĐT, chuẩn đầu ra, nội dung học tập và yêu cầu đánh giá là điều kiện quan trọng để các bên liên quan nhận diện những năng lực mà chương trình hướng tới, hiểu được ý nghĩa của kết quả đào tạo và xác định khả năng sử dụng kết quả đó cho những mục đích khác nhau. Thông tin được thể hiện trên văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận hoặc trong các tài liệu công khai chưa phải lúc nào cũng đủ để bên tiếp nhận xác định cụ thể người học đã được đào tạo, đánh giá và đạt những kết quả gì. Trong nhiều trường hợp, các bên có thể tiếp cận tên chương trình, thời lượng đào tạo hoặc loại chứng nhận được cấp, nhưng không có đầy đủ thông tin về nội dung học tập, hoạt động thực hành, yêu cầu đánh giá và kết quả đạt được.
Sự hạn chế về thông tin có thể ảnh hưởng đến nhiều hoạt động. Đối với người học và người lao động, việc thiếu thông tin cụ thể về năng lực đạt được và phạm vi sử dụng của chứng chỉ, chứng nhận có thể gây khó khăn khi lựa chọn chương trình phù hợp với nhu cầu phát triển nghề nghiệp. Đối với doanh nghiệp, thông tin chưa đầy đủ về nội dung và yêu cầu đánh giá có thể hạn chế khả năng nhận diện năng lực thực tế mà người được cấp đã đạt được. Đối với cơ sở GDNN, việc không tiếp cận được thông tin về chuẩn đầu ra và kết quả đào tạo của những chương trình khác có thể gây khó khăn khi xác định nội dung cần bổ sung hoặc xem xét khả năng công nhận kết quả học tập đã tích lũy. Sự thiếu hụt này đặc biệt đáng chú ý khi người học muốn sử dụng kết quả đào tạo tại doanh nghiệp hoặc kết quả của một chương trình quốc tế để đề nghị cơ sở GDNN xem xét công nhận. Khi không tiếp cận được tài liệu mô tả quá trình và kết quả đào tạo, bên tiếp nhận không có đủ căn cứ thông tin để tiến hành xem xét, ngay cả trước khi đánh giá mức độ tương ứng giữa các kết quả.
Kết quả phỏng vấn cho thấy vấn đề không chỉ nằm ở việc thiếu thông tin, mà còn ở phạm vi thông tin được các tổ chức sẵn sàng cung cấp. Đại diện tổ chức phát triển quốc tế nhận xét rằng nội dung và kết quả đào tạo tại doanh nghiệp chưa được công khai, chia sẻ đầy đủ cho cơ sở GDNN, khiến nhà trường không có đủ thông tin để xem xét đề nghị công nhận của người học (QT#4). Một số đại diện cơ sở GDNN và tổ chức phát triển quốc tế cũng cho biết doanh nghiệp, đặc biệt là các đơn vị sử dụng công nghệ chuyên biệt, thường hạn chế chia sẻ tài liệu đào tạo và thông tin kỹ thuật nội bộ do e ngại rủi ro lộ bí mật công nghệ, quy trình vận hành (CĐ#2–3, QT#1). Như vậy, thông tin có thể đã được hình thành trong quá trình đào tạo nhưng chưa trở thành nguồn dữ liệu mà các tổ chức bên ngoài có thể tiếp cận và sử dụng.
Đối với các lĩnh vực điện, năng lượng tái tạo, hiệu quả năng lượng và công nghệ xanh, vấn đề minh bạch thông tin còn gắn với việc xác định những chương trình và chứng nhận đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn hoặc nghề nghiệp được sử dụng trong ngành. Việc một chương trình có nội dung liên quan đến công nghệ mới chưa đủ để xác định chương trình đó được xây dựng theo tiêu chuẩn nào, bao gồm những năng lực gì và có cơ chế đánh giá, công nhận ra sao. Vì vậy, khả năng tiếp cận thông tin về chuẩn đầu ra, nội dung năng lực và phạm vi công nhận có ý nghĩa quan trọng đối với việc lựa chọn CTĐT và sử dụng kết quả trên thị trường lao động. Tuy nhiên, yêu cầu minh bạch cần được cân bằng với quyền bảo vệ bí mật công nghệ và thông tin kinh doanh của doanh nghiệp; không nhất thiết phải công khai toàn bộ học liệu, quy trình kỹ thuật hoặc dữ liệu nội bộ để cung cấp những thông tin cốt lõi phục vụ nhận diện và công nhận năng lực.
Minh chứng về năng lực hình thành trong quá trình đào tạo và tại nơi làm việc chưa được ghi nhận có hệ thống
Khả năng ghi nhận và lưu giữ minh chứng về kết quả học tập, năng lực nghề nghiệp là một điều kiện quan trọng để bảo đảm tính liên tục giữa quá trình đào tạo, đánh giá và sử dụng kết quả. Trong khi việc đánh giá nhằm xác định mức độ đạt được của người học, người lao động so với những yêu cầu năng lực nhất định, việc ghi nhận minh chứng giúp các chủ thể khác có cơ sở xem xét, kiểm tra hoặc sử dụng kết quả đánh giá đó. Một phần đáng kể kỹ năng nghề của người lao động được hình thành và phát triển thông qua việc thực hiện công việc thực tế, nhưng quá trình tích lũy này không phải lúc nào cũng được ghi nhận thành những minh chứng có thể sử dụng ngoài phạm vi doanh nghiệp. Hoạt động đào tạo tại chỗ, hướng dẫn kỹ thuật, thực hành trên thiết bị, giải quyết vấn đề sản xuất và đánh giá hiệu quả công việc có thể giúp người lao động phát triển năng lực nghề nghiệp. Tuy nhiên, những hoạt động đó thường gắn với quá trình quản lý và sử dụng lao động thường xuyên, không nhất thiết được tổ chức như một CTĐT có hồ sơ kết quả riêng. Khi người lao động cần chứng minh năng lực đã tích lũy để tiếp tục học tập hoặc tham gia đánh giá tại một tổ chức khác, việc thiếu hồ sơ ghi nhận quá trình và kết quả thực hiện công việc trở thành một trở ngại.
Khảo sát cho thấy hồ sơ quản trị nội bộ chưa chắc tạo ra minh chứng có thể cung cấp khi người lao động đề nghị công nhận ở bên ngoài. DN#9 đã tổ chức đào tạo, đánh giá nhưng ghi chép năng lực hình thành qua thực hành và làm việc còn hạn chế, hồ sơ chủ yếu tập trung vào kết quả kiểm tra hoặc đánh giá công việc. DN#3 và DN#8 theo dõi bằng danh sách tham gia, sát hạch hoặc đánh giá nhân sự; DN#8 còn ghi nhận kết quả bằng quyết định/thông báo thay vì cấp chứng nhận sau mỗi đợt. Các dữ liệu này cho thấy doanh nghiệp sử dụng nhiều phương thức khác nhau để theo dõi, ghi nhận quá trình đào tạo, đánh giá của người lao động, nhưng không phải lúc nào cũng gắn với tài liệu hoá, minh chứng, hồ sơ để sử dụng cho các mục đích khác ở ngoài doanh nghiệp. Vấn đề đáng chú ý không phải là mọi hoạt động đào tạo tại doanh nghiệp đều cần dẫn đến việc cấp chứng chỉ, chứng nhận riêng, mà là kết quả đào tạo và đánh giá cần được ghi nhận ở mức độ đủ cụ thể để phản ánh những năng lực đã đạt được khi có nhu cầu sử dụng ngoài phạm vi tổ chức. Những thông tin như nhiệm vụ đã thực hiện, yêu cầu kỹ thuật, mức độ thành thạo hoặc kết quả sát hạch có thể cung cấp cơ sở để xem xét năng lực thực tế, trong khi danh sách tham gia khóa học hoặc xác nhận hoàn thành hoạt động chưa nhất thiết đáp ứng yêu cầu này.
Đối với hoạt động đào tạo, thực tập tại doanh nghiệp trong khuôn khổ chương trình GDNN, việc xác nhận kết quả cũng chưa đồng nghĩa với việc đã có đầy đủ minh chứng về từng năng lực người học tích lũy được.
Đại diện một cơ sở GDNN cho biết doanh nghiệp có thực hiện xác nhận kết quả học tập, thực tập của sinh viên, nhưng việc xác nhận này chưa được tổ chức theo cách có thể trực tiếp sử dụng để xác định các nội dung học tập được công nhận hoặc chuyển đổi (CĐ#1, CĐ#2-3). Vấn đề cần chú ý ở đây là sự khác biệt giữa một văn bản xác nhận đã tham gia hoặc hoàn thành hoạt động và một hồ sơ mô tả cụ thể những công việc, kỹ năng và mức độ thực hiện mà người học đã đạt được. Khi quá trình học tập, thực hành tại nơi làm việc không được ghi nhận bằng những minh chứng đủ chi tiết, một phần năng lực thực tế có thể chưa được phản ánh đầy đủ trong hồ sơ của người học, người lao động.
Những hạn chế này cho thấy việc ghi nhận minh chứng cần được xem xét như một thành phần của quá trình tổ chức đào tạo và đánh giá, thay vì chỉ thực hiện khi người học có nhu cầu đề nghị công nhận kết quả đã tích lũy. Đối với các mô hình phối hợp đào tạo giữa cơ sở GDNN và doanh nghiệp, việc thống nhất từ đầu những thông tin cần ghi nhận về nhiệm vụ thực hành, năng lực đạt được và kết quả đánh giá có thể tạo điều kiện để sử dụng kết quả cho nhiều mục đích, bao gồm đánh giá hoàn thành chương trình, xác nhận năng lực nghề nghiệp và xem xét công nhận hoặc chuyển đổi kết quả học tập. Tuy nhiên, mức độ chi tiết và phương thức ghi nhận cần phù hợp với đặc điểm ngành nghề, mục đích đánh giá và khả năng quản lý của các bên, tránh tạo ra những yêu cầu hồ sơ quá phức tạp so với giá trị sử dụng thực tế.
Dữ liệu văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận còn phân tán và khả năng xác thực liên hệ thống còn hạn chế
Khả năng quản lý, chia sẻ và xác thực dữ liệu là điều kiện hỗ trợ tính minh bạch và độ tin cậy của kết quả đào tạo, đánh giá và chứng nhận. Trong khi việc ghi nhận minh chứng giúp xác định những năng lực đã đạt được, cơ chế quản lý và xác thực dữ liệu cho phép các chủ thể có nhu cầu kiểm tra tính xác thực, tình trạng hiệu lực và nguồn gốc của kết quả được cấp. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự phân tán của dữ liệu và việc thiếu cơ chế tra cứu, xác thực thuận tiện giữa các tổ chức làm gia tăng khó khăn trong việc kiểm tra tính xác thực của văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận. Các cơ sở GDNN, doanh nghiệp và tổ chức chứng nhận đã xây dựng hệ thống lưu trữ và quản lý thông tin riêng, nhưng khả năng truy cập từ bên ngoài còn khác nhau. Vì vậy, khi cần xác minh một văn bằng hoặc chứng chỉ, bên tiếp nhận vẫn có thể phải liên hệ trực tiếp với đơn vị cấp để kiểm tra thông tin. Cách thức này đáp ứng nhu cầu xác thực trong từng trường hợp nhưng phụ thuộc vào quy trình và khả năng phản hồi của từng tổ chức, thay vì cho phép các bên chủ động tra cứu thông tin trên một hệ thống có thể truy cập thuận tiện.
Thực trạng này được ghi nhận từ cả phía cơ sở đào tạo và đơn vị sử dụng lao động. Đại diện một cơ sở GDNN cho biết bộ phận đào tạo thường xuyên tiếp nhận yêu cầu xác minh văn bằng, chứng chỉ từ doanh nghiệp và phải đối chiếu với cơ sở dữ liệu lưu trữ của trường trước khi phản hồi; trong đó có cả những trường hợp phát hiện văn bằng, chứng chỉ giả mạo (CĐ#1). Một số cơ sở khác cũng ghi nhận số lượng yêu cầu xác minh đáng kể và cho rằng việc có hệ thống tra cứu thuận tiện sẽ giảm khối lượng xử lý thủ công (CĐ#4–5, CĐ#17). Chỉ có một số ít cơ sở đào tạo đã chủ động cung cấp mã QR ngay trên văn bằng, chứng chỉ để người tiếp nhận có thể tự kiểm tra tính xác thực (CĐ#6, TT#1, CĐ#14). Ở chiều tiếp nhận, một đại diện cơ sở đào tạo và chứng nhận chuyên ngành phản ánh đã gặp trường hợp việc xác minh văn bằng từ một cơ sở khác kéo dài tới khoảng ba tháng, dù một số trường đã triển khai công cụ tra cứu riêng (TT#1). Thực trạng này cho thấy vấn đề không nhất thiết là thiếu dữ liệu về văn bằng, chứng chỉ, mà là thiếu cơ chế cho phép bên tiếp nhận trực tiếp kiểm tra và xác thực thông tin một cách kịp thời, thuận tiện. Điều đó làm tăng chi phí giao dịch, kéo dài thời gian xử lý và hạn chế khả năng khai thác thông tin văn bằng, chứng chỉ giữa các tổ chức. Trong hệ thống GDNN, một số cơ sở được phỏng vấn đánh giá tích cực các định hướng số hóa quản lý VB-CC của Bộ GDĐT và kỳ vọng những hệ thống dữ liệu mới sẽ hỗ trợ hoạt động xác minh thuận tiện hơn (CĐ#7, CĐ#1, CĐ#4–5, CĐ#17).
Ở chiều ngược lại, một số hệ thống chứng nhận quốc tế cho thấy khả năng quản lý và xác minh tập trung có thể tạo thuận lợi đáng kể cho các doanh nghiệp sử dụng kết quả đào tạo. Trường hợp GWO là một ví dụ, khi thông tin hoàn thành các CTĐT theo tiêu chuẩn GWO được quản lý thông qua hệ thống dữ liệu chung, cho phép kiểm tra những nội dung đào tạo đã hoàn thành và tình trạng hiệu lực của kết quả. Đại diện một công ty GWO cho biết doanh nghiệp có thể kiểm tra trực tiếp thông tin chứng nhận trên hệ thống GWO mà không cần yêu cầu người lao động thực hiện lại những nội dung đào tạo an toàn tương ứng nếu kết quả vẫn còn hiệu lực (DN#9). Đại diện một trung tâm đào tạo GWO cũng nhấn mạnh sự thuận tiện của việc sử dụng mã QR để kiểm tra thông tin khóa học, ngày hoàn thành và thời hạn hiệu lực (TT#1). Trường hợp này cho thấy hệ thống dữ liệu có khả năng xác minh không chỉ hỗ trợ phát hiện thông tin không hợp lệ mà còn giúp giảm thời gian kiểm tra hồ sơ và tạo điều kiện để kết quả đào tạo được sử dụng giữa các doanh nghiệp. Tuy nhiên, khả năng xác minh kết quả không đồng nghĩa với việc các tổ chức khác phải tự động công nhận tương đương về năng lực hoặc trình độ đào tạo.
Đối với các chứng nhận do doanh nghiệp cấp hoặc quản lý, phạm vi truy cập thông tin thường được giới hạn trong hệ thống nội bộ, làm cho việc xác thực từ tổ chức bên ngoài phụ thuộc nhiều vào sự phối hợp của doanh nghiệp.
Khác với việc hồ sơ có được lập hay không, quyền tiếp cận dữ liệu là một rào cản riêng. DN#4 và DN#8 cho biết thông tin đào tạo được lưu giữ chủ yếu cho phạm vi tập đoàn, không cung cấp rộng rãi ra ngoài. CSV#4 phản ánh kết quả đào tạo và chứng chỉ/chứng nhận chỉ lưu trên hệ thống công ty, ngay người lao động cũng không được tiếp cận. Vì vậy, người có năng lực đã được đánh giá vẫn có thể khó cung cấp minh chứng cho bên tiếp nhận. Cần phân biệt tồn tại cơ sở dữ liệu với khả năng tra cứu, chia sẻ, xác thực xuyên tổ chức; các trường hợp này chưa đủ để kết luận Việt Nam hoàn toàn chưa có dữ liệu số về VB-CC-CN.
Đối với Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, sự thay đổi đầu mối QLNN cũng đặt ra yêu cầu duy trì tính liên tục của các nguồn thông tin phục vụ tra cứu và sử dụng chung. Những thông tin như danh mục nghề, tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và tài liệu quản lý chuyên ngành không chỉ phục vụ hoạt động quản lý mà còn là nguồn tham khảo cho cơ sở GDNN, doanh nghiệp và các bên liên quan. Khi chức năng quản lý được chuyển giao giữa các cơ quan, việc duy trì địa chỉ truy cập, cập nhật dữ liệu và công bố thông tin nhất quán có ý nghĩa quan trọng đối với khả năng tiếp cận nguồn thông tin chính thức.
Tại thời điểm tiến hành khảo sát, dữ liệu nghiên cứu tại chỗ không ghi nhận được nguồn thông tin chính thức của cơ quan QLNN về các thông tin liên quan tới chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia. Đại diện cơ quan QLNN cho biết thông tin trước đây được đăng tải trên trang thông tin điện tử của cơ quan quản lý cũ nhưng không còn dễ tìm thấy sau quá trình chuyển giao chức năng, đồng thời dự kiến sẽ được công bố lại tại đầu mối mới (NN#3). Đây là minh chứng cụ thể về sự gián đoạn trong khả năng tiếp cận thông tin công khai, nhưng chưa đủ cơ sở để kết luận dữ liệu gốc đã bị mất hoặc hoạt động quản lý dữ liệu của toàn hệ thống bị đứt gãy. Trong phạm vi nghiên cứu, trường hợp này cho thấy việc chuyển giao đầu mối quản lý cần được xem xét không chỉ ở phương diện phân công trách nhiệm mà còn ở khả năng duy trì nguồn thông tin chính thức để các tổ chức liên quan có thể tiếp tục tra cứu và sử dụng.
Nhìn chung, nhóm yếu tố thứ tư phản ánh khoảng cách giữa việc hình thành, quản lý thông tin trong quá trình đào tạo, đánh giá và cấp VB-CC-CN với khả năng tiếp cận, kiểm tra và sử dụng những thông tin đó của các bên liên quan. Khoảng cách này xuất hiện ở ba phương diện: thông tin về chương trình, tiêu chuẩn năng lực và kết quả đánh giá chưa được chia sẻ đầy đủ; minh chứng về năng lực hình thành trong quá trình đào tạo và làm việc chưa được ghi nhận theo cách có thể sử dụng ngoài tổ chức; và dữ liệu VB-CC-CN còn phân tán, chưa có khả năng chia sẻ, xác minh thuận tiện giữa các hệ thống. Những hạn chế này không trực tiếp phản ánh chất lượng thấp của CTĐT hoặc kết quả đánh giá, mà chủ yếu ảnh hưởng đến khả năng nhận diện, kiểm tra và sử dụng những kết quả đã được hình thành. Đồng thời, các trường hợp áp dụng mã QR và hệ thống xác minh quốc tế cho thấy những giải pháp có thể hỗ trợ nâng cao tính minh bạch và khả năng sử dụng kết quả. Đây là nhóm yếu tố liên quan chủ yếu đến sự sẵn có và khả năng tiếp cận, sử dụng thông tin, cần được phân biệt với tính tương thích của tiêu chuẩn năng lực ở Lý do 1, điều kiện tổ chức đào tạo ở Lý do 2 và chất lượng, độ tin cậy của hoạt động đánh giá ở Lý do 3.
Lý do 5. Sự khác biệt về lợi ích, động lực và chi phí tham gia của các chủ thể
Việc tổ chức đào tạo, đánh giá, công nhận và liên thông kết quả học tập, kỹ năng nghề không chỉ phụ thuộc vào tiêu chuẩn, điều kiện nguồn lực hay cơ chế bảo đảm chất lượng mà còn chịu ảnh hưởng bởi lợi ích, động lực và chi phí tham gia của các chủ thể liên quan. Doanh nghiệp, cơ sở GDNN và người học, người lao động có những mục tiêu và ưu tiên khác nhau, dẫn đến sự khác biệt trong quyết định đầu tư, tổ chức và sử dụng các CTĐT, đánh giá và chứng nhận kỹ năng nghề. Những hoạt động mang lại lợi ích trực tiếp đối với tuyển dụng, thực hiện công việc, nâng cao năng suất hoặc phát triển nghề nghiệp thường tạo ra động lực tham gia rõ ràng hơn. Ngược lại, khi lợi ích chưa được xác định đầy đủ, trong khi chi phí về thời gian, tài chính và nguồn lực tương đối lớn, các chủ thể có thể chưa chủ động tham gia, ngay cả khi đã có điều kiện pháp lý và chuyên môn để thực hiện. Kết quả khảo sát cho thấy động lực này không hoàn toàn thiếu vắng mà phụ thuộc vào mức độ tương xứng giữa lợi ích kỳ vọng và những nguồn lực, trách nhiệm mà mỗi chủ thể phải đảm nhận.
Động lực của doanh nghiệp trong việc đầu tư đào tạo, tham gia đánh giá và công nhận kỹ năng nghề
Đối với doanh nghiệp, động lực tham gia đào tạo và đánh giá kỹ năng nghề trước hết xuất phát từ nhu cầu bảo đảm nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh. Việc đào tạo, cập nhật kỹ năng và đánh giá năng lực giúp doanh nghiệp duy trì chất lượng lao động, đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật và thích ứng với sự thay đổi của công nghệ. Tuy nhiên, động lực tham gia các hoạt động đào tạo, đánh giá và chứng nhận phục vụ nhu cầu chung của thị trường lao động có thể khác với động lực đầu tư cho nhân lực của chính doanh nghiệp. Kết quả khảo sát cho thấy doanh nghiệp có động lực tương đối rõ trong việc đào tạo, đánh giá và phát triển kỹ năng nghề nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, động lực này không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sẵn sàng tham gia các hoạt động đánh giá, công nhận theo hệ thống bên ngoài hoặc xác nhận kết quả đào tạo nội bộ để người lao động có thể sử dụng tại những tổ chức khác. Sự khác biệt này phản ánh những cân nhắc về lợi ích, chi phí và ưu tiên hoạt động của doanh nghiệp khi tham gia vào quá trình ghi nhận, đánh giá và công nhận kỹ năng nghề.
Thứ nhất, lợi ích trực tiếp của hoạt động đánh giá nội bộ khác với lợi ích của việc ghi nhận và công nhận kết quả để sử dụng ngoài doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp, đào tạo và đánh giá năng lực trước hết phục vụ việc xác định khả năng đáp ứng yêu cầu công việc, phân công nhiệm vụ, xếp bậc tay nghề và thực hiện các chế độ đối với người lao động. Những hoạt động này tạo ra lợi ích trực tiếp cho quản trị nhân sự và tổ chức sản xuất. Ngược lại, việc chuyển kết quả đào tạo, đánh giá thành chứng nhận có thể sử dụng tại tổ chức khác chưa chắc mang lại lợi ích tương ứng cho doanh nghiệp cấp chứng nhận.
Giá trị quản trị nhân sự của đánh giá nội bộ, đã được trình bày ở HOW – Giá trị sử dụng Nhóm 3, giải thích vì sao doanh nghiệp có động lực đầu tư cho hệ thống của mình. DN#2 nhấn mạnh phạm vi sử dụng nội bộ, trong khi DN#3, DN#4 cũng ưu tiên giải quyết nhu cầu đơn vị. Kết quả này cho thấy khoảng cách: hồ sơ đủ dùng cho doanh nghiệp chưa chắc đem lại lợi ích bổ sung cho chính doanh nghiệp khi được chuyển thành minh chứng dễ sử dụng ở tổ chức khác. Đây là cách lý giải động lực, không phải bằng chứng mọi doanh nghiệp đều từ chối hỗ trợ người lao động chuyển việc.
Ở chiều ngược lại, khi kết quả đào tạo và chứng nhận gắn với những yêu cầu cụ thể của khách hàng, chủ đầu tư hoặc chuỗi cung ứng, doanh nghiệp có thể có động lực rõ ràng để đầu tư cho các chương trình được công nhận rộng rãi. Trường hợp các chứng nhận đào tạo theo tiêu chuẩn GWO trong ngành điện gió cho thấy một số doanh nghiệp yêu cầu nhân sự phải hoàn thành những CTĐT an toàn phù hợp trước khi được bố trí thực hiện công việc trên tuabin (DN#7, DN#9). Động lực đầu tư cho các chương trình này xuất phát từ nhu cầu đáp ứng yêu cầu an toàn và điều kiện tham gia công việc, hợp đồng dịch vụ hoặc dự án. Trường hợp này cho thấy giá trị sử dụng được thị trường lao động thừa nhận có thể trở thành yếu tố thúc đẩy doanh nghiệp tham gia đào tạo và chứng nhận, ngay cả khi chương trình được tổ chức theo tiêu chuẩn của một hệ thống bên ngoài doanh nghiệp.
Thứ hai, việc tham gia các hoạt động đào tạo, đánh giá và công nhận ngoài phạm vi nhu cầu nội bộ có thể làm phát sinh chi phí, nguồn lực và rủi ro mà doanh nghiệp phải cân nhắc. Khác với hoạt động đào tạo được tổ chức để đáp ứng trực tiếp một vị trí việc làm, việc tham gia đào tạo phối hợp, đánh giá hoặc xác nhận năng lực theo yêu cầu của tổ chức khác có thể đòi hỏi doanh nghiệp bố trí thêm nhân sự hướng dẫn, thời gian, thiết bị, vật tư và điều kiện thực hành. Trong một số lĩnh vực kỹ thuật có yêu cầu an toàn cao, những hoạt động này còn đi kèm trách nhiệm quản lý rủi ro đối với con người và tài sản.
Đại diện doanh nghiệp trong lĩnh vực điện gió cho rằng việc tham gia đào tạo nhân lực cho các doanh nghiệp khác cũng trong lĩnh vực điện gió có thể mang lại ít lợi ích kinh tế trực tiếp nhưng lại phát sinh trách nhiệm và rủi ro đáng kể, đặc biệt khi hoạt động thực hành liên quan đến các thiết bị có giá trị lớn (DN#6). Đại diện một cơ sở GDNN cũng nhận xét rằng để người học được trực tiếp thực hành và phát triển kỹ năng tại doanh nghiệp, đơn vị tiếp nhận phải đầu tư thêm vật tư và các điều kiện cần thiết (CĐ#8). Những ý kiến này cho thấy chi phí và rủi ro không chỉ là những điều kiện kỹ thuật ảnh hưởng đến khả năng tổ chức đào tạo như đã phân tích ở Lý do 2, mà còn tác động đến quyết định doanh nghiệp có sẵn sàng dành nguồn lực cho các hoạt động đào tạo, đánh giá và phát triển kỹ năng vượt ra ngoài nhu cầu sử dụng lao động trực tiếp hay không.
Thứ ba, doanh nghiệp chưa nhận thấy đầy đủ lợi ích của việc tham gia các hệ thống đánh giá, công nhận kỹ năng nghề bên ngoài, đặc biệt là hệ thống chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia. Đối với nhiều doanh nghiệp được khảo sát, nhu cầu phát triển kỹ năng nghề được giải quyết chủ yếu thông qua các CTĐT và đánh giá gắn với vị trí việc làm, dây chuyền sản xuất và yêu cầu công nghệ riêng. Việc tham gia thêm những hệ thống đánh giá bên ngoài chỉ trở thành ưu tiên khi doanh nghiệp nhận thấy kết quả có thể phục vụ trực tiếp nhu cầu tuyển dụng, sử dụng hoặc phát triển nhân lực.
Ở hệ thống bên ngoài, CĐ#6 nhận xét việc tham gia đánh giá kỹ năng nghề quốc gia chưa gắn rõ với nhu cầu đào tạo theo dây chuyền và vị trí công việc. HH#3 giải thích: "Họ không thấy được lợi ích [...] doanh nghiệp họ rất là thực tế, cho nên họ không thấy benefit họ không tham gia đâu". Đối chiếu với thực tiễn sử dụng chứng chỉ đã trình bày ở HOW – Nhóm 2 sang Nhóm 3, phát biểu này gợi ra yêu cầu làm rõ lợi ích đối với doanh nghiệp khi đầu tư nhân sự, thời gian cho đánh giá ngoài hệ thống của mình. Đồng thời, sự khác biệt giữa động lực tham gia chứng nhận theo yêu cầu của chủ đầu tư quốc tế và động lực tham gia hệ thống chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia cho thấy mức độ gắn kết giữa kết quả đánh giá với nhu cầu sử dụng lao động là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định tham gia của doanh nghiệp.
Thứ tư, những cân nhắc về duy trì nhân lực sau đào tạo cũng có thể ảnh hưởng đến động lực của doanh nghiệp trong việc hỗ trợ ghi nhận và công nhận kỹ năng nghề có khả năng sử dụng rộng rãi. Việc đầu tư đào tạo giúp doanh nghiệp hình thành đội ngũ lao động đáp ứng yêu cầu chuyên môn, nhưng những kỹ năng người lao động tích lũy được cũng có thể được sử dụng tại các tổ chức khác. Khi người lao động chuyển việc, doanh nghiệp có nguy cơ không tiếp tục nhận được lợi ích từ khoản đầu tư đào tạo đã thực hiện.
Một đại diện doanh nghiệp cho biết không mong muốn người lao động sau khi được đào tạo và phát triển năng lực lại chuyển sang làm việc cho đối thủ cạnh tranh, đặc biệt nếu những văn bằng, chứng chỉ hoặc chứng nhận được cấp có thể hỗ trợ quá trình chuyển việc (DN#7). Quan ngại tương tự cũng được đại diện hiệp hội và cơ quan QLNN đề cập khi phân tích mối quan hệ giữa đầu tư đào tạo, khả năng dịch chuyển lao động và lợi ích của doanh nghiệp (HH#3, NN#3). Tuy nhiên, dữ liệu này chủ yếu phản ánh những lo ngại về khả năng mất nhân lực sau đào tạo, chưa đủ để khẳng định doanh nghiệp thực tế đã từ chối cấp chứng nhận hoặc tham gia công nhận kết quả vì nguyên nhân đó. Đây là một sự khác biệt về lợi ích cần được xem xét khi phát triển các CTĐT và chứng nhận có phạm vi công nhận rộng, đặc biệt đối với những ngành nghề đang có nhu cầu nhân lực kỹ thuật cao và khả năng dịch chuyển lao động giữa các doanh nghiệp.
Nhìn chung, động lực tham gia của doanh nghiệp không thể được đánh giá đơn thuần thông qua mức độ sẵn sàng đầu tư cho đào tạo hoặc cấp chứng nhận. Doanh nghiệp có thể tích cực phát triển hệ thống đào tạo, đánh giá nội bộ, tham gia những chương trình chứng nhận quốc tế phục vụ trực tiếp yêu cầu hợp đồng nhưng ít quan tâm hơn đến các hoạt động công nhận hoặc chuyển đổi kết quả học tập giữa những hệ thống không gắn rõ với nhu cầu của mình. Chi phí đào tạo, yêu cầu bố trí nguồn lực, rủi ro trong quá trình thực hành và những cân nhắc về duy trì nhân lực tiếp tục ảnh hưởng đến quyết định tham gia. Vì vậy, yếu tố quan trọng là mức độ gắn kết giữa hoạt động đào tạo, đánh giá và công nhận kỹ năng với lợi ích cụ thể của doanh nghiệp, đồng thời xác định được cơ chế phân chia chi phí và trách nhiệm phù hợp giữa các bên.
Động lực của cơ sở GDNN trong phát triển chương trình, tổ chức đào tạo, đánh giá và công nhận kỹ năng nghề
Đối với cơ sở GDNN, động lực phát triển và tổ chức các hoạt động đào tạo, đánh giá và công nhận kỹ năng nghề chịu ảnh hưởng bởi nhu cầu tuyển sinh, khả năng đáp ứng thị trường lao động, lợi ích phát triển của nhà trường và những nguồn lực cần huy động. Việc phát triển CTĐT mới, triển khai đào tạo theo mô-đun, tổ chức đánh giá theo tiêu chuẩn bên ngoài hoặc công nhận kết quả học tập đã tích lũy đều có thể mang lại lợi ích cho người học và nâng cao khả năng đáp ứng của cơ sở đào tạo. Tuy nhiên, những hoạt động này cũng có thể đòi hỏi đầu tư bổ sung, thay đổi phương thức tổ chức và phát sinh chi phí chưa được bù đắp tương xứng. Kết quả phỏng vấn cho thấy động lực của cơ sở GDNN chịu ảnh hưởng bởi mức độ cần thiết phải điều chỉnh hoạt động đào tạo, cách thức tổ chức và phân bổ nguồn lực, cũng như nhu cầu thực tế đối với dịch vụ đánh giá, công nhận năng lực nghề nghiệp.
Thứ nhất, khi các CTĐT hiện hành vẫn duy trì được hoạt động tuyển sinh, cơ sở GDNN có thể chưa nhận thấy áp lực đủ lớn để chủ động thay đổi phương thức tổ chức đào tạo và mở rộng công nhận kết quả đã tích lũy.
Đại diện cơ quan QLNN nhận xét rằng một số trường vẫn tiếp tục tuyển sinh và tổ chức đào tạo trên cơ sở chương trình, nguồn lực sẵn có, nên chưa có động lực rõ ràng để tham chiếu hoặc gắn kết chặt chẽ hơn với hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia (NN#3). Người trả lời đặt vấn đề rằng khi nhà trường vẫn tuyển sinh và đào tạo bình thường thì yêu cầu thay đổi chưa được nhìn nhận như một nhu cầu cấp thiết. Nhận định này phản ánh một yếu tố liên quan đến động lực tổ chức: nếu mô hình hoạt động hiện tại vẫn đáp ứng được các mục tiêu trước mắt, nhà trường có thể ít ưu tiên đầu tư nguồn lực để phát triển những hình thức đào tạo, đánh giá và công nhận mới. Đối với chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia và việc sử dụng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, người trả lời CĐ#17 đặt ra vấn đề do thị trường lao động chưa quan tâm tới loại chứng chỉ này nên các nhà trường chưa cảm nhận động lực rõ ràng phải thiết kế CTĐT và tổ chức đào tạo theo hướng gắn với các yêu cầu của tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia. Điều này cho thấy động lực đổi mới của cơ sở GDNN có quan hệ với mức độ mà thị trường lao động thực sự sử dụng và đánh giá cao các tiêu chuẩn, chương trình hoặc chứng nhận mới. Khi yêu cầu năng lực của doanh nghiệp chưa được chuyển hóa thành nhu cầu đào tạo hoặc những lợi ích cụ thể đối với cơ sở GDNN, việc đầu tư phát triển chương trình và phương thức đánh giá mới có thể chưa trở thành ưu tiên. Ngược lại, sự tham gia của doanh nghiệp trong xây dựng chương trình, cung cấp thiết bị, chuyển giao công nghệ và tiếp nhận người học có thể tạo ra những lợi ích trực tiếp, làm tăng động lực hợp tác và đổi mới đào tạo.
Thứ hai, lợi ích của việc công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy chưa gắn trực tiếp với lợi ích và điều kiện tổ chức hoạt động của cơ sở đào tạo. Việc công nhận có thể giúp người học được miễn trừ những nội dung đã đạt, nhưng nhà trường vẫn phải bố trí nhân sự tiếp nhận hồ sơ, tổ chức xem xét, đánh giá và quản lý kết quả. Đặc biệt, khi nhu cầu công nhận phát sinh riêng lẻ ở từng cá nhân, hoạt động này có thể đòi hỏi nguồn lực tương đối lớn so với số lượng người được phục vụ.
Một số người trả lời đặt vấn đề về tính khả thi của việc cơ sở đào tạo phải thành lập nhiều hội đồng để xem xét những trường hợp người học có nhu cầu khác nhau (HH#2, QT#2). Mặc dù đây là ý kiến phản ánh khó khăn về tổ chức thực hiện, nó cũng cho thấy nhà trường cần cân nhắc giữa lợi ích mang lại và khối lượng công việc phải đảm nhận khi quyết định có chủ động mở rộng hoạt động công nhận hay không. Trong trường hợp số lượng người có nhu cầu đánh giá và công nhận còn hạn chế, chi phí bình quân cho từng trường hợp có thể cao hơn. Điều này ảnh hưởng đến khả năng hình thành một hoạt động đánh giá, công nhận được tổ chức thường xuyên và có tính bền vững về tài chính.
Thứ ba, phương thức tổ chức đào tạo theo lớp, khóa và kế hoạch chung khiến việc đáp ứng nhu cầu học tập, công nhận kết quả mang tính cá nhân chưa trở thành một ưu tiên thuận lợi về phân bổ nguồn lực, ảnh hưởng tới hiệu quả đào tạo của nhà trường.
Kết quả khảo sát cho thấy đa số cơ sở GDNN áp dụng hình thức đào tạo theo tín chỉ nhưng việc tổ chức học tập trên thực tế vẫn chủ yếu dựa vào thời khóa biểu và tiến độ chung của lớp. Đại diện cơ quan QLNN nhận xét rằng các trường thường xác định sẵn danh mục môn học, mô-đun theo từng học kỳ để thuận tiện cho việc bố trí thời khóa biểu, giảng viên và điều kiện đào tạo (NN#2). Đại diện một cơ sở GDNN cũng cho biết mặc dù tổ chức đào tạo theo tín chỉ, phần lớn sinh viên trong lớp vẫn đăng ký học các môn theo cùng tiến độ nên việc mở lớp riêng cho nhu cầu cá nhân khó thực hiện (CĐ#2-3). Khi một số người học được công nhận các nội dung đã tích lũy và có nhu cầu học bổ sung những phần còn thiếu, việc tổ chức đào tạo riêng có thể làm phát sinh yêu cầu bố trí giảng viên, thiết bị và thời gian khác với kế hoạch chung. Một đại diện cơ sở GDNN cho biết chi phí tổ chức đào tạo theo hình thức một thầy, một trò tương đối cao, khiến trường thường phải chờ tập hợp đủ số lượng người học mới có thể mở lớp (CĐ#4–5). Những điều kiện này có thể làm giảm động lực triển khai những hình thức công nhận kết quả gắn với lộ trình học tập cá nhân hóa, nhất là khi số lượng người có nhu cầu còn hạn chế.
Những khó khăn trên không chỉ ảnh hưởng đến việc công nhận kết quả học tập đã tích lũy mà còn có thể tác động đến động lực phát triển các mô-đun đào tạo ngắn hạn, độc lập và linh hoạt. Khi nhu cầu học tập phân tán và số lượng người tham gia mỗi mô-đun tương đối nhỏ, cơ sở GDNN phải cân nhắc khả năng thu hồi chi phí tổ chức lớp học, sử dụng trang thiết bị và bố trí giảng viên. Vì vậy, ngay cả khi chương trình có thể được thiết kế theo mô-đun về mặt chuyên môn, việc triển khai thành những cơ hội học tập linh hoạt trong thực tế còn phụ thuộc vào quy mô nhu cầu và phương án tổ chức phù hợp.
Mặc dù vậy, dữ liệu cũng ghi nhận những tín hiệu tích cực bước đầu về sự sẵn sàng của cơ sở GDNN trong việc nghiên cứu và thúc đẩy công nhận kết quả học tập đã tích lũy. Đại diện một cơ sở GDNN cho biết bộ phận đào tạo đang nghiên cứu cách thức triển khai nhằm giúp người học không phải học lại những nội dung đã biết, đồng thời tránh việc nhà trường phải tổ chức giảng dạy lại các nội dung không cần thiết (CĐ#4–5). Trường hợp này cho thấy việc công nhận không chỉ mang lại lợi ích cho người học mà còn có thể giúp cơ sở đào tạo sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn. Vì vậy, không thể xem động lực của cơ sở GDNN là hoàn toàn thiếu vắng; vấn đề là những lợi ích tiềm năng đó chưa được chuyển hóa đồng đều thành hoạt động đánh giá và công nhận được triển khai thường xuyên.
Đối với việc phát triển CTĐT theo tiêu chuẩn quốc tế trong các lĩnh vực năng lượng, hiệu quả năng lượng và công nghệ xanh, bài toán lợi ích và chi phí càng cần được xem xét rõ ràng. Việc đáp ứng những yêu cầu của đối tác quốc tế có thể đòi hỏi cơ sở GDNN đầu tư cho phát triển chương trình, đào tạo giảng viên, nâng cấp trang thiết bị, đánh giá điều kiện tổ chức và duy trì cơ chế bảo đảm chất lượng. Trong khi đó, lợi ích kỳ vọng phụ thuộc vào nhu cầu người học, mức độ chấp nhận của doanh nghiệp và khả năng tổ chức các khóa đào tạo với quy mô đủ để duy trì hoạt động. Những mô hình hỗ trợ của doanh nghiệp và đối tác phát triển có thể giảm gánh nặng đầu tư ban đầu, nhưng tính bền vững của chương trình vẫn phụ thuộc vào việc hình thành được nhu cầu đào tạo ổn định và cơ chế phân chia chi phí phù hợp. Đây là một vấn đề cần được xem xét khi phát triển các cơ sở GDNN thành những đơn vị cung cấp đào tạo hoặc chứng nhận theo tiêu chuẩn quốc tế, thay vì chỉ tập trung vào việc đáp ứng các điều kiện kỹ thuật để triển khai chương trình.
Nhìn chung, động lực đổi mới hoạt động đào tạo, đánh giá và công nhận của cơ sở GDNN phụ thuộc vào mối quan hệ giữa lợi ích phát triển của nhà trường, nhu cầu thực tế của thị trường lao động và chi phí tổ chức thực hiện. Trong khi việc duy trì các CTĐT theo lớp, khóa có thể thuận lợi hơn về phân bổ nguồn lực, những mô hình đào tạo mô-đun, đánh giá cá nhân hóa, công nhận kết quả đã tích lũy hoặc cung cấp chương trình theo tiêu chuẩn quốc tế có thể đòi hỏi phương án tổ chức và tài chính khác. Tuy nhiên, các trường hợp hợp tác với doanh nghiệp và những sáng kiến công nhận kết quả học tập cho thấy hoạt động đổi mới cũng có thể tạo ra lợi ích trực tiếp cho cơ sở đào tạo. Vấn đề đặt ra là khả năng chuyển hóa các lợi ích tiềm năng thành những động lực đủ rõ ràng để nhà trường chủ động đầu tư và duy trì hoạt động trong dài hạn.
Lợi ích, chi phí và động lực tham gia đào tạo, đánh giá, chứng nhận của người học và người lao động
Động lực tham gia đào tạo, đánh giá, chứng nhận và công nhận kết quả học tập, kỹ năng nghề của người học, người lao động phụ thuộc đáng kể vào những lợi ích cụ thể mà họ kỳ vọng nhận được từ các hoạt động này. Việc đã tích lũy kiến thức, kỹ năng hoặc sở hữu văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận không đồng nghĩa với việc cá nhân sẽ chủ động tham gia đánh giá bổ sung, đề nghị xác nhận năng lực hoặc yêu cầu tổ chức khác công nhận những kết quả đã có. Để thực hiện các hoạt động đó, người học và người lao động cần dành thời gian, công sức và trong một số trường hợp phải tự chi trả kinh phí. Vì vậy, khi lợi ích kỳ vọng chưa rõ ràng hoặc không tương xứng với nguồn lực bỏ ra, động lực chủ động tham gia có thể bị hạn chế. Kết quả khảo sát cũng cho thấy sự khác biệt đáng chú ý giữa mức độ sẵn sàng tham gia những chương trình đánh giá, chứng nhận mới và mức độ chủ động đề nghị công nhận kết quả đã tích lũy trước đó.
Thứ nhất, người học và người lao động thể hiện động lực tham gia rõ nét hơn khi việc đào tạo, ghi nhận, đánh giá và chứng nhận năng lực gắn với những lợi ích nghề nghiệp cụ thể. Trong các trường hợp được khảo sát, lợi ích kỳ vọng có thể là được đảm nhiệm vị trí công việc mới, nâng bậc nghề nghiệp, cải thiện thu nhập hoặc mở rộng cơ hội việc làm.
Ngoài các lợi ích phân bậc, chức danh đã được trình bày ở HOW – Giá trị sử dụng Nhóm 3, kết quả khảo sát cũng nhận diện các mục tiêu phát triển nghề nghiệp khác. DN#8 ghi nhận nhu cầu người lao động tiếp tục nâng cao trình độ để chuyển sang vị trí phù hợp với trình độ mới. Trong thảo luận nhóm, một cựu sinh viên đang làm bảo dưỡng thiết bị cho rằng chứng nhận kỹ thuật của hãng tạo thêm lợi thế tìm việc; trong khi sinh viên nhận thức rõ rằng nếu tham gia các khoá đào tạo của một doanh nghiệp điều hoà không khí nổi tiếng thì sau này mở cửa hàng sửa chữa hoặc đi làm tự do sẽ thuận lợi hơn. Những ý kiến này cho thấy động lực có thể tăng khi cá nhân kết nối việc học, đánh giá hoặc chứng nhận với mục tiêu nghề nghiệp của mình; chúng chưa phải bằng chứng đo lường mức tăng cơ hội việc làm.
Thứ hai, chi phí, thời gian và công sức tham gia có thể làm giảm động lực của người học, người lao động, đặc biệt khi lợi ích từ việc đánh giá hoặc công nhận chưa rõ ràng. Việc đăng ký các CTĐT, đánh giá bổ sung có thể đòi hỏi cá nhân chi trả học phí, chi phí thực hành, đi lại hoặc dành thời gian ngoài công việc.
Chi phí tham gia và khả năng chi trả là những yếu tố có thể hạn chế động lực của người học, người lao động đối với các CTĐT, đánh giá và chứng nhận kỹ năng nghề bổ sung, đặc biệt khi lợi ích nghề nghiệp kỳ vọng chưa đủ rõ ràng. Bên cạnh học phí, người tham gia có thể phải chi trả thêm kinh phí vật tư thực hành, đi lại và dành thời gian ngoài công việc để hoàn thành chương trình. Trong những trường hợp khảo sát, sinh viên tham gia các hoạt động đào tạo, đánh giá bổ sung phải đóng phí để bù đắp chi phí thực hành (CĐ#2–3); việc cân nhắc thời gian và kinh phí cũng ảnh hưởng đến khả năng thu hút người lao động tham gia các CTĐT kỹ thuật ngắn hạn của doanh nghiệp (DN#5). Đặc biệt, đối với những chương trình có nhu cầu nhỏ lẻ, chi phí tổ chức đào tạo tương đối cao trong khi khả năng chi trả của người học còn hạn chế, làm giảm tính khả thi của việc tổ chức và tham gia học tập theo nhu cầu cá nhân (CĐ#4–5). Những bằng chứng này cho thấy quyết định tham gia không chỉ phụ thuộc vào nhu cầu phát triển kỹ năng mà còn chịu ảnh hưởng bởi mức độ tương xứng giữa lợi ích kỳ vọng và chi phí phải bỏ ra. Tuy nhiên, các dữ liệu hiện có chủ yếu phản ánh chi phí tham gia đào tạo và đánh giá bổ sung, chưa trực tiếp xác định chi phí hoặc mức độ ảnh hưởng của thủ tục đề nghị công nhận kết quả học tập, kỹ năng nghề đã tích lũy.
Đối với một số CTĐT và chứng nhận theo tiêu chuẩn quốc tế, chi phí tham gia còn có thể bao gồm những khoản phát sinh do yêu cầu về thiết bị thực hành chuyên dụng, địa điểm tổ chức đào tạo, thời gian tham gia và việc duy trì hiệu lực chứng nhận. Chẳng hạn, một số mô-đun đào tạo theo tiêu chuẩn GWO yêu cầu người lao động hoàn thành đào tạo cập nhật sau thời hạn nhất định để tiếp tục đáp ứng yêu cầu sử dụng kết quả. Những điều kiện này có thể làm tăng tổng chi phí tham gia và duy trì chứng nhận, nhất là đối với người lao động phải tự chi trả. Tuy nhiên, mức chi phí cụ thể và mức độ ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận chưa được lượng hóa trong dữ liệu hiện có, do đó cần tránh khái quát rằng chi phí cao là rào cản phổ biến đối với mọi chương trình chứng nhận quốc tế.
Thứ ba, động lực tham gia có sự khác biệt đáng kể giữa các hệ thống và hình thức đánh giá, chứng nhận, tùy thuộc vào mức độ gắn kết với yêu cầu công việc và lợi ích nghề nghiệp mà cá nhân nhận thấy. Trong một số lĩnh vực kỹ thuật đặc thù, người lao động chủ động tham gia các chương trình đánh giá, chứng nhận chuyên môn quốc tế, thậm chí tự chi trả kinh phí để có thêm cơ hội đảm nhiệm công việc mới.
Trong điện gió, dữ liệu DN#6, DN#7, DN#9 ghi nhận người lao động tham gia chứng nhận chuyên môn/an toàn như GWO, IRATA và có người tự chi trả để mở rộng cơ hội nghề nghiệp. DN#6 còn cho biết người được cử thực hiện công việc chuyên môn ở dự án khác có thể nhận phụ cấp bổ sung; DN#7 nhấn mạnh chứng nhận phù hợp là điều kiện phân công một số công việc có yêu cầu an toàn. Các lợi ích và điều kiện sử dụng đủ cụ thể giúp giải thích việc cá nhân chấp nhận chi phí, thời gian tham gia. Tuy nhiên cần lưu ý những lợi ích về phụ cấp, cơ hội tham gia dự án hoặc điều kiện bố trí công việc không đồng nghĩa với việc sở hữu chứng nhận quốc tế tự động bảo đảm thu nhập cao hơn hoặc cơ hội việc làm trong mọi trường hợp.
Ngược lại, đối với hệ thống chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, dữ liệu khảo sát phản ánh mức độ chủ động tham gia của người lao động còn tương đối mờ nhạt.
Trong khi các chương trình gắn với công việc cụ thể có lợi ích dễ nhận diện, QT#4 cho biết nhiều người lao động trong hoạt động khảo sát, trao đổi của chương trình chưa biết tới hoặc chưa coi chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia là mục tiêu phát triển cần chủ động theo đuổi. NN#3 còn đặt vấn đề về rủi ro không đạt đánh giá trong điều kiện lợi ích của việc đạt chứng chỉ chưa rõ. Kết hợp với bằng chứng về giá trị sử dụng ở HOW – Nhóm 2 sang Nhóm 3, những ý kiến này gợi ra vai trò của thông tin, lợi ích kỳ vọng và rủi ro cảm nhận đối với quyết định tham gia; chưa đủ để xác định yếu tố nào là nguyên nhân chủ yếu. Sự khác biệt giữa các trường hợp trên cho thấy động lực tham gia không chỉ phụ thuộc vào việc chứng chỉ, chứng nhận được cấp bởi hệ thống nào, mà quan trọng hơn là mức độ kết quả đó được sử dụng trong thực tế. Khi chứng nhận gắn trực tiếp với điều kiện thực hiện công việc, yêu cầu của chủ đầu tư hoặc cơ hội phát triển nghề nghiệp, người lao động có thể nhìn thấy lợi ích cụ thể hơn từ việc tham gia đào tạo, đánh giá. Ngược lại, khi lợi ích chưa rõ và chưa có đủ thông tin về khả năng sử dụng chứng chỉ, chứng nhận, chi phí và rủi ro không đạt đánh giá có thể làm giảm động lực tham gia. Tuy nhiên, những bằng chứng hiện có chưa cho phép kết luận rằng sự khác biệt về giá trị sử dụng là nguyên nhân duy nhất giải thích mức độ tham gia giữa các hệ thống.
Thứ tư, động lực tiếp tục học tập và thêm văn bằng, chứng chỉ chưa đồng nghĩa với động lực chủ động đề nghị công nhận kết quả học tập, kỹ năng nghề đã tích lũy trước đó. Đối với các CTĐT theo mô-đun và những lộ trình học tập linh hoạt, cơ chế công nhận kết quả đã tích lũy có thể giúp người học giảm thời gian và chi phí học lại những nội dung đã đạt, từ đó tạo thêm động lực tiếp tục nâng cao trình độ hoặc chuyển đổi nghề nghiệp. Tuy nhiên, lợi ích tiềm năng này chỉ có thể ảnh hưởng đến quyết định tham gia khi người học biết được kết quả nào có thể được xem xét công nhận, phải đáp ứng những điều kiện gì và việc công nhận mang lại lợi ích cụ thể ra sao. Vì vậy, phát triển các cơ hội công nhận kết quả học tập cần được xem xét cùng với việc nâng cao khả năng tiếp cận thông tin và tính thuận tiện của quy trình thực hiện, thay vì chỉ dựa trên giả định rằng người lao động có nhu cầu học tập tiếp sẽ tự động chủ động đề nghị công nhận những kết quả đã có.
Dữ liệu khảo sát ghi nhận người học và người lao động có nhu cầu học liên thông, học nâng cao trình độ hoặc tham gia các CTĐT, chứng nhận mới để phục vụ định hướng nghề nghiệp. Tuy nhiên, việc chủ động đăng ký một CTĐT mới là hành vi khác với việc tập hợp hồ sơ, chứng minh năng lực đã có và đề nghị cơ sở đào tạo xem xét công nhận hoặc miễn trừ những nội dung học tập tương ứng. Đại diện một cơ sở GDNN cho biết các trường hợp xem xét công nhận mà nhà trường tiếp nhận chủ yếu liên quan đến kết quả học tập từ CTĐT trước đó tại cơ sở giáo dục khác, trong khi chưa ghi nhận trường hợp sử dụng chứng nhận đào tạo tại doanh nghiệp để đề nghị miễn trừ nội dung học tập (CĐ#12). Đại diện một tổ chức đại diện doanh nghiệp cũng đặt câu hỏi về việc người lao động có thực sự chủ động tìm đến cơ sở đào tạo để đề nghị công nhận những chứng nhận, kỹ năng đã tích lũy hay không (HH#3). Những thông tin này cho thấy hoạt động đề nghị công nhận kết quả đã tích lũy chưa được ghi nhận như một lựa chọn phổ biến trong những trường hợp khảo sát, mặc dù nhu cầu tiếp tục học tập và phát triển nghề nghiệp vẫn hiện diện. Tuy nhiên, dữ liệu chưa đủ để xác định điều này xuất phát chủ yếu từ thiếu động lực, thiếu thông tin về cơ hội công nhận hay những khó khăn trong tiếp cận quy trình thực hiện.
Nhìn chung, động lực của người học và người lao động đối với đào tạo, ghi nhận, đánh giá và công nhận kết quả học tập, kỹ năng nghề đã tích lũy có tính lựa chọn và phụ thuộc vào lợi ích cụ thể mà cá nhân kỳ vọng đạt được. Những chương trình đánh giá, chứng nhận gắn trực tiếp với cơ hội việc làm, yêu cầu vị trí công việc hoặc phát triển nghề nghiệp được ghi nhận có khả năng thu hút sự tham gia chủ động hơn. Ngược lại, khi lợi ích chưa rõ ràng, trong khi cá nhân phải dành thêm thời gian, công sức hoặc kinh phí, động lực tham gia có thể bị hạn chế. Đối với những chương trình chứng nhận có yêu cầu đào tạo cập nhật hoặc duy trì hiệu lực, chi phí và điều kiện tham gia cần còn được xem xét trong suốt quá trình phát triển nghề nghiệp, không chỉ tại thời điểm cấp chứng nhận ban đầu.
Ở khía cạnh đặc biệt, dữ liệu cho thấy cần phân biệt giữa sự chủ động học tập, tích lũy thêm văn bằng, chứng chỉ với sự chủ động đề nghị công nhận những kết quả đã có. Đây là khác biệt quan trọng để lý giải vì sao người học, người lao động có thể tích cực tham gia đào tạo và phát triển kỹ năng nhưng chưa thể hiện mức độ chủ động tương ứng trong việc đề nghị công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy giữa các tổ chức, hệ thống.
Tóm lại, nhóm yếu tố thứ năm phản ánh sự khác biệt về lợi ích, động lực và chi phí của doanh nghiệp, cơ sở GDNN và người học, người lao động trong quá trình đào tạo, đánh giá, chứng nhận và công nhận kỹ năng nghề. Doanh nghiệp ưu tiên những hoạt động đáp ứng trực tiếp yêu cầu sản xuất, kinh doanh và quản trị nhân lực; cơ sở GDNN cân nhắc giữa lợi ích phát triển chương trình, nhu cầu thị trường và chi phí tổ chức; trong khi người học, người lao động quyết định tham gia dựa trên giá trị của kết quả đối với việc làm và phát triển nghề nghiệp. Các trường hợp khảo sát cho thấy khi lợi ích được xác định rõ, các chủ thể có thể chủ động đầu tư và tham gia, nhưng chi phí, rủi ro và sự thiếu chắc chắn về giá trị sử dụng có thể hạn chế mức độ tham gia. Đây là nhóm yếu tố giải thích động lực và quyết định phân bổ nguồn lực của các chủ thể, cần được phân biệt với điều kiện nguồn lực và năng lực tổ chức đào tạo ở Lý do 2, phương thức bảo đảm chất lượng ở Lý do 3 và những vấn đề về hướng dẫn, cơ chế phối hợp, quản trị triển khai được phân tích ở Lý do 6.
Lý do 6. Những hạn chế về hướng dẫn thực hiện, cơ chế phối hợp và năng lực quản trị triển khai
Việc chuyển các quy định, tiêu chuẩn và định hướng phát triển kỹ năng nghề thành những hoạt động đào tạo, đánh giá, công nhận và liên thông được triển khai hiệu quả phụ thuộc vào mức độ đầy đủ của hướng dẫn thực hiện, cơ chế phối hợp giữa các chủ thể và năng lực quản trị của tổ chức thực hiện. Trong khi khuôn khổ pháp luật xác lập những nguyên tắc, quyền hạn và trách nhiệm chung, việc vận dụng vào thực tế còn đòi hỏi các quy trình nghiệp vụ, công cụ hỗ trợ, cơ chế phân công và phối hợp phù hợp với từng loại hình chương trình, ngành nghề và hệ thống cấp VB-CC-CN. Kết quả phỏng vấn cho thấy một số cơ sở GDNN đang gặp khó khăn trong quá trình chuyển từ việc thực hiện các quy định đào tạo quen thuộc sang xây dựng những phương thức đánh giá và công nhận linh hoạt hơn. Đồng thời, sự tham gia của nhiều chủ thể trong phát triển chương trình, tổ chức đào tạo, đánh giá và xác nhận kết quả đặt ra yêu cầu về cơ chế phối hợp và phân định trách nhiệm trong suốt quá trình triển khai. Những khó khăn này không nhất thiết phản ánh sự thiếu vắng cơ sở pháp lý, mà chủ yếu liên quan đến mức độ sẵn sàng của các hướng dẫn nghiệp vụ, cơ chế phối hợp và năng lực tổ chức thực hiện.
Khoảng cách giữa quy định mang tính nguyên tắc và yêu cầu triển khai thực tế
Một trong những khó khăn của quá trình thực thi chính sách là khoảng cách giữa các quy định mang tính nguyên tắc với những yêu cầu quản lý và nghiệp vụ phát sinh khi tổ chức thực hiện. Khoảng cách này thể hiện rõ trong hoạt động công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy, khi các cơ sở GDNN được trao quyền chủ động nhưng đồng thời phải tự xây dựng những cơ chế và công cụ cần thiết để thực hiện quyền đó. Việc trao quyền tự chủ cho cơ sở GDNN trong công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy tạo điều kiện thực hiện linh hoạt, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu các trường phải tự cụ thể hóa những nguyên tắc chung thành quy định có thể áp dụng trong thực tế. Pháp luật có thể xác định những loại kết quả được xem xét công nhận, nguyên tắc đánh giá sự phù hợp và thẩm quyền quyết định, nhưng không thể quy định sẵn mọi trường hợp tương ứng giữa các chương trình, nghề nghiệp và hình thức tích lũy năng lực. Vì vậy, cơ sở đào tạo phải xây dựng cách thức xác định kết quả có thể được công nhận, điều kiện xem xét, phạm vi miễn trừ và trách nhiệm của các bộ phận tham gia. Đây là yêu cầu cần thiết để phát huy quyền tự chủ, nhưng cũng tạo ra những nhiệm vụ mới đối với các trường chưa có nhiều kinh nghiệm thực hiện công nhận kết quả học tập ngoài các CTĐT thông thường.
Sự khác biệt giữa quyền tự chủ được quy định và khả năng vận dụng quyền tự chủ trong thực tế thể hiện qua những băn khoăn về tiêu chí, căn cứ và quy trình ra quyết định công nhận. Đại diện cơ quan QLNN cho biết các trường có thể xây dựng quy chế, quy định tiêu chí xác định mức độ tương đương giữa kết quả đã tích lũy với môn học, mô-đun của chương trình, đồng thời thành lập hội đồng để xem xét, đánh giá và quyết định công nhận (NN#2). Tuy nhiên, từ phía cơ sở GDNN, việc được trao quyền quyết định chưa đủ để giải quyết những câu hỏi nghiệp vụ phát sinh. Đại diện một trường cho biết đơn vị đang nghiên cứu xây dựng quy chế công nhận trên cơ sở quy định mới, nhưng còn băn khoăn về các tiêu chí và căn cứ cụ thể để quyết định một kết quả đã tích lũy có thể được công nhận ở mức độ nào (CĐ#17). Tương tự, đại diện một cơ sở GDNN khác nhận xét rằng việc trao quyền chủ động cho trường là cần thiết, song quá trình tiếp nhận và áp dụng quy định mới đòi hỏi thời gian chuẩn bị, rà soát và điều chỉnh cách thức thực hiện (CĐ#7).
Vấn đề cốt lõi ở đây không phải là quyền tự chủ không phù hợp, mà là các cơ sở GDNN cần có sự hỗ trợ để chuyển quyền tự chủ thành những quyết định công nhận nhất quán và có căn cứ chuyên môn. Nếu từng trường phải tự xây dựng toàn bộ tiêu chí và phương thức thực hiện từ đầu, quá trình triển khai có thể diễn ra với tốc độ và cách thức khác nhau. Một số trường có thể sớm hình thành quy chế và công cụ nội bộ, trong khi những trường khác cần thêm thời gian để chuẩn bị. Điều này cho thấy cần phân biệt giữa việc ban hành quy định cho phép công nhận và việc hình thành năng lực áp dụng quy định trong thực tiễn. Những hướng dẫn mang tính khung, ví dụ minh họa và công cụ tham khảo có thể hỗ trợ các cơ sở thực hiện quyền tự chủ mà không nhất thiết phải thống nhất toàn bộ phương thức đánh giá cho mọi ngành, nghề.
Ở phạm vi rộng hơn, việc triển khai các mô hình đào tạo và đánh giá có sự tham gia của doanh nghiệp cũng đặt ra những yêu cầu tương tự về cụ thể hóa chính sách. Các định hướng tăng cường hợp tác giữa cơ sở GDNN và doanh nghiệp chỉ có thể chuyển thành hoạt động thường xuyên khi các bên xác định rõ hình thức tham gia, quyền hạn, trách nhiệm và các điều kiện tổ chức thực hiện. Đặc biệt, việc huy động chuyên gia doanh nghiệp tham gia giảng dạy, hướng dẫn thực hành hoặc đánh giá năng lực cần được tổ chức phù hợp với các yêu cầu áp dụng cho từng nhiệm vụ.
Đại diện tổ chức hợp tác phát triển quốc tế cho rằng một số yêu cầu về điều kiện giảng dạy, trong đó có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm, có thể gây khó khăn khi huy động kỹ sư và chuyên gia doanh nghiệp tham gia đào tạo tại cơ sở GDNN (QT#1). Ý kiến này cho thấy cần làm rõ cơ chế áp dụng đối với các hình thức tham gia khác nhau của chuyên gia doanh nghiệp, thay vì mặc nhiên coi mọi hoạt động chuyển giao kỹ thuật, hướng dẫn thực hành và giảng dạy chính thức là tương đương về điều kiện thực hiện.
Như vậy, hạn chế ở nhóm yếu tố này không nhất thiết nằm ở việc thiếu những quy định mang tính nguyên tắc, mà ở khả năng chuyển hóa các quy định thành hướng dẫn và cơ chế thực hiện đủ rõ, phù hợp với những hình thức đào tạo, đánh giá và công nhận đang ngày càng đa dạng.
Thiếu công cụ và quy trình nghiệp vụ cụ thể để thực hiện công nhận kết quả học tập, kỹ năng nghề đã tích lũy
Việc công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy đòi hỏi một quy trình nghiệp vụ đầy đủ, thay vì chỉ dựa trên việc xem xét văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận do người học cung cấp. Khác với đánh giá kết quả học tập của người đang theo học một chương trình xác định, hoạt động công nhận phải tiếp nhận những kết quả được hình thành trong các điều kiện khác nhau, từ CTĐT trước đây đến các khóa bồi dưỡng và kinh nghiệm thực hành tại nơi làm việc. Cơ sở GDNN cần có cách thức hướng dẫn người học chuẩn bị hồ sơ, tiếp nhận và kiểm tra minh chứng, xác định yêu cầu đánh giá bổ sung, tổ chức đánh giá khi cần thiết, xem xét phạm vi công nhận và lưu trữ căn cứ ra quyết định. Nếu các bước này chưa được cụ thể hóa thành quy trình có thể áp dụng, việc công nhận dễ phụ thuộc vào cách xử lý từng trường hợp của các bộ phận hoặc cá nhân tham gia.
Khó khăn chủ yếu xuất hiện ở việc chuyển những yêu cầu nghiệp vụ này thành một quy trình có trình tự, tiêu chí và trách nhiệm rõ ràng, đủ để áp dụng nhất quán đối với những trường hợp công nhận khác nhau. Một số cơ sở GDNN đã nhận diện nhu cầu xây dựng quy trình nội bộ nhưng vẫn còn lúng túng khi xác định những bước công việc cần thiết. Trong đó, việc quyết định trường hợp nào cần sát hạch, lựa chọn phương thức đánh giá và sử dụng kết quả đánh giá làm căn cứ công nhận là những vấn đề đang được các trường xem xét (CĐ#4–5, CĐ#7). Đồng thời, quá trình công nhận cần có biểu mẫu và hồ sơ kèm theo, bao gồm những thông tin cần thiết về chương trình, kết quả học tập và xác nhận của doanh nghiệp, nhằm tạo cơ sở cho việc xem xét và lưu giữ quyết định công nhận (CĐ#6). Đây là hạn chế về mức độ sẵn sàng của công cụ nghiệp vụ, không phải bằng chứng cho thấy giảng viên hoặc cán bộ quản lý nói chung thiếu năng lực đánh giá.
Một yêu cầu đặc biệt quan trọng là xác định được phương thức đánh giá bổ sung phù hợp với từng trường hợp đề nghị công nhận. Không phải mọi kết quả đã tích lũy đều có thể được công nhận trực tiếp dựa trên văn bằng, chứng chỉ hoặc giấy xác nhận. Trong một số trường hợp, cơ sở GDNN có thể cần tổ chức kiểm tra kiến thức, đánh giá thực hành hoặc phỏng vấn chuyên môn để xác định mức độ đáp ứng yêu cầu của chương trình tiếp nhận.
Đại diện cơ quan QLNN nhấn mạnh rằng việc người học xuất trình chứng chỉ không đồng nghĩa với việc nhà trường phải công nhận ngay; hội đồng có thể xem xét hồ sơ và tổ chức bài kiểm tra hoặc sát hạch thực hành trước khi đưa ra quyết định (NN#2). Vấn đề đặt ra đối với các trường là lựa chọn phương thức đánh giá nào, tổ chức ở thời điểm nào và sử dụng kết quả đó để xác định phạm vi công nhận ra sao. Đây là những yêu cầu nghiệp vụ cần được cụ thể hóa để bảo đảm quá trình công nhận có thể thực hiện trên thực tế.
Bên cạnh quy trình của cơ sở đào tạo, người có nhu cầu công nhận cũng cần được hướng dẫn rõ về điều kiện, hồ sơ, trình tự và những hoạt động đánh giá có thể phải tham gia. Kết quả khảo sát cho thấy nhu cầu xây dựng bộ công cụ nghiệp vụ phục vụ công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy, bao gồm hướng dẫn tiếp nhận hồ sơ, mẫu biểu minh chứng, quy trình xem xét, phương thức đánh giá bổ sung, nguyên tắc xác định phạm vi công nhận và yêu cầu lưu trữ, giải trình.
Khả năng tiếp cận và sử dụng cơ chế công nhận của người học phụ thuộc một phần vào sự sẵn có của các hướng dẫn thực hành, thay vì chỉ phụ thuộc vào việc pháp luật đã cho phép thực hiện công nhận. Đại diện các tổ chức quốc tế nhận xét rằng triển khai công nhận kết quả học tập đã tích lũy là một quá trình phức tạp, đòi hỏi những bước hỗ trợ người học từ tư vấn ban đầu, tiếp nhận hồ sơ đến xem xét minh chứng và đánh giá năng lực; kinh nghiệm quốc tế cho thấy cần có những quy trình và công cụ hướng dẫn cụ thể cho cả người đề nghị công nhận và tổ chức thực hiện (QT#1, QT#3). Nếu thiếu hướng dẫn về các bước này, người học có thể không biết cần chuẩn bị những gì, trong khi cơ sở đào tạo phải giải quyết từng trường hợp mà chưa có một quy trình thống nhất để áp dụng.
Hạn chế về kinh nghiệm tổ chức thực hiện và quan ngại về trách nhiệm giải trình
Năng lực quản trị triển khai và trách nhiệm giải trình là những yếu tố ảnh hưởng đến mức độ chủ động của cơ sở GDNN khi áp dụng các phương thức đào tạo, đánh giá và công nhận mới. Bên cạnh việc có đủ hướng dẫn và quy trình, tổ chức thực hiện còn cần có khả năng phân công trách nhiệm, kiểm soát việc áp dụng quy định, lưu giữ căn cứ chuyên môn và giải trình các quyết định được đưa ra. Những yêu cầu này đặc biệt đáng chú ý đối với hoạt động công nhận kết quả học tập, kỹ năng nghề đã tích lũy, khi cơ sở đào tạo phải xem xét các kết quả được hình thành ngoài phạm vi chương trình do mình trực tiếp tổ chức.
Kết quả khảo sát cho thấy kinh nghiệm triển khai còn hạn chế và yêu cầu chịu trách nhiệm đối với quyết định công nhận là những yếu tố chính khiến một số cơ sở GDNN thận trọng khi áp dụng các hình thức công nhận kết quả học tập, kỹ năng nghề đã tích lũy. Khác với việc công nhận những kết quả học tập đã được thể hiện trong hồ sơ của CTĐT chính quy, việc xem xét kết quả hình thành từ đào tạo tại doanh nghiệp hoặc kinh nghiệm thực tế thường đòi hỏi quá trình đánh giá và quyết định mang tính cá biệt. Cơ sở đào tạo phải chịu trách nhiệm về căn cứ công nhận, phạm vi miễn trừ và việc người học tiếp tục đáp ứng những yêu cầu của CTĐT. Trong bối cảnh chưa có nhiều trường hợp thực hiện để tham khảo, các đơn vị có thể lựa chọn cách triển khai thận trọng, đặc biệt đối với những kết quả được hình thành ngoài hệ thống đào tạo quen thuộc.
Dữ liệu khảo sát ghi nhận những quan ngại khá cụ thể về trách nhiệm giải trình và hoạt động kiểm tra sau khi cơ sở đào tạo ra quyết định công nhận. Đại diện một trường cho rằng việc trao quyền chủ động cho các cơ sở cần có thời gian chuyển tiếp, bởi nhà trường chưa có nhiều kinh nghiệm thực hiện và còn lo ngại trường hợp quyết định công nhận không được đánh giá là phù hợp khi có hoạt động hậu kiểm (CĐ#7). Nhận định này cho thấy sự thận trọng không nhất thiết xuất phát từ việc cơ sở đào tạo không muốn công nhận kết quả, mà có thể liên quan đến trách nhiệm phải chứng minh quyết định đã được đưa ra trên cơ sở phù hợp với quy định và yêu cầu chất lượng.
Những trường hợp sử dụng chứng nhận đào tạo nội bộ của doanh nghiệp làm căn cứ đề nghị công nhận đặt ra yêu cầu giải trình mà một số cơ sở GDNN chưa quen xử lý.
Đại diện một trường cho biết việc tiếp nhận chứng nhận do doanh nghiệp cấp, đặc biệt khi doanh nghiệp không có một đơn vị đào tạo chuyên trách, khiến nhà trường băn khoăn về căn cứ lưu hồ sơ và giải trình khi có hoạt động thanh tra, kiểm tra (CĐ#12). Điều cần chú ý là phát biểu này phản ánh sự thận trọng của cơ sở đào tạo, không đủ cơ sở để kết luận chứng nhận nội bộ của doanh nghiệp đương nhiên không có giá trị pháp lý hoặc không thể được sử dụng làm minh chứng. Vấn đề thực tiễn là nhà trường cần xác định hồ sơ nào phải lưu, cách thức đánh giá bổ sung trong trường hợp cần thiết và trách nhiệm của người tham gia thẩm định, phê duyệt kết quả công nhận.
Năng lực tổ chức thực hiện cũng cần được phát triển tương ứng với những yêu cầu nghiệp vụ mới của hoạt động công nhận. Việc xem xét kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy từ nhiều nguồn khác nhau đòi hỏi người thực hiện không chỉ am hiểu CTĐT đang áp dụng mà còn có khả năng phân tích hồ sơ năng lực, lựa chọn phương pháp đánh giá và đưa ra nhận định chuyên môn đối với từng trường hợp. Đối với những kết quả tích lũy qua kinh nghiệm làm việc, quá trình này có thể cần sự tham gia của giảng viên chuyên môn, cán bộ quản lý đào tạo và chuyên gia có kinh nghiệm thực tế nghề nghiệp.
Ở phạm vi quản trị rộng hơn, yêu cầu về trách nhiệm giải trình cũng đặt ra đối với những CTĐT, đánh giá và chứng nhận có sự tham gia của nhiều tổ chức. Khi cơ sở GDNN, doanh nghiệp và đối tác quốc tế cùng tham gia một chương trình, cần có cơ chế xác định trách nhiệm đối với chất lượng đào tạo, tính phù hợp của hoạt động đánh giá, việc xác nhận kết quả và lưu giữ hồ sơ. Trong những chương trình được chuyển giao hoặc triển khai thông qua dự án hợp tác, việc chuẩn bị cho giai đoạn sau hỗ trợ còn đòi hỏi xác định chủ thể chịu trách nhiệm vận hành, giám sát và xử lý những vấn đề phát sinh. Những yêu cầu này thuộc về năng lực quản trị triển khai và trách nhiệm giải trình, cần được phân biệt với năng lực chuyên môn của giảng viên hoặc chất lượng phương pháp đánh giá đã phân tích ở các lý do trước.
Nhìn chung, nhóm yếu tố thứ sáu phản ánh khoảng cách giữa việc xác lập khuôn khổ pháp lý, tiêu chuẩn và cơ chế hợp tác với khả năng triển khai các hoạt động đào tạo, đánh giá, công nhận và liên thông một cách thường xuyên, nhất quán và có thể giải trình. Đối với công nhận kết quả học tập, kỹ năng nghề đã tích lũy, khó khăn thể hiện ở việc các cơ sở GDNN còn cần hướng dẫn nghiệp vụ, quy trình tiếp nhận và đánh giá, công cụ hồ sơ và căn cứ ra quyết định. Đối với hoạt động đào tạo, đánh giá có sự tham gia của doanh nghiệp và tổ chức quốc tế, yêu cầu đặt ra là thiết lập cơ chế phối hợp, phân định trách nhiệm và duy trì hoạt động sau giai đoạn hỗ trợ. Kết quả khảo sát cho thấy đã có những mô hình hợp tác và những cơ sở chủ động nghiên cứu triển khai quy định mới, nhưng mức độ sẵn sàng của các cơ chế thực hiện chưa đồng đều giữa những trường hợp được nghiên cứu. Do đó, việc nâng cao hiệu quả vận hành và kết nối giữa các hệ thống không chỉ đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện những quy định cần thiết mà còn cần hỗ trợ phát triển hướng dẫn thực hành, công cụ nghiệp vụ, cơ chế phối hợp và năng lực quản trị phù hợp với thẩm quyền, trách nhiệm của từng chủ thể.
"WHAT'S NEXT: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ"
WHAT'S NEXT
Kết luận và Khuyến nghị
Kết luận
Kết luận 1. Việt Nam đã hình thành một hệ sinh thái văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận đa dạng, nhưng tính kết nối và nhất quán giữa các hệ thống còn hạn chế
Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ sinh thái văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận tại Việt Nam có tính đa dạng cao, phản ánh sự tham gia của nhiều chủ thể trong hoạt động đào tạo, đánh giá, xác nhận và công nhận năng lực nghề nghiệp. Bên cạnh các văn bằng, chứng chỉ thuộc hệ thống GDNN và hệ thống giáo dục quốc dân, còn tồn tại các chứng chỉ kỹ năng nghề, chứng chỉ và chứng nhận theo quy định của pháp luật chuyên ngành, cũng như các hình thức chứng nhận do doanh nghiệp, nhà sản xuất, hiệp hội ngành nghề và tổ chức quốc tế cung cấp. Các nhóm này có sự khác biệt về mục đích, đối tượng, nội dung năng lực được xác nhận, chủ thể cấp, cơ chế bảo đảm chất lượng và phạm vi công nhận. Sự đa dạng đó cho thấy việc phát triển và công nhận kỹ năng nghề tại Việt Nam không chỉ diễn ra trong hệ thống giáo dục chính quy mà còn gắn với những nhu cầu cụ thể của ngành nghề, doanh nghiệp và thị trường lao động.
Tuy nhiên, sự đa dạng về loại hình và chủ thể chưa đi kèm với mức độ kết nối tương ứng giữa các hệ thống. Các cơ chế quản lý, đánh giá và công nhận chủ yếu được thiết kế và vận hành trong phạm vi của từng hệ thống, trong khi cơ chế đối sánh năng lực, chuyển đổi kết quả học tập và công nhận lẫn nhau giữa các hệ thống còn hạn chế. Đặc biệt, những chứng chỉ, chứng nhận có giá trị trong một doanh nghiệp, một hệ thống công nghệ hoặc một ngành nghề nhất định không nhất thiết được công nhận trong các hệ thống khác. Điều này có thể làm giảm khả năng sử dụng rộng rãi các kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy, đồng thời tạo ra những rào cản đối với việc tiếp tục học tập và dịch chuyển nghề nghiệp của người lao động.
Từ đó, vấn đề đặt ra không phải là thống nhất tất cả các loại văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận thành một hệ thống duy nhất, bởi mỗi hệ thống có những chức năng và giá trị riêng, mà là cần tăng cường tính kết nối và khả năng tương tác giữa các hệ thống. Việc hình thành các cơ chế đối sánh chuẩn năng lực, công nhận kết quả học tập và chia sẻ thông tin phù hợp có ý nghĩa quan trọng trong việc phát huy giá trị của các hệ thống hiện có, đồng thời từng bước phát triển một hệ sinh thái công nhận kỹ năng minh bạch, linh hoạt và có tính liên thông cao hơn.
Kết luận 2. Giá trị thực tế của văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận không chỉ phụ thuộc vào tình trạng pháp lý mà còn phụ thuộc vào mức độ tin cậy, công nhận và sử dụng của các chủ thể trên thị trường lao động
Một kết quả quan trọng của nghiên cứu là giá trị của văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận cần được xem xét trên nhiều phương diện, không chỉ giới hạn ở giá trị pháp lý hoặc việc xác nhận hoàn thành một CTĐT. Trong thực tiễn, giá trị sử dụng của văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận còn thể hiện ở mức độ chúng được người sử dụng lao động tin tưởng và sử dụng trong tuyển dụng, bố trí công việc, đánh giá năng lực, phát triển nhân sự và xem xét cơ hội thăng tiến nghề nghiệp. Đối với người lao động, giá trị còn thể hiện ở khả năng chứng minh năng lực, tiếp cận việc làm, nâng cao vị thế nghề nghiệp và mở rộng các cơ hội học tập, phát triển nghề nghiệp trong tương lai.
Các nhóm văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận có những lợi thế khác nhau về phạm vi và mục đích sử dụng. Văn bằng, chứng chỉ thuộc hệ thống giáo dục quốc dân có cơ sở pháp lý và mức độ chuẩn hóa nhất định, tạo điều kiện cho việc xác nhận trình độ đào tạo và tiếp tục học tập theo các quy định hiện hành. Trong khi đó, một số chứng chỉ, chứng nhận do doanh nghiệp, nhà sản xuất hoặc tổ chức ngành nghề cấp có thể phản ánh trực tiếp những năng lực chuyên môn gắn với công nghệ, thiết bị, quy trình sản xuất hoặc yêu cầu của vị trí việc làm. Những chứng nhận này có thể được đánh giá cao trong phạm vi ngành nghề hoặc hệ thống doanh nghiệp liên quan, ngay cả khi không có giá trị tương đương với văn bằng, chứng chỉ thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Ngược lại, việc sở hữu một văn bằng hoặc chứng chỉ được cấp hợp pháp không mặc nhiên bảo đảm rằng kết quả đó sẽ được tất cả người sử dụng lao động đánh giá hoặc sử dụng theo cùng một cách.
Như vậy, cần phân biệt giữa giá trị pháp lý, giá trị chứng minh năng lực và giá trị sử dụng thực tế của văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận. Ba phương diện này có mối quan hệ với nhau nhưng không hoàn toàn đồng nhất. Điều đó đặt ra yêu cầu phải quan tâm nhiều hơn đến sự phù hợp của năng lực được chứng nhận với nhu cầu thị trường lao động, độ tin cậy của quá trình đánh giá và mức độ tham gia của người sử dụng lao động trong xây dựng, đánh giá và công nhận kỹ năng. Một hệ thống cấp chứng chỉ hiệu quả không chỉ cần bảo đảm tính hợp pháp và chất lượng của quá trình cấp mà còn phải tạo ra những kết quả có giá trị thực tế đối với người học, người lao động và doanh nghiệp.
Kết luận 3. Đào tạo tại doanh nghiệp và học tập tại nơi làm việc là nguồn hình thành kỹ năng quan trọng, nhưng chưa được kết nối đầy đủ với các cơ chế công nhận chính thức
Nghiên cứu cho thấy doanh nghiệp không chỉ là chủ thể sử dụng lao động mà còn trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành, cập nhật và phát triển kỹ năng nghề. Thông qua các hoạt động đào tạo ban đầu, hướng dẫn tại nơi làm việc, bồi dưỡng kỹ thuật, cập nhật công nghệ và đào tạo nâng cao, doanh nghiệp góp phần phát triển những năng lực gắn chặt với điều kiện sản xuất, thiết bị, quy trình vận hành và yêu cầu thực hiện công việc. Trong nhiều trường hợp, những hoạt động này có tính linh hoạt và khả năng đáp ứng nhanh với thay đổi công nghệ, đặc biệt đối với các ngành có tốc độ đổi mới cao. Kết quả đào tạo và phát triển kỹ năng tại doanh nghiệp có thể được ghi nhận thông qua chứng chỉ, chứng nhận nội bộ, kết quả kiểm tra, đánh giá năng lực, hồ sơ đào tạo hoặc những hình thức xác nhận khác.
Mặc dù có giá trị đáng kể đối với hoạt động sản xuất và phát triển nguồn nhân lực tại doanh nghiệp, các kết quả học tập và kỹ năng nghề được hình thành trong quá trình làm việc chưa được kết nối đầy đủ với các cơ chế công nhận thuộc hệ thống GDNN. Những năng lực mà người lao động đã tích lũy thông qua kinh nghiệm làm việc, đào tạo nội bộ hoặc các khóa học chuyên biệt thường có giá trị trực tiếp trong phạm vi doanh nghiệp hoặc hệ thống công nghệ liên quan, nhưng khả năng được công nhận khi tham gia CTĐT chính quy, chuyển sang doanh nghiệp khác hoặc tiếp tục học tập ở trình độ cao hơn còn hạn chế. Khoảng cách này không nhất thiết xuất phát từ sự khác biệt về chất lượng năng lực thực tế, mà còn liên quan đến việc thiếu những cơ chế đánh giá, xác thực, đối sánh và chuyển đổi kết quả học tập được các bên cùng thừa nhận.
Kết luận này cho thấy việc tăng cường công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy cần được coi là một nội dung quan trọng trong phát triển hệ thống GDNN và học tập suốt đời. Trong đó, cần chú trọng xây dựng các phương pháp đánh giá năng lực thực tế, xác định mức độ tương đương với chuẩn đầu ra của CTĐT và thiết lập quy trình công nhận phù hợp. Việc kết nối học tập tại nơi làm việc với các cơ chế công nhận chính thức không chỉ góp phần bảo vệ và phát huy giá trị những kỹ năng người lao động đã có, mà còn có thể giảm sự trùng lặp trong đào tạo, tạo điều kiện cho người lao động tiếp tục nâng cao trình độ và tăng cường sự gắn kết giữa GDNN với thị trường lao động.
Kết luận 4. Các lộ trình học tập và phát triển nghề nghiệp đã tồn tại trong thực tiễn, nhưng chưa hình thành được một hệ thống liên thông và tích lũy linh hoạt
Kết quả nghiên cứu cho thấy tại Việt Nam đã tồn tại nhiều lộ trình khác nhau để người học và người lao động hình thành, nâng cao hoặc cập nhật kỹ năng nghề. Các lộ trình này bao gồm tham gia CTĐT chính quy, các khóa đào tạo ngắn hạn, chương trình theo mô-đun, đào tạo tại doanh nghiệp, bồi dưỡng chuyên môn theo yêu cầu vị trí việc làm và tham gia các chương trình chứng nhận ngành nghề hoặc quốc tế. Sự đa dạng này tạo ra nhiều cơ hội tiếp cận đào tạo, phù hợp với những nhóm đối tượng có nhu cầu, điều kiện học tập và mục tiêu nghề nghiệp khác nhau. Đặc biệt, đào tạo ngắn hạn và đào tạo tại doanh nghiệp có vai trò quan trọng đối với người lao động đang làm việc, những người cần cập nhật kỹ năng nhưng khó tham gia các CTĐT toàn thời gian.
Tuy nhiên, cần phân biệt giữa sự đa dạng của các cơ hội học tập với tính liên thông thực chất giữa các lộ trình học tập. Việc người học có thể hoàn thành nhiều khóa đào tạo hoặc sở hữu nhiều chứng chỉ, chứng nhận không đồng nghĩa với việc những kết quả đó có thể được tích lũy và chuyển đổi thành một phần của CTĐT khác. Trong thực tiễn, việc công nhận kết quả học tập giữa các cơ sở đào tạo, giữa các trình độ hoặc giữa các hình thức đào tạo vẫn phụ thuộc vào những điều kiện và quy trình cụ thể. Đối với các khóa học độc lập và chứng nhận ngoài hệ thống GDNN chính quy, cơ chế tích lũy kết quả để tiếp tục học tập và đạt được trình độ cao hơn chưa được ghi nhận như một thực hành phổ biến, có tính hệ thống.
Điều này cho thấy phát triển học tập suốt đời không chỉ là mở rộng số lượng chương trình, khóa học hoặc cơ hội tiếp cận đào tạo, mà còn phải bảo đảm rằng những kết quả học tập có giá trị có thể được ghi nhận, bảo lưu, tích lũy và sử dụng trong các giai đoạn phát triển nghề nghiệp tiếp theo. Việc xây dựng các CTĐT theo mô-đun có chuẩn đầu ra rõ ràng, cơ chế chuyển đổi kết quả học tập và phương pháp đánh giá năng lực phù hợp có thể tạo nền tảng cho những lộ trình học tập linh hoạt hơn. Đây là điều kiện quan trọng để người lao động từng bước nâng cao trình độ, chuyển đổi nghề nghiệp và thích ứng với những thay đổi của thị trường lao động mà không nhất thiết phải bắt đầu lại toàn bộ quá trình đào tạo.
Kết luận 5. Bảo đảm chất lượng là điều kiện nền tảng để tăng cường sự công nhận và khả năng chuyển đổi văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận giữa các hệ thống
Các nhóm văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận tại Việt Nam được hình thành và vận hành trong những cơ chế bảo đảm chất lượng khác nhau, tương ứng với mục đích và đặc điểm của từng hệ thống. Trong GDNN, bảo đảm chất lượng gắn với các quy định về CTĐT, chuẩn đầu ra, điều kiện tổ chức đào tạo, kiểm tra đánh giá và trách nhiệm của cơ sở đào tạo. Đối với chứng chỉ kỹ năng nghề, việc đánh giá và công nhận gắn với các tiêu chuẩn kỹ năng và quy trình đánh giá năng lực nghề nghiệp. Trong khi đó, các chương trình chứng nhận do doanh nghiệp, nhà sản xuất hoặc tổ chức ngành nghề triển khai thường dựa trên những yêu cầu chuyên môn, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình vận hành hoặc hệ thống đánh giá riêng. Những khác biệt này phản ánh sự đa dạng về chức năng và mục tiêu của các loại văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận, chứ không mặc nhiên cho thấy hệ thống này có chất lượng cao hơn hệ thống khác.
Tuy nhiên, chính sự khác biệt về tiêu chuẩn, quy trình và chủ thể bảo đảm chất lượng cũng đặt ra thách thức đối với việc đánh giá tính tương đương và công nhận kết quả giữa các hệ thống. Khi thông tin về năng lực được chứng nhận, phương pháp đánh giá, điều kiện đạt yêu cầu và cơ chế xác minh chưa được công bố đầy đủ hoặc chưa thể đối sánh, các cơ sở đào tạo và người sử dụng lao động khó có đủ căn cứ để xác định mức độ tin cậy và khả năng sử dụng kết quả. Trong những trường hợp này, việc công nhận lẫn nhau có thể phụ thuộc nhiều vào sự quen thuộc với tổ chức cấp chứng nhận hoặc những thỏa thuận riêng, thay vì dựa trên các tiêu chí minh bạch và có thể kiểm chứng.
Do đó, tăng cường khả năng công nhận và chuyển đổi văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận không nhất thiết đòi hỏi phải áp dụng một mô hình bảo đảm chất lượng thống nhất cho tất cả các hệ thống. Điều quan trọng hơn là xác định được những nguyên tắc và điều kiện tối thiểu làm cơ sở đối sánh và công nhận, bao gồm tính rõ ràng của chuẩn năng lực, độ tin cậy của phương pháp đánh giá, năng lực của chủ thể đánh giá và khả năng xác minh kết quả. Việc tăng cường minh bạch và xây dựng những cơ chế bảo đảm chất lượng có khả năng tương tác giữa các hệ thống sẽ góp phần củng cố niềm tin của các bên liên quan, đồng thời tạo điều kiện cho việc công nhận những kỹ năng đã được hình thành và đánh giá trong các bối cảnh học tập khác nhau.
Kết luận 6. Thiếu cơ chế thông tin minh bạch, có thể tiếp cận và xác minh là một rào cản đối với việc sử dụng hiệu quả văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận
Nghiên cứu cho thấy thông tin về các CTĐT và văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận tại Việt Nam hiện được cung cấp thông qua nhiều kênh và bởi nhiều chủ thể khác nhau, bao gồm cơ quan QLNN, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp và các tổ chức cung cấp chứng nhận. Mỗi chủ thể có cách thức công bố, quản lý và chia sẻ thông tin riêng, phù hợp với chức năng và phạm vi hoạt động của mình. Tuy nhiên, sự phân tán của các nguồn thông tin khiến người học, người lao động, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp gặp khó khăn khi cần tìm hiểu, đối chiếu hoặc xác định giá trị và phạm vi sử dụng của những loại văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận khác nhau.
Một vấn đề đáng chú ý là thông tin về một CTĐT hoặc chứng chỉ được công bố chưa đồng nghĩa với việc người sử dụng có thể tiếp cận đầy đủ những thông tin cần thiết để đánh giá và công nhận kết quả. Những nội dung như chuẩn năng lực được xác nhận, điều kiện cấp, phương pháp đánh giá, tổ chức chịu trách nhiệm, thời hạn hiệu lực, phạm vi công nhận hoặc phương thức xác minh tính xác thực của chứng chỉ có thể chưa được cung cấp một cách thống nhất. Đối với người sử dụng lao động, điều này có thể làm tăng chi phí và thời gian xác minh năng lực của ứng viên. Đối với người lao động, sự thiếu rõ ràng có thể hạn chế khả năng lựa chọn những CTĐT phù hợp hoặc sử dụng các kết quả học tập đã tích lũy để chứng minh năng lực khi tìm kiếm việc làm và phát triển nghề nghiệp.
Từ góc độ hệ thống, chia sẻ thông tin không chỉ có ý nghĩa đối với hoạt động truyền thông về các CTĐT và chứng nhận, mà còn là điều kiện hỗ trợ sự tin cậy, công nhận và liên thông giữa các hệ thống. Việc phát triển các cơ chế cung cấp thông tin có cấu trúc, chuẩn hóa những dữ liệu cốt lõi về văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận và tăng cường khả năng xác minh kết quả có thể góp phần nâng cao tính minh bạch của hệ sinh thái. Đồng thời, việc cải thiện khả năng tiếp cận thông tin sẽ hỗ trợ người học đưa ra quyết định đào tạo, giúp doanh nghiệp sử dụng hiệu quả hơn các kết quả chứng nhận và tạo nền tảng cho những cơ chế đối sánh, công nhận kỹ năng trong tương lai.
Kết luận 7. Khung pháp lý mới tạo cơ hội thúc đẩy đào tạo linh hoạt và công nhận kết quả học tập, nhưng hiệu quả phụ thuộc vào cơ chế triển khai thực tế
Những thay đổi gần đây trong chính sách GDNN và quản lý văn bằng, chứng chỉ đang tạo ra những điều kiện thuận lợi để tăng cường tính linh hoạt, liên thông và công nhận kết quả học tập trong hệ thống giáo dục. Các định hướng về tổ chức đào tạo theo mô-đun, tích lũy tín chỉ, công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, tăng cường đào tạo tại doanh nghiệp và phát triển học tập suốt đời phản ánh sự chuyển dịch từ cách tiếp cận chủ yếu dựa trên CTĐT hoàn chỉnh sang quan tâm nhiều hơn đến kết quả học tập và năng lực mà người học đã đạt được. Đây là cơ sở quan trọng để mở rộng cơ hội tiếp tục học tập cho người lao động và tăng cường khả năng kết nối giữa những hình thức đào tạo khác nhau.
Tuy nhiên, khoảng cách giữa quy định pháp lý và thực tiễn triển khai vẫn là một vấn đề cần được quan tâm. Việc pháp luật cho phép công nhận, bảo lưu hoặc chuyển đổi kết quả học tập chưa tự động bảo đảm rằng các cơ sở đào tạo có đủ điều kiện để thực hiện một cách thống nhất và hiệu quả. Hoạt động công nhận đòi hỏi phải có căn cứ đối sánh chuẩn đầu ra, quy trình đánh giá và xác minh kết quả, những tiêu chí xác định mức độ tương đương cũng như sự phân định rõ trách nhiệm của các chủ thể tham gia. Đối với những kết quả học tập và kỹ năng nghề được hình thành thông qua đào tạo tại doanh nghiệp, kinh nghiệm làm việc hoặc các hình thức học tập ngoài hệ thống GDNN chính quy, yêu cầu này càng trở nên phức tạp do sự khác biệt về nội dung, phương pháp đánh giá và hệ thống ghi nhận kết quả.
Trong bối cảnh đó, hiệu quả của cải cách không chỉ phụ thuộc vào việc hoàn thiện các quy định mang tính nguyên tắc, mà còn phụ thuộc vào năng lực tổ chức thực hiện và những cơ chế hỗ trợ cụ thể. Cần đặc biệt chú trọng xây dựng hướng dẫn kỹ thuật về đánh giá và công nhận kết quả học tập, tăng cường năng lực cho các cơ sở đào tạo, phát triển hệ thống thông tin phục vụ xác minh và chia sẻ dữ liệu, đồng thời thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp trong xác định và đánh giá năng lực nghề nghiệp. Việc triển khai các mô hình thí điểm có kiểm chứng sẽ tạo cơ sở thực tiễn để đánh giá tính khả thi, nhận diện những khó khăn trong thực hiện và từng bước hoàn thiện các cơ chế công nhận, chuyển đổi kết quả học tập phù hợp với điều kiện của Việt Nam.
Kết luận 8. Chuyển đổi xanh làm gia tăng nhu cầu phát triển và chứng nhận kỹ năng mới, đồng thời tạo cơ hội thí điểm các mô hình kết nối giữa GDNN và doanh nghiệp
Quá trình chuyển đổi xanh, cùng với sự phát triển của công nghệ và những thay đổi trong yêu cầu sản xuất, đang đặt ra nhu cầu ngày càng lớn đối với việc cập nhật, nâng cao và phát triển các kỹ năng nghề mới. Trong các lĩnh vực năng lượng, hiệu quả năng lượng và công nghệ xanh, sự thay đổi về thiết bị, quy trình vận hành, tiêu chuẩn kỹ thuật và yêu cầu an toàn có thể làm thay đổi nội dung năng lực cần thiết đối với người lao động. Nhu cầu này không chỉ xuất hiện đối với lực lượng lao động mới gia nhập thị trường mà còn đối với những người đang làm việc, đặc biệt khi doanh nghiệp áp dụng công nghệ mới, cải tiến quy trình sản xuất hoặc điều chỉnh hoạt động để đáp ứng các yêu cầu về sử dụng năng lượng và phát triển bền vững.
Đặc điểm của quá trình chuyển đổi xanh đặt ra yêu cầu phát triển những hình thức đào tạo và chứng nhận có khả năng đáp ứng nhanh, linh hoạt và phù hợp với nhu cầu cụ thể của từng nhóm lao động. Bên cạnh các chương trình GDNN chính quy, những khóa đào tạo ngắn hạn, mô-đun kỹ năng chuyên sâu và hoạt động đào tạo tại doanh nghiệp có tiềm năng đáp ứng hiệu quả nhu cầu cập nhật công nghệ và nâng cao năng lực thực hành. Tuy nhiên, nhu cầu kỹ năng có thể khác nhau đáng kể giữa các lĩnh vực, doanh nghiệp, nhóm nghề và vị trí việc làm. Vì vậy, việc phát triển các CTĐT và chứng nhận cần dựa trên yêu cầu năng lực thực tế, thay vì giả định rằng một mô hình chung có thể đáp ứng đầy đủ những nhu cầu đa dạng của chuyển đổi xanh.
Trong bối cảnh đó, các lĩnh vực năng lượng, hiệu quả năng lượng và công nghệ xanh có thể trở thành những lĩnh vực ưu tiên để thử nghiệm các cơ chế kết nối giữa GDNN và doanh nghiệp trong phát triển, đánh giá và công nhận kỹ năng. Các mô hình thí điểm có thể tập trung vào thiết kế CTĐT theo mô-đun dựa trên chuẩn năng lực, kết hợp đào tạo tại cơ sở GDNN với học tập tại nơi làm việc, công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy, hoặc xây dựng cơ chế đối sánh giữa chứng nhận của doanh nghiệp với các chuẩn năng lực nghề nghiệp có liên quan. Những hoạt động này không chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ chuyển đổi xanh mà còn có thể cung cấp bằng chứng thực tiễn cho việc hoàn thiện các cơ chế công nhận kỹ năng và phát triển những lộ trình học tập linh hoạt hơn. Đây là một định hướng có ý nghĩa đối với các hoạt động hợp tác kỹ thuật và đối thoại chính sách trong khuôn khổ Chương trình Hợp tác Ngành Chiến lược Việt Nam – Đan Mạch giai đoạn III.
Nhận định tổng hợp
Tổng hợp tám kết luận cho thấy vấn đề trọng tâm của hệ thống văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận tại Việt Nam không nằm ở sự thiếu vắng các loại hình đào tạo và chứng nhận kỹ năng, mà chủ yếu ở mức độ kết nối giữa các hệ thống và khả năng chuyển hóa những kết quả học tập, năng lực nghề nghiệp đã được hình thành thành các giá trị có thể được công nhận và sử dụng rộng rãi. Trong khi các hệ thống hiện có đáp ứng những nhu cầu khác nhau của giáo dục, doanh nghiệp và thị trường lao động, các cơ chế đối sánh, công nhận lẫn nhau, tích lũy kết quả học tập, bảo đảm chất lượng và chia sẻ thông tin chưa phát triển tương xứng với sự đa dạng của các hình thức đào tạo và chứng nhận.
Do đó, định hướng phát triển trong giai đoạn tiếp theo cần tập trung vào tăng cường tính kết nối, minh bạch, độ tin cậy và khả năng chuyển đổi kết quả học tập giữa các hệ thống, thay vì thay thế hoặc đồng nhất những hệ thống đang tồn tại. Cách tiếp cận này vừa tôn trọng đặc thù và giá trị của từng loại văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận, vừa tạo điều kiện để người lao động sử dụng hiệu quả hơn những kỹ năng đã tích lũy, tiếp tục học tập và thích ứng với các yêu cầu nghề nghiệp mới. Trong quá trình đó, sự phối hợp giữa cơ quan QLNN, cơ sở GDNN, doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp và các đối tác phát triển có vai trò quan trọng, đặc biệt trong việc triển khai các mô hình thí điểm gắn với nhu cầu phát triển kỹ năng cho chuyển đổi xanh.
Khuyến nghị
Trên cơ sở tám kết luận chính của nghiên cứu và tổng hợp các đề xuất của các bên liên quan trong quá trình phỏng vấn, hệ thống khuyến nghị được xây dựng theo hướng giải quyết những khoảng trống quan trọng trong việc phát triển, đánh giá, công nhận và sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận tại Việt Nam. Trọng tâm không phải là thiết lập một hệ thống chứng chỉ mới thay thế các hệ thống hiện hành, mà là tăng cường tính kết nối, minh bạch, độ tin cậy và khả năng chuyển đổi kết quả học tập, kỹ năng nghề giữa những hệ thống đang tồn tại.
Các khuyến nghị được tổ chức thành hai cấp độ có quan hệ chặt chẽ với nhau. Cấp độ thứ nhất là những khuyến nghị mang tính hệ thống, hướng tới hoàn thiện chính sách, cơ chế quản trị và điều kiện bảo đảm để phát triển hệ sinh thái văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận tại Việt Nam. Cấp độ thứ hai là những khuyến nghị cụ thể đối với Chương trình Hợp tác Ngành Chiến lược Việt Nam – Đan Mạch giai đoạn III (SSC Phase III), tập trung vào các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật, xây dựng năng lực và thí điểm mô hình có thể triển khai trong phạm vi hợp tác của dự án, đặc biệt đối với những ngành nghề liên quan đến năng lượng, hiệu quả năng lượng và công nghệ xanh.
Nhóm khuyến nghị chung đối với hệ thống văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận tại Việt Nam
Tăng cường tính kết nối giữa các khung trình độ và hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề
Một trong những ưu tiên quan trọng là tăng cường khả năng đối sánh và kết nối giữa Khung trình độ quốc gia Việt Nam, các tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và các hệ thống tiêu chuẩn năng lực do ngành nghề, doanh nghiệp và tổ chức quốc tế phát triển. Việc kết nối cần dựa trên chuẩn đầu ra, yêu cầu năng lực và mức độ thành thạo nghề nghiệp thay vì chỉ căn cứ vào tên chương trình, số giờ đào tạo hoặc hình thức chứng nhận. Đây là điều kiện quan trọng để tạo cơ sở cho việc công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy từ những lộ trình khác nhau.
Về dài hạn, cần nghiên cứu phát triển cơ chế chuẩn hóa, quản lý và chia sẻ thông tin về các tiêu chuẩn kỹ năng nghề theo từng ngành, nghề, hướng tới hình thành một hệ thống tham chiếu năng lực nghề nghiệp có thể sử dụng chung. Cơ chế này cần cho phép xác định những năng lực cụ thể ở từng trình độ, những yêu cầu đánh giá tương ứng và mối quan hệ giữa các đơn vị năng lực với chuẩn đầu ra của CTĐT. Ý tưởng xây dựng một ngân hàng kỹ năng nghề dùng chung được một số bên liên quan đề xuất là hướng có thể xem xét, nhưng cần đánh giá kỹ khả năng tích hợp với các bộ tiêu chuẩn hiện hành, cơ chế cập nhật theo sự thay đổi của công nghệ và nguồn lực cần thiết để vận hành lâu dài.
Đồng thời, cần tăng cường vai trò của doanh nghiệp và hiệp hội ngành nghề trong quá trình xây dựng, rà soát và cập nhật tiêu chuẩn kỹ năng. Có thể nghiên cứu phát triển các Hội đồng Kỹ năng Ngành hoặc cơ chế tư vấn tương đương, với sự tham gia của cơ quan quản lý, cơ sở GDNN, doanh nghiệp và các tổ chức chuyên môn. Các thiết chế này cần có chức năng, trách nhiệm và cơ chế phối hợp rõ ràng, tránh hình thành thêm những đầu mối quản lý chồng chéo.
Hoàn thiện cơ chế công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy
Cần ưu tiên cụ thể hóa các quy định về công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy thành những quy trình nghiệp vụ có thể áp dụng tại các cơ sở GDNN. Trọng tâm là xây dựng cơ chế cho phép xem xét, đánh giá và công nhận những năng lực được hình thành thông qua đào tạo tại doanh nghiệp, học tập tại nơi làm việc, kinh nghiệm nghề nghiệp và các CTĐT ngoài hệ thống chính quy, trên cơ sở đối chiếu với chuẩn đầu ra và yêu cầu năng lực của CTĐT tiếp nhận.
Cơ quan QLNN có thể nghiên cứu xây dựng sổ tay hướng dẫn kỹ thuật về công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy, trong đó quy định rõ những bước cơ bản như tiếp nhận hồ sơ, xác định yêu cầu năng lực, rà soát minh chứng, đánh giá bổ sung khi cần thiết, quyết định công nhận và lưu trữ kết quả. Đi kèm với đó là bộ công cụ đánh giá năng lực dựa trên chuẩn đầu ra, bao gồm tiêu chí đánh giá, phương pháp thu thập minh chứng, hướng dẫn sát hạch thực hành và nguyên tắc xác định mức độ tương đương. Việc chuẩn hóa các yêu cầu nghiệp vụ cốt lõi cần được kết hợp với quyền chủ động của cơ sở đào tạo trong tổ chức đánh giá phù hợp với đặc điểm ngành nghề và người học.
Cần khuyến khích các cơ sở GDNN thiết lập quy trình nội bộ về công nhận và chuyển đổi kết quả học tập, với sự tham gia phù hợp của chuyên gia nghề nghiệp và đại diện doanh nghiệp. Đối với các năng lực thực hành chuyên sâu, doanh nghiệp có thể tham gia xây dựng tiêu chí, cung cấp minh chứng, tổ chức đánh giá hoặc phản biện kết quả. Tuy nhiên, trách nhiệm ra quyết định công nhận và cấp văn bằng, chứng chỉ phải được xác định phù hợp với thẩm quyền pháp lý của từng chủ thể.
Về dài hạn, có thể nghiên cứu cơ chế đánh giá kỹ năng độc lập hoặc tăng cường sự tham gia của các tổ chức đánh giá bên ngoài nhằm nâng cao tính khách quan và độ tin cậy của kết quả. Việc áp dụng mô hình này cần dựa trên yêu cầu thực tế của từng loại chứng nhận, đồng thời xem xét chi phí, năng lực của tổ chức đánh giá và cơ chế giám sát chất lượng.
Phát triển các lộ trình đào tạo mô-đun, tích lũy và chuyển đổi kết quả học tập linh hoạt
Cần thúc đẩy phát triển các CTĐT có cấu trúc linh hoạt, trong đó các mô-đun hoặc đơn vị học tập được thiết kế với chuẩn đầu ra rõ ràng, có khả năng đánh giá và ghi nhận kết quả độc lập. Việc tổ chức đào tạo theo mô-đun cần hướng tới khả năng tích lũy kết quả học tập, tạo điều kiện cho người học từng bước hoàn thành những yêu cầu của CTĐT phù hợp với nhu cầu và điều kiện cá nhân.
Đối với các khóa đào tạo ngắn hạn và CTĐT tại doanh nghiệp, cần khuyến khích xây dựng nội dung dựa trên những đơn vị năng lực có thể đối sánh với chuẩn đầu ra của chương trình GDNN. Trên cơ sở đó, các cơ sở đào tạo có thể xem xét công nhận hoặc miễn trừ những nội dung học tập tương đương theo quy định. Cần phân biệt rõ giữa việc công nhận một năng lực cụ thể, công nhận một phần CTĐT và công nhận đủ điều kiện cấp văn bằng hoặc chứng chỉ. Việc tích lũy nhiều chứng nhận ngắn hạn không nên tự động dẫn đến việc cấp văn bằng có trình độ cao hơn nếu người học chưa đáp ứng đầy đủ chuẩn đầu ra và các điều kiện bảo đảm chất lượng.
Các cơ sở GDNN cũng cần tăng cường hợp tác trong việc xây dựng thỏa thuận công nhận kết quả học tập giữa những chương trình hoặc cơ sở đào tạo có chuẩn đầu ra tương thích. Trong dài hạn, những mô hình này có thể góp phần hình thành các lộ trình học tập linh hoạt giữa đào tạo chính quy, đào tạo thường xuyên, đào tạo tại doanh nghiệp và các hình thức học tập khác, qua đó hỗ trợ người lao động nâng cao kỹ năng, đào tạo lại và chuyển đổi nghề nghiệp.
Tăng cường vai trò và cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia phát triển, đánh giá và công nhận kỹ năng
Cần chuyển từ mô hình hợp tác chủ yếu tập trung vào tiếp nhận thực tập và góp ý chương trình sang mô hình doanh nghiệp tham gia sâu hơn trong toàn bộ quá trình đào tạo và phát triển kỹ năng. Việc hợp tác nên bao gồm xác định nhu cầu năng lực, đồng thiết kế chương trình, phối hợp tổ chức đào tạo, đồng đánh giá kết quả và tham gia xác nhận năng lực nghề nghiệp trong phạm vi phù hợp. Cách tiếp cận này giúp tăng tính đáp ứng của CTĐT đối với nhu cầu thị trường lao động và tạo cơ sở nâng cao sự tin tưởng của doanh nghiệp đối với kết quả đào tạo.
Cần nghiên cứu hoàn thiện các cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tham gia GDNN, đặc biệt là những hoạt động đòi hỏi doanh nghiệp phải bố trí chuyên gia, trang thiết bị, nguyên vật liệu, thời gian hướng dẫn hoặc tiếp nhận người học tham gia thực hành trong môi trường sản xuất. Các chính sách có thể xem xét bao gồm hỗ trợ chi phí đào tạo, cơ chế ưu đãi phù hợp, chia sẻ chi phí tổ chức đánh giá và những biện pháp giảm thiểu rủi ro trong hoạt động thực hành, thực tập. Những đề xuất về nghĩa vụ đóng góp kinh phí đào tạo hoặc ưu đãi thuế cần được nghiên cứu tác động và đánh giá tính khả thi trước khi xem xét thể chế hóa.
Ở cấp cơ sở đào tạo, cần phát huy vai trò của các Hội đồng tư vấn nghề có sự tham gia của doanh nghiệp, đồng thời thiết lập cơ chế phản hồi thường xuyên từ người sử dụng lao động về mức độ đáp ứng năng lực của người học sau đào tạo. Việc xây dựng quan hệ hợp tác bền vững với doanh nghiệp cũng cần gắn với các hoạt động phát triển năng lực giảng viên, trong đó khuyến khích giảng viên định kỳ tham gia trải nghiệm và cập nhật công nghệ tại môi trường làm việc thực tế.
Nâng cao tính minh bạch, khả năng xác minh và bảo đảm chất lượng của văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận
Cần tăng cường chuẩn hóa những thông tin cốt lõi gắn với văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận, bao gồm chủ thể cấp, mục đích, chuẩn năng lực hoặc kết quả học tập được xác nhận, điều kiện cấp, phương pháp đánh giá, phạm vi công nhận và thời hạn hiệu lực nếu có. Những thông tin này cần được cung cấp theo cách dễ tiếp cận và phù hợp với nhu cầu của người học, người lao động, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp.
Cùng với quá trình số hóa quản lý văn bằng, chứng chỉ, cần phát triển cơ chế xác minh điện tử để các chủ thể có thẩm quyền có thể kiểm tra tính xác thực của kết quả. Có thể nghiên cứu áp dụng mã QR, mã định danh chứng chỉ hoặc các phương thức xác minh điện tử khác, bảo đảm liên kết với nguồn dữ liệu được quản lý chính thức và có khả năng cập nhật, kiểm tra. Tuy nhiên, số hóa và gắn mã xác minh chỉ thực sự có giá trị khi dữ liệu nền được quản lý đầy đủ, chính xác và có cơ chế bảo vệ thông tin cá nhân phù hợp. Vì vậy, không nên coi việc gắn mã QR hoặc tích hợp dữ liệu vào một nền tảng duy nhất là giải pháp có thể tự động xử lý mọi vấn đề về xác minh và công nhận.
Đối với bảo đảm chất lượng, cần nghiên cứu những tiêu chí tối thiểu để đánh giá độ tin cậy của các hệ thống chứng nhận khác nhau, tập trung vào tính rõ ràng của chuẩn năng lực, sự phù hợp của phương pháp đánh giá, năng lực của người đánh giá và tính xác thực của kết quả. Các tiêu chí này có thể hỗ trợ việc đối sánh và công nhận giữa các hệ thống, nhưng cần được thiết kế linh hoạt để không làm mất đi những lợi thế riêng của các chương trình chứng nhận ngành nghề và doanh nghiệp.
Lồng ghép phát triển kỹ năng xanh, kỹ năng số và tăng cường truyền thông về giá trị của chứng nhận kỹ năng nghề
Cần tăng cường tích hợp những yêu cầu về kỹ năng xanh, kỹ năng số, an toàn lao động và khả năng thích ứng với thay đổi công nghệ vào chương trình GDNN. Việc tích hợp cần dựa trên yêu cầu thực tế của từng nghề và từng vị trí việc làm, tránh áp dụng một danh mục nội dung giống nhau cho tất cả các ngành nghề. Đối với những lĩnh vực liên quan trực tiếp đến chuyển đổi xanh, cần chú trọng các năng lực chuyên môn như sử dụng năng lượng hiệu quả, vận hành thiết bị và công nghệ mới, kiểm soát rủi ro an toàn, quản lý chất thải và đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường có liên quan.
Song song với việc cập nhật CTĐT, cần phát triển các tài liệu hướng dẫn thực hành để hỗ trợ cơ sở GDNN nhận diện nhu cầu kỹ năng xanh, xây dựng chuẩn đầu ra và thiết kế các mô-đun phù hợp. Những tài liệu này nên được xây dựng trên cơ sở phối hợp với doanh nghiệp và chuyên gia ngành nghề, bảo đảm tính khả thi trong các điều kiện đào tạo khác nhau.
Công tác truyền thông cũng cần được tăng cường nhằm nâng cao nhận thức về giá trị của GDNN, các tiêu chuẩn kỹ năng nghề và những cơ hội học tập, công nhận kỹ năng ngoài CTĐT chính quy. Trọng tâm truyền thông không chỉ là giới thiệu các loại văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận mà còn cần giúp người học và người sử dụng lao động hiểu được sự khác biệt về chức năng, phạm vi công nhận và giá trị sử dụng của từng loại. Đây là điều kiện cần thiết để nâng cao khả năng lựa chọn CTĐT và sử dụng kết quả chứng nhận một cách phù hợp.
Nhóm khuyến nghị về các hoạt động ưu tiên triển khai trong khuôn khổ Dự án
Thí điểm xây dựng bộ chuẩn năng lực và cơ chế đối sánh chứng chỉ trong một số nghề ưu tiên thuộc lĩnh vực năng lượng và công nghệ xanh, phát huy vai trò của Hội đồng kỹ năng nghề
Dự án có thể hỗ trợ Bộ GDĐT/Cục GDNNGDTX, các cơ sở GDNN và doanh nghiệp xây dựng hoặc cập nhật bộ chuẩn năng lực cho một số nghề, vị trí việc làm hoặc nhóm kỹ năng cụ thể có liên quan trực tiếp đến các lĩnh vực ưu tiên của dự án. Hoạt động này nên được triển khai trên cơ sở rà soát những tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, chuẩn đầu ra CTĐT và tiêu chuẩn ngành nghề đang được áp dụng, tránh xây dựng một bộ tiêu chuẩn mới nếu các tiêu chuẩn hiện hành có thể được kế thừa hoặc điều chỉnh.
Trọng tâm của hoạt động là xác định các đơn vị năng lực nghề nghiệp, yêu cầu kiến thức và kỹ năng, tiêu chí thực hiện công việc và phương pháp đánh giá tương ứng. Các đơn vị năng lực này cần được đối sánh với nội dung đào tạo tại cơ sở GDNN và những CTĐT, chứng nhận của doanh nghiệp hoặc tổ chức ngành nghề. Có thể lựa chọn những lĩnh vực như điện công nghiệp, vận hành và bảo trì hệ thống năng lượng tái tạo hoặc các kỹ năng liên quan đến sử dụng năng lượng hiệu quả, tùy thuộc vào nhu cầu thực tế và khả năng huy động doanh nghiệp tham gia.
Kế thừa kinh nghiệm hợp tác Việt Nam – Đan Mạch trong các giai đoạn SSC trước, dự án cần ưu tiên phát huy vai trò của cơ chế Hội đồng kỹ năng nghề trong việc kết nối các chủ thể tham gia xác định, phát triển và cập nhật yêu cầu năng lực nghề nghiệp. Đối với những lĩnh vực ưu tiên của dự án, Hội đồng kỹ năng nghề có thể đóng vai trò là diễn đàn phối hợp thường xuyên giữa doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề, đại diện người lao động, cơ sở GDNN và cơ quan quản lý. Các hoạt động trọng tâm bao gồm xác định nhu cầu kỹ năng hiện tại và mới phát sinh từ chuyển đổi xanh, tham gia xây dựng và thẩm định yêu cầu năng lực, rà soát mức độ phù hợp của CTĐT, góp ý tiêu chí đánh giá và đề xuất cập nhật tiêu chuẩn khi công nghệ hoặc yêu cầu nghề nghiệp thay đổi. Hội đồng cũng có thể tham gia xem xét kết quả đối sánh giữa chuẩn năng lực trong nước với tiêu chuẩn của doanh nghiệp và tổ chức quốc tế, qua đó tăng tính phù hợp và mức độ chấp nhận của các bên sử dụng lao động đối với những chương trình, chứng chỉ được phát triển.
Dự án có thể hỗ trợ xây dựng và thử nghiệm quy chế hoạt động, phương thức tham vấn doanh nghiệp, quy trình tiếp nhận và tổng hợp thông tin nhu cầu kỹ năng, cơ chế đề xuất cập nhật tiêu chuẩn và phương thức phối hợp với cơ sở GDNN. Chuyên gia Đan Mạch có thể hỗ trợ chuyển giao kinh nghiệm về hoạt động của các hội đồng nghề, đặc biệt là cách thức duy trì sự tham gia của các bên trên thị trường lao động và chuyển các yêu cầu kỹ năng thành nội dung đào tạo, đánh giá. Những hoạt động này cần tập trung vào chức năng chuyên môn, tư vấn và phối hợp, không gắn với thẩm quyền ban hành tiêu chuẩn hoặc công nhận chứng chỉ khi chưa được pháp luật quy định.
Sản phẩm dự kiến: Bộ chuẩn năng lực hoặc ma trận đơn vị năng lực cho các nghề được lựa chọn; bảng đối sánh giữa chuẩn năng lực với CTĐT và chứng chỉ hiện có; bộ tiêu chí đánh giá năng lực; hướng dẫn áp dụng và cập nhật tiêu chuẩn; mô hình thí điểm phát huy vai trò Hội đồng kỹ năng nghề trong phát triển và cập nhật tiêu chuẩn, kèm quy trình hoạt động, cơ chế phối hợp và tài liệu hướng dẫn có khả năng tiếp tục sử dụng sau khi dự án kết thúc.
Thí điểm quy trình công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy tại một số cơ sở GDNN
Dự án có thể phối hợp với Bộ GDĐT/Cục GDNNGDTX lựa chọn một số cơ sở GDNN và doanh nghiệp đối tác để xây dựng, thử nghiệm quy trình công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy trong các lĩnh vực ưu tiên của dự án. Quy trình cần tập trung vào những trường hợp cụ thể, chẳng hạn người lao động đã hoàn thành khóa đào tạo kỹ thuật tại doanh nghiệp, người có kinh nghiệm làm việc nhưng chưa có chứng chỉ tương ứng, hoặc người học đã có chứng nhận kỹ năng từ nhà sản xuất và mong muốn được xem xét công nhận một phần nội dung của chương trình GDNN.
Hoạt động thí điểm cần bao gồm việc phát triển sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ, xây dựng các biểu mẫu và công cụ đánh giá, đào tạo đội ngũ thực hiện, tổ chức đánh giá trên những trường hợp thực tế và tổng kết kết quả. Quy trình có thể tham khảo các bước tiếp nhận hồ sơ, rà soát minh chứng, đối sánh chuẩn đầu ra, đánh giá bổ sung, quyết định công nhận và lưu trữ kết quả. Trong đó, cần phân biệt rõ giữa việc xác nhận người lao động đã tham gia một khóa học và việc đánh giá, công nhận năng lực mà họ thực sự đạt được.
Dự án cũng có thể hỗ trợ hình thành các nhóm đánh giá năng lực với sự tham gia của chuyên gia doanh nghiệp, giảng viên và cán bộ chuyên môn của cơ sở GDNN. Trên cơ sở kết quả thử nghiệm, cần đánh giá mức độ phù hợp của công cụ, chi phí tổ chức, độ tin cậy của kết quả và những vướng mắc pháp lý hoặc nghiệp vụ phát sinh. Các quyết định công nhận chính thức phải do chủ thể có thẩm quyền thực hiện theo quy định hiện hành.
Sản phẩm dự kiến: Một bộ sổ tay hướng dẫn công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy; bộ công cụ đánh giá năng lực; đội ngũ cán bộ và chuyên gia được tập huấn; các trường hợp công nhận được thí điểm và báo cáo đánh giá khả năng áp dụng, nhân rộng.
Phát triển và thí điểm các mô-đun đào tạo ngắn hạn có khả năng tích lũy, kết nối với CTĐT chính quy
Dự án có thể hỗ trợ các cơ sở GDNN và doanh nghiệp đối tác phát triển những mô-đun đào tạo ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu cập nhật kỹ năng trong các lĩnh vực năng lượng, hiệu quả năng lượng và công nghệ xanh. Khác với các khóa bồi dưỡng độc lập thông thường, các mô-đun thí điểm cần được thiết kế dựa trên chuẩn năng lực, có chuẩn đầu ra rõ ràng và cơ chế đánh giá kết quả học tập phù hợp, đồng thời xác định khả năng công nhận trong những CTĐT có liên quan.
Các mô-đun có thể tập trung vào những năng lực kỹ thuật cụ thể mà doanh nghiệp đang có nhu cầu, chẳng hạn vận hành, bảo trì hoặc kiểm tra an toàn đối với thiết bị và hệ thống công nghệ mới. Nội dung, thời lượng và phương thức đào tạo cần được thiết kế trên cơ sở phối hợp giữa cơ sở GDNN và doanh nghiệp, bảo đảm phù hợp với cả người học đang tham gia chương trình chính quy và người lao động có nhu cầu nâng cao kỹ năng.
Điểm quan trọng của hoạt động này là thử nghiệm khả năng chuyển đổi kết quả học tập, thay vì chỉ phát triển thêm các khóa đào tạo ngắn hạn. Dự án cần hỗ trợ các cơ sở đối tác xác định điều kiện để một mô-đun được công nhận tương đương với một phần của CTĐT khác, cơ chế ghi nhận kết quả và trách nhiệm của cơ sở tiếp nhận. Trong phạm vi phù hợp với quy định hiện hành, có thể thử nghiệm việc công nhận mô-đun khi người học tham gia CTĐT ở trình độ cao hơn hoặc một CTĐT khác có chuẩn đầu ra tương thích.
Sản phẩm dự kiến: Một số mô-đun đào tạo ngắn hạn được đồng thiết kế với doanh nghiệp; bộ công cụ đánh giá kết quả học tập; ma trận đối sánh với CTĐT chính quy; và mô hình thí điểm tích lũy, chuyển đổi kết quả học tập.
Thí điểm mô hình hợp tác toàn diện giữa cơ sở GDNN và doanh nghiệp trong đào tạo, đánh giá và xác nhận năng lực nghề nghiệp
Kế thừa các mô hình hợp tác đã được phát triển trong những giai đoạn trước, Dự án nên hỗ trợ nâng cấp quan hệ hợp tác giữa cơ sở GDNN và doanh nghiệp từ các hoạt động phối hợp riêng lẻ thành một quy trình tích hợp, bao gồm đồng xác định nhu cầu kỹ năng, đồng thiết kế chương trình, phối hợp đào tạo, đồng đánh giá và tham gia xác nhận năng lực nghề nghiệp. Đối với mỗi mô hình thí điểm, các bên cần xác định rõ vai trò và trách nhiệm ở từng giai đoạn. Doanh nghiệp có thể tham gia xác định yêu cầu năng lực và chuẩn đầu ra, cung cấp chuyên gia và điều kiện thực hành, tổ chức một phần hoạt động đào tạo tại nơi làm việc, cùng xây dựng tiêu chí đánh giá và tham gia đánh giá năng lực thực hành của người học. Cơ sở GDNN chịu trách nhiệm tổ chức đào tạo, quản lý người học, bảo đảm chất lượng và thực hiện việc công nhận, cấp văn bằng, chứng chỉ trong phạm vi thẩm quyền.
Một nội dung cần ưu tiên là phát triển năng lực đội ngũ giảng viên thông qua các chương trình trải nghiệm thực tế tại doanh nghiệp, cập nhật công nghệ và tham gia các hoạt động đào tạo, đánh giá chung với chuyên gia doanh nghiệp. Đồng thời, cần xây dựng hướng dẫn về tổ chức thực hành, thực tập tại doanh nghiệp, trong đó chú trọng an toàn lao động, trách nhiệm của các bên, quyền lợi của người học và cơ chế xử lý các rủi ro có thể phát sinh. Dự án nên cho phép các đối tác lựa chọn cấu trúc và thời lượng phối hợp phù hợp với đặc điểm ngành nghề, điều kiện doanh nghiệp và yêu cầu của CTĐT.
Sản phẩm dự kiến: Các mô hình hợp tác đào tạo – đánh giá giữa cơ sở GDNN và doanh nghiệp; bộ quy trình phối hợp; chương trình phát triển năng lực giảng viên và chuyên gia doanh nghiệp; cùng các trường hợp điển hình có thể sử dụng để chia sẻ kinh nghiệm và nhân rộng.
Thí điểm cơ chế chia sẻ thông tin và xác minh chứng chỉ giữa cơ sở GDNN và doanh nghiệp
Trong phạm vi nguồn lực và thẩm quyền của một dự án hợp tác kỹ thuật, Dự án không nên đặt mục tiêu xây dựng một cơ sở dữ liệu văn bằng, chứng chỉ quốc gia mới. Thay vào đó, dự án có thể hỗ trợ phát triển và thử nghiệm một mô hình chia sẻ thông tin, xác minh chứng chỉ ở quy mô giới hạn, bảo đảm khả năng kết nối với các hệ thống dữ liệu do cơ quan có thẩm quyền quản lý trong tương lai.
Hoạt động thí điểm có thể tập trung vào việc xây dựng bộ dữ liệu thông tin tối thiểu cho một số loại VB-CC-CN liên quan đến các CTĐT thuộc lĩnh vực ưu tiên của dự án, bao gồm đơn vị cấp, nội dung năng lực được chứng nhận, kết quả đánh giá, thời điểm cấp, tình trạng hiệu lực và phương thức xác minh. Trên cơ sở đó, dự án có thể hỗ trợ cơ sở GDNN áp dụng mã định danh, mã QR hoặc các công cụ xác minh điện tử phù hợp, giúp doanh nghiệp kiểm tra tính xác thực của kết quả thông qua kênh được tổ chức cấp chứng nhận quản lý.
Cùng với giải pháp kỹ thuật, cần xây dựng cơ chế phối hợp giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp trong quản lý, truy cập và sử dụng dữ liệu. Hoạt động thí điểm cần tuân thủ các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, xác định rõ những thông tin được phép công khai, những thông tin chỉ được truy cập khi có cơ sở pháp lý phù hợp và trách nhiệm của các bên trong bảo đảm tính chính xác của dữ liệu.
Một nội dung có giá trị gia tăng là phát triển mẫu thông tin chứng chỉ có thể sử dụng chung, cho phép thể hiện rõ năng lực được chứng nhận và cơ sở đánh giá. Mẫu thông tin này có thể tạo điều kiện cho doanh nghiệp hiểu và sử dụng chứng chỉ hiệu quả hơn, đồng thời cung cấp kinh nghiệm thực tiễn phục vụ các sáng kiến số hóa và kết nối dữ liệu ở quy mô rộng hơn.
Sản phẩm dự kiến: Bộ dữ liệu thông tin chứng chỉ tối thiểu; mẫu chứng nhận hoặc hồ sơ năng lực số; mô hình xác minh điện tử quy mô thí điểm; hướng dẫn chia sẻ, quản lý và bảo vệ dữ liệu; và báo cáo đánh giá khả năng mở rộng, kết nối với các hệ thống hiện hành.
Tăng cường đối thoại chính sách, trao đổi kinh nghiệm quốc tế và phổ biến các mô hình thực tiễn tốt
Dự án có thể đóng vai trò hỗ trợ kết nối giữa cơ quan quản lý, cơ sở GDNN, doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề và các đối tác phát triển trong việc trao đổi kinh nghiệm và thúc đẩy những giải pháp liên quan đến công nhận kỹ năng và phát triển lộ trình học tập linh hoạt. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu hiện tại, dự án nên tổ chức các hoạt động đối thoại chính sách theo những chủ đề có trọng tâm, thay vì chỉ phổ biến chung về hệ thống văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận.
Các chủ đề ưu tiên có thể bao gồm công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy; cơ chế đối sánh giữa chứng chỉ doanh nghiệp và chuẩn năng lực quốc gia; tổ chức đào tạo mô-đun có khả năng tích lũy; sự tham gia của doanh nghiệp trong đánh giá năng lực; và các giải pháp xác minh, chia sẻ thông tin chứng chỉ. Những hoạt động này cần tạo điều kiện để các bên trao đổi về những khó khăn thực tế, xác định giải pháp có thể triển khai và thống nhất trách nhiệm phối hợp.
Một nội dung cần ưu tiên là tổng kết và phát huy kết quả thí điểm Hội đồng kỹ năng ngành địa phương đã được triển khai trong các Dự án SSC giai đoạn trước, đồng thời nghiên cứu khả năng kết nối với cơ chế Hội đồng kỹ năng nghề ở cấp ngành và cấp quốc gia theo định hướng quản lý hiện hành. Trên cơ sở kinh nghiệm của Đan Mạch, dự án có thể hỗ trợ đánh giá hiệu quả hoạt động của các hội đồng đã được hình thành, xác định những điều kiện giúp duy trì sự tham gia thực chất của doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề và đại diện người lao động, cũng như vai trò của hội đồng trong cập nhật tiêu chuẩn năng lực, phát triển CTĐT và đánh giá kỹ năng nghề. Kết quả cần hướng tới đề xuất mô hình tổ chức và cơ chế vận hành có tính bền vững, bao gồm chức năng, thành phần tham gia, phương thức phối hợp với cơ quan quản lý và cơ sở GDNN, nguồn lực hoạt động và trách nhiệm của các bên. Việc phát triển cơ chế hội đồng cần dựa trên đánh giá những mô hình đã triển khai, tránh tạo thêm đầu mối phối hợp mang tính hình thức hoặc trùng lặp chức năng với các thiết chế hiện có.
Việc khai thác kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt là kinh nghiệm của Đan Mạch và những hệ thống GDNN có mô hình công nhận kỹ năng phát triển, nên tập trung vào các công cụ và cơ chế có khả năng áp dụng trong bối cảnh Việt Nam. Dự án có thể tổ chức trao đổi chuyên gia, hội thảo kỹ thuật, nghiên cứu trường hợp hoặc các chương trình học tập kinh nghiệm phù hợp. Các bài học quốc tế cần được xem xét trên cơ sở sự tương thích về thể chế, nguồn lực, năng lực của các chủ thể và những điều kiện cần thiết để triển khai bền vững.
Dự án cần tăng cường đối thoại, trao đổi thông tin và phối hợp với các nhà tài trợ, tổ chức phát triển quốc tế đang hỗ trợ Việt Nam trong lĩnh vực GDNN và phát triển kỹ năng nghề. Sự phối hợp này nhằm chia sẻ kết quả nghiên cứu, kinh nghiệm triển khai các mô hình thí điểm và bài học thực tiễn; đồng thời xác định những vấn đề chính sách cùng quan tâm, tăng cường tính nhất quán trong các thông điệp và định hướng hỗ trợ cải cách chính sách. Thông qua các cơ chế trao đổi thường xuyên, các đối tác có thể học hỏi lẫn nhau, phát huy thế mạnh và kinh nghiệm của từng chương trình, hạn chế sự trùng lặp hoặc phân tán nguồn lực, đồng thời tìm kiếm cơ hội phối hợp trong các hoạt động thí điểm và đối thoại chính sách với cơ quan QLNN. Việc thống nhất định hướng cần dựa trên những ưu tiên cải cách của Việt Nam và các bằng chứng thực tiễn, không nhất thiết đòi hỏi các nhà tài trợ áp dụng cùng một phương pháp hoặc chương trình can thiệp. Kết quả từ các hoạt động thí điểm cần được tổng kết thành những tài liệu có thể sử dụng cho đối thoại chính sách và chia sẻ kinh nghiệm giữa các cơ sở GDNN và doanh nghiệp. Trong đó, cần làm rõ không chỉ những kết quả đạt được mà cả chi phí thực hiện, các khó khăn phát sinh, điều kiện bảo đảm thành công và những điều chỉnh cần thiết trước khi mở rộng.
Sản phẩm dự kiến: Các hội thảo và phiên đối thoại chuyên đề; bộ tài liệu hướng dẫn thực hành; các nghiên cứu trường hợp; báo cáo tổng kết thí điểm và tài liệu khuyến nghị chính sách dựa trên bằng chứng; các phiên trao đổi, phối hợp giữa các nhà tài trợ và đối tác phát triển quốc tế, cùng tài liệu tổng hợp những vấn đề chính sách ưu tiên và cơ hội hợp tác được các bên xác định.
Định hướng ưu tiên và lộ trình triển khai các khuyến nghị
Các khuyến nghị nêu trên cần được triển khai theo hướng có trọng tâm, phù hợp với chức năng, nguồn lực và thẩm quyền của từng chủ thể. Đối với Dự án, việc lựa chọn một số nghề, cơ sở GDNN và doanh nghiệp để thí điểm các giải pháp có tính liên kết sẽ phù hợp hơn so với triển khai đồng thời trên diện rộng. Định hướng ưu tiên và lộ trình dưới đây mang tính đề xuất, cần tiếp tục được cụ thể hóa trên cơ sở mục tiêu, kế hoạch và nguồn lực thực tế của dự án.
Xác định các hoạt động ưu tiên
Các hoạt động ưu tiên nên được lựa chọn dựa trên nhu cầu phát triển kỹ năng trong những lĩnh vực trọng tâm của dự án, khả năng huy động sự tham gia của doanh nghiệp và tiềm năng tạo ra những kết quả có thể kiểm chứng, nhân rộng. Trong đó, đề xuất:
Ưu tiên 1 – Phát triển chuẩn năng lực và cơ chế đối sánh: Lựa chọn một số nghề hoặc nhóm kỹ năng thuộc lĩnh vực năng lượng và công nghệ xanh để rà soát, cập nhật chuẩn năng lực và đối sánh với các CTĐT, chứng chỉ, chứng nhận hiện có. Phát huy vai trò của Hội đồng kỹ năng nghề và sự tham gia của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện.
Ưu tiên 2 – Thí điểm công nhận kết quả học tập và kỹ năng nghề đã tích lũy: Hỗ trợ một số cơ sở GDNN xây dựng, thử nghiệm quy trình công nhận đối với kết quả đào tạo tại doanh nghiệp, chứng nhận của nhà sản xuất và năng lực tích lũy qua kinh nghiệm làm việc.
Ưu tiên 3 – Phát triển các mô-đun đào tạo theo tiêu chuẩn quốc tế: Hỗ trợ phát triển những mô-đun ngắn hạn có khả năng tích lũy, chuyển đổi trong chương trình GDNN; ưu tiên các mô-đun có thể đối sánh với tiêu chuẩn quốc tế và nghiên cứu cơ hội được công nhận hoặc giảm yêu cầu đào tạo lặp lại, qua đó giảm chi phí tiếp cận chứng nhận cho người lao động.
Ưu tiên 4 – Thiết lập các điều kiện hỗ trợ triển khai: Phát triển mô hình hợp tác giữa cơ sở GDNN và doanh nghiệp trong đào tạo, đánh giá; thí điểm công cụ xác minh chứng chỉ; đồng thời tăng cường đối thoại chính sách, trao đổi kinh nghiệm với các đối tác quốc tế và tổng kết kết quả thực hiện.
Lộ trình triển khai
Các hoạt động thí điểm có thể được tổ chức theo ba giai đoạn có tính kế thừa, đồng thời cho phép triển khai song song những nội dung có đủ điều kiện. Lộ trình này cần được điều chỉnh theo thời gian và kế hoạch hoạt động chính thức của SSC Phase III.
Giai đoạn
Hoạt động trọng tâm
Kết quả dự kiến
Giai đoạn 1. Chuẩn bị và thiết kế thí điểm
Lựa chọn nghề, cơ sở GDNN và doanh nghiệp; huy động Hội đồng kỹ năng nghề; rà soát tiêu chuẩn hiện có; xác định nhu cầu kỹ năng và lựa chọn mô hình thí điểm
Danh mục nghề và đơn vị tham gia; kế hoạch thí điểm; ma trận chuẩn năng lực và nhu cầu kỹ năng
Giai đoạn 2. Phát triển và triển khai thí điểm
Xây dựng công cụ đối sánh và đánh giá; phát triển mô-đun đào tạo; thử nghiệm công nhận kết quả đã tích lũy; triển khai hợp tác trường – doanh nghiệp và xác minh chứng chỉ
Bộ công cụ và mô-đun đào tạo; các trường hợp thí điểm; dữ liệu theo dõi kết quả thực hiện
Giai đoạn 3. Đánh giá, hoàn thiện và chuyển giao
Đánh giá kết quả, chi phí và tính khả thi; điều chỉnh mô hình; xây dựng tài liệu hướng dẫn; trao đổi kết quả với các cơ quan quản lý và đối tác phát triển; đề xuất phương án duy trì, nhân rộng
Báo cáo đánh giá thí điểm; bộ tài liệu hướng dẫn hoàn thiện; khuyến nghị chính sách và phương án nhân rộng
Các hoạt động cần được thiết kế có tính liên kết, trong đó:
Chuẩn năng lực và kết quả đối sánh là cơ sở phục vụ thiết kế mô-đun đào tạo, xây dựng công cụ đánh giá và xem xét công nhận kết quả học tập đã tích lũy.
Hợp tác giữa cơ sở GDNN và doanh nghiệp được lồng ghép trong toàn bộ quá trình, từ xác định nhu cầu, phát triển chương trình đến đào tạo và đánh giá năng lực.
Công cụ ghi nhận, chia sẻ và xác minh kết quả được thử nghiệm trên chính các chương trình và mô hình thí điểm, tránh phát triển thành hệ thống riêng biệt.
Đối thoại chính sách và trao đổi giữa các đối tác phát triển được duy trì trong quá trình thực hiện, nhằm kịp thời chia sẻ kinh nghiệm, giải quyết vướng mắc và hỗ trợ hoàn thiện mô hình.
Điều kiện duy trì và nhân rộng kết quả
Việc nhân rộng các mô hình thí điểm cần dựa trên kết quả đánh giá thực tế, thay vì chỉ căn cứ vào việc hoàn thành các sản phẩm hoặc hoạt động theo kế hoạch. Một số điều kiện cần được chú trọng gồm:
Sự phù hợp với nhu cầu thị trường lao động: Các chuẩn năng lực, mô-đun đào tạo và chứng chỉ, chứng nhận được phát triển cần có nhu cầu sử dụng thực tế và được doanh nghiệp tham gia đánh giá, phản hồi.
Tính khả thi về tổ chức và tài chính: Xác định chi phí đầu tư, vận hành và duy trì; khả năng huy động nguồn lực từ cơ sở GDNN, doanh nghiệp và các bên liên quan sau khi dự án kết thúc.
Cơ chế quản trị và trách nhiệm: Làm rõ chủ thể tiếp nhận, quản lý và cập nhật sản phẩm thí điểm; phát huy vai trò của Hội đồng kỹ năng nghề trong kết nối nhu cầu doanh nghiệp và duy trì hoạt động chuyên môn.
Sự phù hợp về pháp lý và bảo đảm chất lượng: Các quy trình công nhận, chuyển đổi kết quả và cấp chứng chỉ phải phù hợp với thẩm quyền hiện hành; việc công nhận theo tiêu chuẩn quốc tế cần có sự chấp thuận của tổ chức có thẩm quyền tương ứng.
Khả năng đánh giá và nhân rộng: Xây dựng các tiêu chí theo dõi kết quả, bao gồm mức độ sử dụng của doanh nghiệp, số trường hợp được công nhận, khả năng giảm thời gian hoặc chi phí đào tạo lặp lại và điều kiện áp dụng tại các cơ sở khác.
Trên cơ sở kết quả thí điểm, Dự án có thể lựa chọn những mô hình chứng minh được giá trị sử dụng, tính khả thi và khả năng duy trì để đề xuất nhân rộng hoặc tích hợp vào các chương trình, cơ chế hiện có. Những vấn đề vượt quá phạm vi và thẩm quyền của dự án cần được tổng hợp thành khuyến nghị chính sách để Bộ GDĐT/Cục GDNN-GDTX và các bên liên quan tiếp tục xem xét.